1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Những kiến thức cơ bản về địa lý kinh tế các nước trên thế giới

774 2,7K 4
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những kiến thức cơ bản về địa lý kinh tế các nước trên thế giới
Chuyên ngành Geography
Thể loại Bài giảng
Định dạng
Số trang 774
Dung lượng 18,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

, Cùng với sự chấm dứt của các đế chế lớn châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ nhất, với việc giải phóng khỏi chế độ thực dân vào những năm 60 của các quốc gai thuộc địa, với việc giành

Trang 1

_ NHỮNG “44 td Hy

Trang 2

NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN

VỀ ĐỊA LÝ VÀ KINH TẾ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

NHÀ XUẤT BẢN GIAO THÔNG VẬN TẢI

Trang 3

NHÓM BIÊN SOẠN:

Phan Diệu Hương

Quốc Dũng

Mạnh Cường

Trang 4

ĐỊA LÍ KINH TẾ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Nhà nước là hình thái tổ chức kinh tế chính trị quen thuộc trên một lãnh thổ Từ nhiều thập kỷ nay, thế giới

đã được khao sat ti mỉ; trên thế giới không còn nơi nào

chưa được khám phá "Kỷ nguyên của một thế giới hoàn chỉnh đã bất đầu" (Paul Valery) Từ chân Nam

cực, những vùng đất nổi đều được chia thành nhiều

quốc gia lớn hay nhỏ, được giới hạn bởi các đường

biên giới do con người hoặc tự nhiên tạo ra ,

Cùng với sự chấm dứt của các đế chế lớn châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ nhất, với việc giải phóng khỏi chế độ thực dân vào những năm 60 của các quốc gai thuộc địa, với việc giành lại độc lập của các tiểu quốc vùng đảo và với những đảo lộn liên tiếp khi Liên

Xô tan rã, sự chia nhỏ địa chính trị trên thế giới đã tăng

lên Năm 1945, có 55 nước độc lập và có chủ quyền

Ngày nay con số này đã lên đến 191 quốc gia Giữa những quốc gia này có sự khác biệt lớn: làm sao so sánh được nước Nga rộng lớn, bao trùm 13% lãnh thổ thế giới, với nước Nauru nhỏ bé? 71.000 dân Sêychelle

3

Trang 5

có đáng gì so với 1,2 tỷ dân Trung Hoa? Nước Mauritanm, Bolivia có mật độ dân số đưới 10 người/km?

trong khi đó Bangladest có 800 người/km” Hơn 40

quéc gia (bao gém ca Vaticang, Saint - Marin va Andore) bị lọt giữa các nước có chung biên giới và bị

lệ thuộc vào các nước này vì quan hệ buôn bán

Nhiều nước mới nói chung đã bảo toàn được sự

bành trướng mà họ đã từng có bằng việc phân chia

hành chính (theo chế độ cộng hoà liên bang hoặc thuộc

địa) Vấn để dân tộc trong lòng các khu vực bị phân chia vẫn tồn tại Sự phân chia đôi khi được tiến hành một cách võ đoán Những vấn dé này vẫn nổi cộm, đôi

khi với bạo lực, khi giữa quốc gia và dân tộc có sự mất

cân đối lớn

CÁC QUỐC GIA LỤC ĐỊA VÀ CÁC NƯỚC

NHỎ

Sáu nước khổng lổ, mỗi nước chiếm 7.500.000

km?, đó là: Nga, Canada, Trung Quốc, Mĩ, Braxin và

Úc Toàn bộ những nước này chiếm hơn một nửa diện

tích phần đất nổi Lãnh thổ rộng lớn ấy đã mang lại cho những nước này nhiều lợi thế về kinh tế không thể phủ

4

Trang 6

nhận được Nguồn tài nguyên đất và trong lòng đất rất phong phú và đa dạng Ngược lại, nó cũng bao hàm những khó khăn trong việc vận tải và làm chủ không

gian Thường thì một phần lớn lãnh thổ của các quốc gia này không được khai thác, trừ các mỏ và khu vực ít dân cư Đó là trường hợp của các vùng Sibêri của Nga,

vùng núi của Mi, vùng tây Trung Quốc (Xương Giang, Tây Tạng), vùng Amazôn, cả những bình nguyên trong lòng Braxin và khu vực Trung và Tây Úc Mật độ dân

cư trung bình ở Úc là gần 2 người/kmˆ nhưng gần 70%

dân cư lại tập trung ở 5 thành phố lớn hàng triệu dân

(Sydney, Melbourne, Brisban, Adélaide va Perth) Việc xây dựng đường xuyên Sibêr!, đường xuyên

luc dia Bac MI, việc đưa vào sử dụng đường sắt và

đường bộ về các tỉnh ngoại vi của Trung Quốc, có tầm quan trọng chiến lược về kinh tế, khai thác và nguồn tài

nguyên, thông thương với các dân tộc thiểu số và các

vùng biên giới

Chín nước, chưa hẳn là những nước rộng nhất, có

trên 100 triệu dân, Những nước này chiếm trên 60% dân số toàn thế giới 1/5 đân số thế giới sống ở Trung

5

Trang 7

Quốc 12% đân châu Phi sống ở Nigiêria, người Braxin chiếm 1/3 dân Mĩ Latinh Không gian rộng lớn, nguồn nhân lực đồi dào là một trong những yếu tố cơ bản của sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia, tuy nhiên các nước đang phát triển với số dân trong độ tuổi lao động cao nhưng hiệu suất lao động thấp và luôn trong tình trạng thiếu việc làm luôn cảm thấy “bị bỏ rơi” so với các nước công nghiệp Trung Quốc (nước đông dân nhất)

xếp hàng thứ 9 trên thế giới về tổng thu nhập quốc dân

và đứng thứ l45 về tổng thu nhập quốc dân trên đầu

người Trong tương lai gần, Braxin sẽ đứng hàng thứ I0

về tổng sản phẩm quốc dân và thứ 70 về tổng sản phẩm

quốc dân trên đầu người

Một số nước đi lên từ điều kiện lịch sử vài trăm

năm như (Mônacô, Andorre, Leich Tenstein), một số

khác ra đời trong lần sóng giải phóng của những năm

sau chiến tranh (các nước Đông Nam A, Châu Phi) va

cuối cùng là một số nước giành độc lập trong những năm 70 - 80 (như một số quần đảo, các đảo thuộc Caribê và Thái Bình Dương) Tuy nhiên, các nước này

đóng vai trò không nhỏ và là mục tiêu hấp dẫn bởi chính sách thuế quan (chẳng hạn Bahamas), bởi nguồn

Trang 8

tài nguyên khoáng sản (phốt phát ở Nauru) và bởi vị trí chiến lược và sự hấp dẫn du lịch Tất cả những: nước này đều mong muốn được hưởng trọn vẹn nền độc lập

của mình; phần lớn những nước này đều gia nhập Liên

Hiệp Quốc và có tiếng nói trong Hội đồng

Sự khác biệt giữa các nước cũng liên quan tới cấu

trúc chính trị Một số nhà nước, thường được tổ chức

theo kiểu cũ, tập trung hoá quyền lực - một chính phủ duy nhất có trong tay mọi quyền lực trên toàn lãnh thổ

như Pháp, vương quốc Ánh Ở một số nước khác, chính quyền vùng đảm nhiệm các nhiệm vụ, tách khỏi

chính quyền trung ương Đó là trường hợp các nước

rộng lớn như Mĩ, Canada, Braxin, và một số nước nhỏ

hơn như Đức, Thuy sĩ

VAI TRÒ CỦA LỊCH SỬ

Châu Âu là lục địa bị chia cất nhiều nhất Không

nơi nào trên thế giới lại có nhiều quốc gia và các quốc gia lại nhỏ bé như vậy,

Nước Pháp là một ví dụ điển hình của những nước

mà tinh cảm dân tộc, được nhen nhóm qua nhiều thế

kỷ, hợp pháp hoá quyên lực của nhà nước Kể từ khi

7.

Trang 9

vua Hugues Capet được các Công khanh tôn lên vào

năm 987, lịch sử nước Pháp là lịch sử của một lãnh

chúa đấu tranh để mở rộng lãnh thổ, liên kết các tỉnh

lân cận, chiến thắng các thế lực li khai xuất hiện ở một vùng đất công tước nào đó và để đối kháng với những lãnh thổ khác đang hình thành cùng thời đó Vì vậy, xung quanh chính quyền tập trung quân chủ và trong

một không gian giới hạn bởi các đường biên thiêng liêng, đã ra đời các quốc gia dân tộc như Pháp, Anh, Tây Ban Nha, và Bồ Đào Nha Theo mô hình này,

phong trào dân tộc lan khắp châu Âu vào thế kỷ XIX:

Hy Lạp giành độc lập từ Thổ Nhĩ Kỳ (1830), người xứ

Wallonie và người Flammand liên kết chống lai dong

họ Orange - Nassau để lập ra nước Bỉ (1830), người

Italia thong nhất đất nước năm 1861 (bất đầu từ

Cavour) và Bismack tuyên bố đế chế Đức - đế chế

Reich thứ hai ở Versaille vào tháng giêng năm 1871 Sau đại chiến thế giới thứ nhất, các quốc gia dân

tộc tiếp tục được thành lập sau sự sụp đổ của các đế

chế trung Âu: Ba Lan, Séc - Slovakia va Nam Tu duge thành lập năm 1918 trong khi Hungari và Áo lại tách

ra Sự tan rã của Liên Xô và sự đồ bể của Nam Tư càng

Trang 10

thúc đẩy thêm sự chia cắt trên bản đồ chính trị châu Âu ( 1991 - 1992)

Phong trào dân tộc khởi nguồn từ châu Âu Phong trào này phản lại chính châu Âu sau thế chiến thứ II

Các đế chế thực dân sụp đổ, bất đầu từ châu Á với sự

chia cắt Ấn Độ - Pakistan (1947), việc giành độc lập

của Inđonêxia năm 1949 và các nước Việt Nam - Lào - Campuchia Nhưng chính châu Phi là nơi bị đảo lộn

sâu sắc nhất Nkruma giành độc lập từ Ghana vào năm

1957, Sékoutourê giành độc lập từ Ghinê (1958) Kể từ

đó, châu Phi được giải phóng chính trị, có khi được giải phóng từ mẫu quốc, có khi giành độc nhờ các cuộc

chiến tranh giải phóng Năm 1954, chỉ có 3 quốc gia

độc lập là Libêria, Ethiopia, va Ai Cap Ngay nay, sau khi Namibi giành độc lập (1990), sự nghiệp giải phóng toàn châu lục đã được hoàn tất

Công cuộc giành lại độc lập của các quốc gia này

là một sự kiện chính trị Các biên giới đã được ấn định bởi chính quốc ngày nay vạch ra đường biên giới cho các quốc gia mới, không kể ngôn ngữ, dân tộc hay lối

sống Đối với dân châu Phi, cuộc sống gắn bó với làng

9

Trang 11

mạc hơn là gắn bó với một nhà nước, sự thống nhất dân

tộc thật khó; sự hoà hợp đân tộc bị ngăn can bởi sự khác biệt về van hoá và dân tộc Vì thiếu cơ cấu nội tại,

quân đội luôn là lực lượng duy nhất có tổ chức Chế độ

quân sự cũng như các cuộc đảo chính của quân đội quá

nhiều Mặt khác, ngôn ngữ từ chính quốc - ngôn ngữ

tinh hoa - là chất kết dính các nên văn hoá thống nhất,

đó là điểu tự nhiên Bằng cách này hay cách khác, để

đoạn tuyệt với quá khứ thực đân và để trở lại với cội nguồn văn hoá dân tộc, mà nhiễu quốc gia đã đổi tên;

Dahômey thay cho Bềnin, Zaire thay chơ Côngô thuộc

Bỉ cũ, Buốckina thay cho Haut - Volta, Zimbawe thay

vi Rhodesie du Sud (nam Rhođzsie)

Cuốt cùng, đôi khi nhờ tôn giáo mà một số quốc

gia đã có được sự hoà hợp dân tọc Các khái niệm tôn

giáo và nhà nước gắn chặt với nhau Các nước cộng

hoà Hồi giáo (Pakistan, lran ) công nhận kinh Coran

như bộ luật dân sự Sự đồng hoá nề nước - quốc gia -

tôn giáo được đấy mạnh hơn trong các chế độ quân chủ

Hồi giáo tuyệt đối Trung Đông như (A Rập xê út, Kôwet) Nhà nước Israel, s55 dân số là dau Do thái, được thành lập năm 1948 trong bối cảnh tôn giáo và

Trang 12

chính trị thù địch, Đó chính là kết quả của phong trào

Xi - on Do Thái, phát triển vào cuối thế kỷ XIX Thực ˆ

ra, nhà nước là phi tôn giáo, nhưng sự hoà hợp của nhà - nước được thể hiện ở quyết tâm của nhân dân chống lại

sự áp bức của các quốc gia Hồi giáo lân bang

HIỆN TRẠNG THẾ GIỚI

Hơn 6 tỷ người phân bố trên 191 nước (và các thuộc địa nếu có), nam rải rác không đều trên 5 châu lục Trong hàng ngàn năm, mức tăng trưởng đân số rất

chậm, thì đến cuối thế ký XX, dân số tăng vọt lên

nhanh chóng (đặc biệt sau năm 1950) Năm 1840, thế

giới lần đầu tiên có l tỷ người Đến năm 193Q đã đạt

đến tỷ người thứ hai và trước những năm 80, dân số thế giới đã đạt đến con số 5 tỷ Đó chính là sự kiện trọng đại trong lịch sử thế giới

Sự tiến triển của loài người điễn ra đưới sự chênh lệch về nhiều mặt

- Chênh lệch về ngôn ngữ: Có khoảng 3000 thứ

tiếng được nói trên thế giới, trong dé tiéng Trung hon 1

tỷ người sử dụng, tiếng Anh 425 triệu, tiéng Hindi 404 triệu, tiếng Tây Ban Nha 300 triệu

11

Trang 13

- Chênh lệch về tôn giáo: 1,3 tỷ người theo Kitô

giáo, 900 triệu người Hồi giáo, 700 triệu người theo đạo Phật

- Chênh lệch về vùng văn hoá: Vùng văn hoá châu

Phi bao trùm toàn bộ châu Phi nam Sahara, vùng văn

hoá châu Âu trải rộng từ Bắc Mĩ cho tới Úc

- Chênh lệch giữa các nước công nghiệp phát triển

(thu nhập quốc dân trên đầu người hơn 10.000$/ nam)

và các nước chậm tiến (thu nhập quốc dân theo đầu

người dưới 300%/ năm)

Tuy nhiên, thế kỷ XX cũng là thế kỷ đi lại của con

người, thế kỷ của hàng hoá và tư tưởng Khái niệm

khoảng cách về thời gian và khoảng cách giá cả có ý

nghĩa hơn so với khái niệm khoảng cách tính bằng cây

số Mọi sự việc diễn ra như thể ngành vận tải đã rút

ngắn không gian lại: kể từ nay, không còn nơi nào trên

thế giới lại nằm ngoài sự phụ thuộc lẫn nhau của hệ thống toàn cầu”

THẾ GIỚI ĐƯỢC CHIA NHÓ

Khoảng 40 nước, chiếm 25% dân số thế giới và 80% sản lượng thế giới, là các nước như: MI, Canada,

Trang 14

các nước châu Âu, Nhật Bản, Úc, và Niu Diân Các

nước này ít nhiều cũng được ảnh hưởng bởi cuộc cách mạng công nghiệp và điểu kiện sống của người dân

đồng đều nhau: đô thị hoá kéo theo công nghiệp hoá trên phạm vi 60% dân số mà nhu cầu cuộc sống Ít nhiều cũng được thoả mãn và tỷ lệ tăng trưởng dân số

hiện nay đạt từ 0,8%, đã dần dần tụt xuống từ những

năm 1965 - 1970

Tuy nhiên, đồng nhất không có nghĩa là đơn nhất

Giữa các nước giàu hay những nước “miền Bắc” vẫn có

những sự khác biệt lớn Thu nhập quốc dan trên đầu

người (một khái niệm còn chưa đây đủ nhưng dễ sử

dụng) ở Thuy Sĩ cao gấp gần 18 lần ở Ba Lan Lực lượng làm nông nghiệp chỉ chiếm 3% dân lao động ở

Mi va Anh, nhưng ở Nga là 15%, Ba Lan 28%, va Tay

Ban Nha 11%

Phần còn lại của thế giới (các nước thuộc thế giới

thứ ba - các nước đang phát triển hay các nước “phía

Nam”) chiếm 3/4 dân số toàn thế giới, là nơi có sản

lượng và sức xuất thấp, thiếu lương thực và y tế, nơi bùng nổ dân số Tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên thường đạt

trên 2%/năm và có thể vượt lên 3% (ở Kenya,

13

Trang 15

Algiêri ) Phần lớn dân cư các nước này làm nông

ñghiệp và sống ở nông thôn

Thế giới thứ ba cũng khá đa dạng Khoảng cách thu

nhập cũng đáng kể, trừ những nước dầu mỏ Đài Loan

và Hàn Quốc có mức thu nhập đầu người cao hơn Ba

Lan, cao gấp 10 lần so với Campuchia và Êthiopia

Giữa các nước thuộc thế giới thứ ba, tình hình chính trị

và y tế cũng rất khác nhau, cũng như người ta thấy ở các nước này tỷ lệ chết cao nhất hành tỉnh (hơn 2% ở

Êthiopia, Sémani, Tchad, Gambie va @ Sierra - Leone),

thấp hơn một chút (ở Panama và Singapore 0,5%, ở

Braxin và Trung Quốc 0,8%) Các nước có nền kinh tế

tự do ở phương Tây theo nguyên tấc sáng kiến cá nhân, chạy theo lợi nhuận, tự do cạnh tranh và sở hữu cá nhân về tư liệu sản xuất (nhà máy, đất đai, tiền vốn) Các nước phương Đông áp dụng phương thức quản lý

xã hội chủ nghĩa, sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất, hệ thống kế hoạch Sau khi Liên Xô tan rã, theo gương nước Nga, các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ, phần

lớn tập trung trong Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG cũng như các nước trung - đông Âu dân dần hướng đến nền kinh tế tự đo

Trang 16

Một thế giới nhiều nguy cơ

Nạn đói vẫn diễn ra trong hầu hết các nước thuộc thế giới thứ ba, tiếp tục đe doạ phần lớn nhân loại Mỗi ngày mỗi người cần 2200 - 2500 calo Trong khi các nước “phương bắc” đạt gần 3000 calo/ ngày thì 500 triệu dân “phương Nam” thiếu lương thực triển miên

Xuất ăh trung bình ở Mali và Êthiopia đạt 1800 calo Nạn đói cũng ảnh hưởng tới khu vực Đông Nam Á, các cao nguyên và hầu hết châu Phi, với đính cao ở Bangladest, chau Phi Sahara, 6 Madagasca và Nordess

(Braxin) Từ đầu những năm 1960, sản lượng lương thực ở châu Phi không tiến kịp với mức tăng dân số,

Nạn thiếu lương thực lan rộng kéo theo hàng loạt những căn bệnh do thiếu định đưỡng Các khu vực này còn thiếu cả nước uống

Nguy cơ về môi trường sinh thái bất đầu xuất hiện

khi con người khai thác và chế biến nguồn tài nguyên

thiên nhiên Sa mạc tiến nhanh về Sahel là do hạn hán

tăng cường, tuy nhiên con người về phần mình cũng phải chịu trách nhiệm và là tác nhân chủ yếu của sự sa

mạc hoá Nạn cháy rừng khiến đất đai trở nên cằn cỗi

l5

Trang 17

ngày một nhiều, áp lực dân số và chăn thả súc vật quá

mức gây nên sự xuống cấp nghiêm trọng của hệ sinh

thái mỏng manh Trong vòng nửa thế kỷ, 650.000 km?

(lớn hơn cả diện tích nước Pháp) đất canh tác quanh sa mạc Sahara đã bị sa mạc hoá Ở Xuđăng, sa mạc đã tiến về phía nam hàng trăm kilômét Đất đai nghèo nàn

ở miễn trung phía tây và ở Kazacxtan bị vắt kiệt bởi việc trồng ngũ cốc vô tội vạ Rừng Amazôn, cung cấp

cho bầu khí quyển trái đất lượng ôxy lớn, bản thân nó

hiện giờ cũng bị đe doạ Mỗi năm có khoảng 125.000km” rừng trên thế giới bị mất đi do khai phá

đất hoang bừa bãi hoặc do ô nhiễm (những trận mưa axit xuống rừng ở Đức) Lượng khí cácbonníc trong

khí quyển đang tăng làm nhiệt độ không khí, đặc biệt

trong những khu đô thị

Những mạch nước ngầm ở các vùng nông nghiệp

có hàm lượng nitơ quá cao Báo cáo Meadow năm

1972 nhấn mạnh tới sự kiệt quệ của nguồn nước địa

tầng

Chạy đua vũ trang và quân sự hoá thế giới còn là mối nguy cơ cấp bách hơn Trên toàn thế giới, chỉ phí

Trang 18

cho quân sự vượt trên 1000 tỷ $Š (ngang với số nợ của các nước trong thế giới thứ ba) tương đương mức chỉ

phí 200$ trên đầu người mỗi năm Khoảng 50 nước

trên thế giới hiện nay có vũ khí nguyên tử Kết thúc

chiến tranh lạnh đã có hàng loạt các hiệp định về giải

từ vũ khí hạt nhân (Hiệp định Start II và Hiệp ước

Paris năm 1993 về vũ khí hoá học) Sự phát triển vũ khí

hạt nhân là nguồn gốc chính của mọi nỗi Ìo

Từ thế giới hai cực đến thế giới đa cực

Cả Mĩ và Liên Xô đêu tham gia vào cuộc chiến

chống đế quốc Reich đệ tam của Đức, nhưng vừa giành

được thắng lợi thì sự bất đồng về tư tưởng, chính trị và

kinh tế lại lên đến đỉnh cao giữa “Đông” và “Tây” Sự phân chia nước Đức thành hai khối Đông - Tây tượng

trưng cho sự chia cắt châu Âu qua “bức màn sắt” và sự chia cắt thế giới Mỗi khối có tổ chức riêng

Trải qua nhiều năm, tình hình này cũng có nhiều

thăng trầm trước khi chấm dứt, với sự sụp đổ của Liên

Xô cũ De Gaulle phản đối giới lãnh đạo Mĩ, phủ nhận quyên bá chủ của đồng đôla và rút quân Pháp ra khỏi

khối NATO (1966) Về phần các nước thuộc thế giới

17

Trang 19

thứ ba, giành độc lập trong thập kỷ 60, họ noi theo

Băngdung - thành phố thịnh vượng bậc nhất của

Inđônêxia (1960), và ít nhất trong điễn thuyết, cố gắng

tổ chức theo khuynh hướng “không liên kết”, đồng thời

phản đối tổ chức hai khối Hơn nữa, những nước làm

mô hình đã đánh mất đi quyền uy của minh: Mi chịu

thất bại ở Cuba, Việt Nam và Trung Đông

Trên phương diện kinh tế, hai cường quốc đối địch

đã có sự can thiệp của các nước trung gian mới Nhật

Bản đã trở thành “cường quốc thứ 3” vào năm 1970

Vừa mới trải qua khủng hoảng, thế mà Nhật Bản đạt tỷ

lệ tăng trưởng vượt cả những nước công nghiệp Cộng

đồng châu Âu mở rộng ra 12 nước, đã trở thành cường

quốc kinh tế số một thế giới trong hoàn cảnh hội nhập

thành công Sự vươn lên của các cou rồng châu Á như

Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và của các nước công nghiệp mới khác đang làm xáo trộn các

con bài Mĩ - Nhật và cộng đồng châu Âu trở thành những cường quốc kinh tế

Sự bùng nổ của các nước thuộc thế giới thứ ba, đa đạng hơn bao giờ hết, những sự kiện ở Trung Quốc (1989), sự ngoi lên của phong trào bảo thủ Hồi giáo, sự

Trang 20

tiến tới - đôi khi bị kịch - của Đông Âu, chiến tranh vùng Vịnh (1991) và căng thẳng kéo dài giữa các nước Trung Đông khiến ta phải xem xét lại sự cân bằng trong thế giới đa cực này

BẢY CƯỜNG QUỐC

Từ năm 1975 đến nay, hàng năm các vị nguyên thủ

quốc gia của các nước “giàu nhất thế giới” lại nhóm

hop dé bàn việc đồng thể hoá chính sách kinh tế của

họ, trước hết là để đối phó với cuộc khủng hoảng xuất

phát từ sau năm 70 làm chao đảo thế giới

Bảy cường quốc hay khối G7 gồm: MI, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Italia, và Canada, có tổng thu nhập quốc dân cao nhất thế giới Các nước này đã áp dụng

nền kinh tế tự do, một số nơi còn mang màu sắc kinh tế

nhà nước (Pháp, ItaHa), đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế xã hội từ năm 1970 Về mặt chính trị, tất cả các nước này đều theo chế độ nghị viện với chính sách đa đảng Xen kẽ, đó là quy tắc, (kể cả khi nền dân chủ Cơ đốc giáo ở Italia tham gia tất cả các liên minh chính phủ từ năm 1945 và Đảng Tự do dân chủ của Nhật luôn chiếm đa số áp đảo trong các cuộc bầu cử Quốc hội từ

19

Trang 21

1955 - 1993 kể từ năm này Đảng này không còn chiếm

đa số nữa)

Các nước theo chế độ tổng thống (Pháp, Mĩ), Quân

chủ nghị viện (Nhật, Anh) hoặc cộng hoà nghị viện

(Đức, Ý) Các nước công nghiệp lâu đời (Anh, Pháp), cường quốc kinh tế (Mỹ) hay các nước “kinh tế thần

kỳ” (Đức, Nhật), trên trường quốc tế, đều là các nước

giàu và phát triển (bao gồm cả nước nhỏ trong khu vực) Sức nặng toàn cầu của G7

Nhiều chỉ số kinh tế xã hội cho phép đánh gid cao vai trò vượt trội của G7 trên vũ đài quốc tế

Tổng thu nhập quốc dân của bảy nước lớn này tương đương với 55% tổng sản lượng thế giới và thu

nhập quốc dân theo đầu người luôn vượt mức 17000$

mỗi năm

Mức tiêu thụ năng lượng của một nước là phương

tiện chỉ ra mức độ phát triên công nghiệp của nước ấy: mức tiêu thụ năng lượng được tính theo đầu người cũng

chỉ ra mức độ tiện nghỉ, Bảy nước công nghiệp phát

triển nhất thế giới tiêu thụ trên 40% năng lượng toàn

Trang 22

thế giới (riêng Mĩ gần 25%), nhưng nếu tính theo đầu người thì Canada là nước tiêu thụ hàng đầu, gần gấp 4 lần người Italia

Các thị trường chứng khoán của mỗi nước trong bảy nước này chiếm vị trí chủ chốt trong tư bản thế giới Tư bản hoá chứng khoán, diễn ra tại các điểm

giao địch ở Tôkyô (vào thời điểm đó, đây là sở giao dịch chứng khoán đầu tiên trên thế giới tư bản hoá vì

sự thăng giáng của đồng Yên), NewYork, Luân Đôn, Tôronto, Francfort, Paris và Milan, chiếm tổng số 88%

tư bản thế giới

Sự thôn tính của bẩy nước lớn đối với tư bản thế giới bất đầu sau khi xem xét các doanh nghiệp công nghiệp lớn (phần lớn là các công ty đa quốc gia dóng trên khắp năm châu) Trong số 25 doanh nghiệp hàng đầu thế giới, có mười doanh nghiệp của Mĩ, bốn của Nhật Bản, ba của Đức, ba của Italia, một của Pháp, và

ba của Anh

Sự phân bố theo ngành của dân lao động đặc trưng bởi việc giảm số lao động trong ngành nông nghiệp và tăng lên ở ngành dịch vụ Những ngành yếu kém nhất

21

Trang 23

(đối với vấn đề việc làm) tập trung ở Anh (2,5%) và Mĩ

(3%) Đây là đấu hiệu về năng suất nông nghiệp đạt kỷ

lục

Ngược lại, ngành dịch vụ luôn chiếm hơn nửa số

dân lao động (78% ở Mĩ và Canada), minh chứng cho

sự thâm nhập của các nước này vào kỷ nguyên mà người ta cho là hậu công nghiệp

Ngành luyện kim không còn là ngành có chỉ tiêu

bắt buộc đối với sức mạnh công nghiệp Canada là nước duy nhất trong số bảy cường quốc sản xuất nhiều

thép hơn trong năm 1992 so với năm 1974, trước khi bị

khủng hoảng Ở đâu cũng thế, sự sa thải luôn kéo theo

việc cơ cấu lại Hiện nay Nhật là nước sản xuất số một

thế giới, Pháp chịu tụt so với Braxin, Hàn Quốc và Ấn

Độ Với sự phục hồi vừa qua, G7 đảm bảo đạt 40% sản lượng thế giới Tập đoàn số một của Mĩ (USX, trước đây là ỦUS steel) giờ chỉ còn đứng thứ 3 trên thế giới

Trái lại, sự thống lĩnh của G7 vẫn không thể phủ

nhận được nhờ các ngành công nghiệp công nghệ cao hướng vào khách hàng có thu nhập cao Bảy nước này chiếm 7 trong số 8 nước đứng đầu thế giới trong công

Trang 24

nghiệp ô tô và đám bảo 78% sản lượng ô tô trên thế

giới, trong đó một nửa được sản xuất ra chỉ riêng ở Mĩ

và Nhật (trước xa so với Pháp, Italia) Các nước này có

17 trong 20 hãng sản xuất ô tô hàng đầu thế giới Chỉ

có Vôlvô và Saab - Scônia (Thuy Điển) và Hyundai (Hàn Quốc) đã vươn lên xếp trong hàng ngũ này

Sự thống lĩnh còn rõ nét hơn trong các ngành công nghiệp mũi nhọn như tin học và điện tử

Các nước trong tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

châu Âu O.C.D.E độc quyền 70% thương mại toàn cầu, trong đó 60% thuộc về bộ ba Mĩ - Nhật - Cộng đồng E.U Trên bình diện quốc gia, bảy cường quốc này

chiếm bẩy vị trí số một và đảm bảo 55% xuất khẩu và 51% nhập khẩu trên toàn thế giới

Các cường quốc và dưới cường quốc

Là nước có tổng sản phẩm quốc dân đứng đầu thế

giới và xa hơn nữa (là một trong những nước có thu nhập theo đầu người cao nhất thế giới), MI, kéo theo

sau nền kinh tế Canada, đã tìm lại con đường phát triển kinh tế; tăng trưởng từ 2 - 4%/năm Là quốc gia hàng đầu về sản xuất nông - công nghiệp, Mĩ đồng thời cũng

23

Trang 25

là tay buôn số một thế giới Nhập khẩu của Mĩ tăng dều đặn trong khi xuất khẩu có phần giảm do sự thăng giáng của đồng đô la, sự ra đời của các đối thủ cạnh

tranh mới, và sự giảm sút sức cạnh tranh trong công nghiệp

Ta hiểu rõ sự thâm hụt thương mại của Mỹ lên đến

đỉnh cao (106 tỷ đô ia) các luật bảo hộ cũng như sự khó khăn trong đàm phán thương mại với các đối tác

của Mỹ ở châu Âu và Nhật Bản

Nhật đã trở thành siêu cường kính tế thứ hai trên thế giới Tư bản tăng nhờ thặng dư thương mại và tích luỹ trong nước lớn (do ít đầu tư cho phúc lợi :ã hội) khiến Nhật trở thành một trong những nước giàu nhất thế giới Thị trường chứng khoán Tôkyôê có lúc đánh bật thị trường chứng khoán New York; các ngân hàng của Nhật Bản chiếm 7 trong số 8 ngân hàng đứng đầu thế giới Sự giàu có của đất nước vừa là hậu quả, vừa là nguyên nhân của sự mất cân đối đối với nền kinh tế thế giới Nó giải thích cho việc áp dụng các chính sách bảo

hộ của Mĩ và Cộng đồng châu Âu Điều này khiến các nhà công nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Bắc Mĩ (sản xuất

Trang 26

ôtô) và vào châu Âu (sản xuất hàng điện tử và ôtô) để

tránh những quy định trong chính sách bảo hộ của họ Đức chiếm một số ưu thế tại châu Âu (về mặt kinh

tế) Lạm phát ít, đồng tiền ổn định và thế mạnh trên thị trường nước ngoài là yếu điểm của một đất nước mà

vấn dé chủ yếu không gì khác là trật tự dân số Sự suy

thoái diễn ra trong thời gian ngắn liên tiếp với việc sát

nhập nền kinh tế Đông Đức có khả năng bị tiêu tan

Pháp có tổng thu nhập quốc dân đứng thứ 5 trên thế

giới Thế mạnh nông nghiệp, xuất khẩu nông sản (đứng thứ 2 trên thế giới), thành tựu trong công nghiệp công nghệ cao khẳng định vị trí của Pháp trong khối G7 Nhưng sức cạnh tranh yếu của nền công nghiệp Pháp

có nguy cơ ngăn cản sự mở cửa hiện nay ra thị trường lớn châu Âu

Sau nhiều năm trì trệ, sản lượng của Anh đã tăng mạnh và có sức trưởng nhanh nhất trong các nước công nghiệp (trừ Nhật Bản) từ năm 1980 Thành công trong

tự hữu hoá, việc xoá bỏ các doanh nghiệp yếu kém đã

giúp Anh tăng năng suất

25

Trang 27

Italia trở thành cường quốc kinh tế thứ 5 trên thế giới Tổng sản phẩm quốc dân của Italia vượt Anh Tuy nhiên, những thành tựu đó vẫn chưa san lấp được hố ngăn cách giữa miền bắc công nghiệp và miền nam vùng Mezz Ogiorno

Nhóm các nước công nghiệp phát triển G7 và

nghèo để phát triển kinh tế là thể hiện sự giàu có của

các nước đó với giá trị tuyệt đối Mĩ và Nhật là hai chủ

nợ chính với lần lượt là 9 và 7,5 tỷ $, đứng trước cả Pháp và Đức Nhưng trong khi phần của Mĩ có khuynh hướng giảm, thì phần của Nhật lại tăng đều đặn và có

thể đứng đầu thế giới về viện trợ Về tỷ lệ phần trăm

thu nhập quốc đân, vị trÍ của các nước giàu nhất thế

giới không cao lắm, Các nước Scandinavơ và Hà Lan

giành từ 0,8 - 1% tổng thu nhập quốc dân cho hỗ trợ để

Trang 28

phát triển Tiếp đến là Pháp (0,5% G.D.P), cho tới nay

nước này đảm nhiệm 8% việc trợ giúp trên thế giới

Đức giành 0,4% tổng sản phẩm quốc dân cho trợ giúp;

Ý 0,37%, những con số này đang tăng dần Anh trợ

giúp 0,3% G.D.P va Canada 0,5% Về phía Mĩ, nước

cho vay và trợ giúp số một thế giới với giá trị cao, nước

này dành 0,2% tổng sản phẩm quốc dân cho trợ giúp

để phát triển, Dự tính con số này sẽ lên đến 1%, con số

mà Đại hội đồng Liên Hợp quốc và Uỷ ban hợp tác và

phát triển Liên Hợp Quốc mong đợi Khối G7 cũng không phải là người bác ái (nhất là vào lúc khủng

hoảng) Hội nghị thượng đỉnh thường niên của các nguyên thủ quốc gia khối G7, trên lý thuyết, cũng là địp để làm hài hoà các chính sách của họ đối với thế

giới thứ ba, nêu lên lợi ích đối với thế giới thứ ba

Vấn dé nợ của thế giới thứ ba được nêu ra trong

suốt hội nghị thượng đỉnh Luân Đôn (1986) và là trung tam của các cuộc luận đàm Vấn đề này lại được khơi

lên ở các hội nghị thượng đỉnh tiếp theo Trong những

năm 80, Pháp luôn dé xuất ý kiến giảm nợ cho nước

ngoài Sau hội nghị thượng đỉnh Paris (1989) đã dấy lên một phong trào theo hướng này, trong đó, Mêhicô

27

Trang 29

(một trong hai nước nặng nợ của Braxin) là nước được

hưởng lợi

Các nước phát triển và các nước đang phát

triển

Việc phân chia thế giới thành những nước phát

triển và nước đang phát triển cũng là một vấn đề của thế giới đương đại Khoảng 75% trong số 5,6 tỷ người

đang sống trong các nước kém phát triển; khoảng 120

nước phân bố trên châu Mĩ latinh (trừ Achentina) khắp

lục địa châu Phi và châu Á (trừ Nhập) Người ta đã bắt

đầu bàn về các nước chậm phát triển từ sau năm 1945,

khi tổng thống Mĩ Truman biểu quyết tán thành trợ

giúp cho những nước nghèo nhất thế giới Chính A Sauvy là người sáng tạo ra thành ngữ “thế giới thứ ba”

năm 1952 nhằm ám chỉ cuốn sách của Sieyes “nhà

nước thứ ba là gì” (1789) Thế giới thứ ba bị lãng quên,

bị miệt thị, bản thân nó cũng hằng mong ước điều gì

đó Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế châu Âu kể từ

năm 1957 đôi khi nhầm lẫn gọi đó là “các nước đang phát triển”,

Trang 30

Người ta cũng nói tới các nước “phía nam” Có thể

dẫn ra trường hợp một phần các quốc gia thuộc Liên

Xô cũ (kế cả Nam Tư), nhưng thiếu giải pháp và các vấn dé không giống nhau Thực vậy, các nước “phía nam”, đặc trưng bởi thiếu lương thực và dịch vụ y tế, giáo dục và bởi mức tăng dân số đến chóng mặt, bởi

những mâu thuẫn xã hội điển hình và hoàn cảnh lệ

thuộc thương mại - rào cản chính Tuy nhiên một số

nước vẫn phát triển, số khác thì trì trệ thậm chí tụt hậu

Khái niệm tổng thu nhập quốc nội tính theo đầu người cho phếp ta phân biệt những nước công nghiệp mới, những nước có thu nhập trung bình, những nước chậm

tiến, còn các nước xuất khẩu đầu mô ta xét riêng

Những nước công nghiệp mới

Những “quốc gia phân xưởng” thuộc Đông Á, người ta còn gọi là “4 con rồng Viễn Đông”, đó là: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Hồng Kông, là

tượng trưng tuyệt vời cho các nước công nghiệp mới Với nguồn nhân lực đồi dào, nhân công rẻ, các nước này đã thu hút đầu tư nước ngoài, trước hết là Mi, sau

đó là châu Âu và Nhật Bản vì ở đây chính trị ổn định,

chính sách thuế quan ưu đãi Các khu chế xuất, năm trong quyền lãnh ngoại, đã tiếp nhận các nền công

nghiệp có giá trị gia tăng cao, sử dụng hàng chục ngàn

công nhân Sản phẩm công nghiệp được xuất khẩu rộng

rãi Bốn nước kể trên chiếm 60% lượng xuất khẩu công

29

Trang 31

nghiệp của thế giới thứ ba Trước tiên chuyên về công nghiệp dệt và lắp ráp điện tử, sau này các nước này đã

đa dạng hoá nền sản xuất của họ và giờ đây đã có một

gam công nghiệp trọn vẹn, Hàn Quốc sản xuất nhiều thép hơn cả Pháp, và trở thành nước đóng tàu thứ hai

sau Nhật, Tổng sản phẩm quốc nội theo đầu người của

bốn nước này đã tăng dân, 60008 ở Hàn Quốc va 13000$ & Singapore

Các nước hang hai trong số các nước công nghiệp mới này bao g6m những nước rộng lớn hơn có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú như (Braxin) hoặc

năng lượng như Mêhicô Nền công nghiệp của những nước này, phần lớn bị kiểm soát bởi tư bản nước ngoài,

chủ yếu hoạt động nhằm xuất khẩu, vào giai đoạn hai,

để huy động ngoại tệ cần thiết cho quá trình công nghiệp hoá hoàn toàn Trong khi chờ đợi, các nước này

là những nước nợ nhiều nhất Thu nhập đầu người đạt

gần 30009/năm

Các nước có thu nhập trung bình

Các nước có thu nhập trung bình rất phân tán về

mặt địa lý Các nước này thuộc châu Phi (các nước

Maghreb, quanh vịnh Ghiné ), chau Mi Ja tinh, quan

đảo Antilles và châu Á Tổng số khoảng 50 nước đó

Trang 32

tạo nên một tập thể thiếu trật tự nhất Trong số đó có một số nước xuất khẩu dầu mỏ, thuộc các nước Algiêr, Nigiêria, Gabông và các nước không thuộc khối xuất

khẩu dâu mỏ (O.P.E.C) như Ai Cập, Syrie Các nước

này được hưởng lợi nhiều với nguồn ngoại tệ liên tiếp

dé về trong hai cú sốc dầu mỏ, nhưng lại phải hứng

chịu hậu quả từ năm 1985 khi giá dầu thô tụt xuống làm chững lại quá trình công nghiệp hoá Một số nước

khác xuất khấu sản phẩm khai mỏ: Pêrou xuất khẩu vàng, bạc, đồng, Chilê xuất khẩu đồng, Zaire xuất khẩu -

đồng, vàng, kim cương Còn lại một số nước nhằm vào

xuất khẩu nông sản để đầu tư cho phát triển: Sénégal xuất khẩu lạc, bông: Kênya xuất khẩu chè, cà phê; và Côlômbia xuất khẩu cà phê

Một số nước ưu tiên phát triển công nghiệp Chẳng

hạn Algiêri đựa vào sức mạnh của nền kinh tế quốc doanh đã chọn chiến lược công nghiệp “công nghiệp hoá” sẽ kéo theo sự đa dạng hoá của ngành công nghiệp chế biến Nhưng thất bại có tính tương đối của

“nhà thờ trên sa mạc” (nhà máy luyện kim EI Hadjar,

nhà máy hoá đầu Arziw và Skida) và sự phụ thuộc quá

nhiều vào việc bán hydrôcácbua đã buộc các nhà chức

31

Trang 33

trách phải xem xét lại chiến lược phát triển của mình

Một số nước ưu tiên phát triển nông nghiệp, Côte - Dˆ'Wvoire không có tài nguyên khoáng sản đáng ké dé khai thác, đã phát triển các cây trồng xuất khẩu, cacao,

cà phê, dầu cọ, tới giai đoạn 2 mở rộng canh tác nông

nghiệp dựa trên cơ chế tự cung cấp lương thực, sắn,

ngôn, lúa Tất cả các nước có mức thu nhập trung bình này có chung sự yếu kém trong quá trình phát triển, bỡ

ngỡ trước sự thăng giáng của giá cả toàn cầu mà họ

không làm chủ được Các nước dầu mỏ ở Trung đông lại chiếm một vị trí riêng trong thế giới các nước thứ 3

Đó là A Rập xê út, Kô oét, các tiểu vương quốc Arập

thống nhất, Barein, và các vương quốc Hồi giáo Oman Lybi cũng được xếp trong các nước này Các nước này

đều thuộc về thế giới A Rập hồi giáo, là thành viên của

O.P.EP và ít dân, có hơn một nửa trữ lượng dầu mỏ

trên thế giới và nằm trong số các nước giàu nhất thế

giới với thu nhập quốc nội theo đầu người ở các nấc

660$ (Libi), hơn 20.000USD (Các tiểu vương quéc A

Rập thống nhất)

Những nước này đứng đầu về tài sản sau hai cú sốc dầu mỏ Họ có thể lao vào các công trình vĩ đại, được

Trang 34

đặt hàng đầu cho phương Tây, tổ hợp luyện kim, nhà

máy hoá dầu, phân bón, lọc nước biểu, lắp ráp ô tô Họ

đã phải huy động đến nguồn nhân lực nước ngoài, đến

từ các nước A Rập láng giểng đông dân (như Ai cập)

hoặc từ nam A (Pakistan, An Do, tham chí từ

Philippines và Triều Tiên) Thặng dư tư bản cũng cho

phép các nước này đóng cổ đông ở các doanh nghiệp châu Âu, chuẩn bị cho kỷ nguyên hậu dầu mỏ Giá dầu

thô vẫn hạ trong suốt thời kỳ tăng trưởng, do các biện

pháp hạn chế và tiết kiệm của các nước tiêu thụ cũng

như sự bất đồng giữa các nước xuất khẩu Việc chống

sốc đầu mỏ làm đình trệ các hoạt động đầu tư, những người nhập cư đã rút lui

Tuy các nước này giàu có, nhưng vẫn thuộc về thế

giới thứ ba; sự gia tăng dân số vượt quá 2%/năm, tỷ lệ

chết của trẻ sơ sinh cao hơn các nước châu Âu từ 3 đến

4 lần và nhất là những mâu thuẫn xã hội vẫn còn quá

nhiều, khiến cho tổng thu nhập quốc nội theo đầu

người dẫu cao song vẫn không giải quyết được những vấn đề đặt ra

Các nước kém phát triển nhất

33

Trang 35

Các nước nghèo nhất được Liên Hợp Quốc gọi một cách kín đáo là “các nước kém phát triển nhất” Sự

sống còn của những nước này phụ thuộc chủ yếu vào

sự đoàn kết quốc tế

Năm 1971, Liên Hợp Quốc đã đưa ra ba chỉ tiêu để xác định những nước kém phát triển nhất: tổng thu

nhập quốc dân trên đầu người dưới 100$/nam, san

lượng công nghiệp chiếm dưới 10% tổng sản phẩm

quốc nội và tỷ lệ mù chữ chiếm trên 80% dân số ở độ

tuổi trưởng thành Có 35 nước được chính thức công nhận ở trong tình trạng này, nghĩa là có khoảng 30

triệu đân phải chịu thiếu thốn ở mức cao nhất Haiti là

nước duy nhất ở châu Mĩ lâm vào tình trạng này, 24

quốc gia ở Châu Phi, 9 ở châu Á và I ở châu Đại

Dương (tây Samoa) Vị trí địa lý của các nước này

không đều nhau: 15 nước không có đường thông ra biển, 4 nước lại là các tiểu đảo quốc

Tất cả những quốc gia này không phải là hoàn toàn

không có nguồn tài nguyên: Băngladest có nguồn dự

trữ gas tự nhiên, Botswana có than; Lào có sắt và thiếc, Nigiêria và Tchađd có uranium; cộng hoà Trung Phi có kim cương Lượng xuất khẩu của các nước này vẫn chỉ

Trang 36

giới hạn ở sản phẩm thô Cà phê chiếm 95% nguồn thu

từ xuất khẩu của Burundi, 70% xuất khẩu của Êthiopie,

40% nguồn thu xuất khẩu của Ouganda; uranium

chiếm 80% lượng tiền hàng bán được của Niger, bông

chiếm 90% nguồn thu ban hang ca Tchad

Mức tiêu thụ năng lượng theo đầu người ở đây thấp hơn 10 lần so với toàn bộ các nước trên thế giới thứ ba

và thấp hơn 100 lần so với Tây Âu Nợ nước ngoài khá

thấp (người ta chỉ cho người giàu vay tiền)

Tình hình tiêu thụ lương thực nhìn chung đáng lo ngại, Mỗi người dân Malis tiêu thụ dưới 1800 calo mỗi ngày Bị chao đảo bởi những sự kiện chính trị bên

ngoài, Haiti, Xudang, va Ethiopie là những nước đói

nghèo Tất cả các nước này đều phụ thuộc vào sự trợ giúp của nước ngoài vì sự sống còn, quả thật là các

nước vẫn còn “kém phát triển"

CHAU AU

Châu Âu là một trong 5 khu vực địa lý của thế giới

và không ngừng biến đổi hình đáng của nó Được mô

tả như một bán đảo tận cùng của châu Á, châu Âu có

những giới hạn rõ nét ở phía bắc (biển Arctique), ở

35

Trang 37

phía tây (Đại Tây Dương), ở phía nam (Biển Địa Trung

Hải), và hiện nay ở phía Đông (biển Oural) Châu Âu

xếp hàng thứ tư về diện tích(10.5 triệu km?) sau châu

Á, châu Phi và châu Mĩ Địa hình của châu Âu được tổ chức thành 4 vùng từ bắc đến nam: các khối núi già

được trẻ hoá và bị bào mòn bởi băng hà từ Scandinavơ

đến các Anh quốc; những đồng bằng màu mỡ, từ Bauce đến Nga; các khối núi già tầng hercynien có núi lửa và các hố sập; các dãy núi trẻ được xếp theo hình vòng

cung (Alpes và Carpates) và viền quanh bờ biển Địa

Trung Hải Châu Âu có một gam khí hậu ôn hoà rất

rộng với một mùa hè khô và ẩm ảnh hưởng của địa

dương đối với châu Âu rất rõ nét Bởi đây đó trên châu

lục, những lát cắt của nó bị khoết sâu và được nhiều biển và đại dương tưới tắm Khí hậu vùng cực ở phía bắc, khí hậu lục địa ở vùng trung tâm, khí hậu Địa

Trung Hải ở phía nam Châu Âu từ lâu đã có đông dân

sinh sống và khai thác vùng này Từ nhiều thiên niên

kỷ, châu Âu là cái nôi của các hoạt động đặc biệt của con người (sự khai hoang, hoạt động nông nghiệp mạnh mẽ, các khám phá lớn sự đi trú và khai thác

thuộc địa của các dân tộc) Dân số châu Âu xếp hàng

Trang 38

thứ hai trên thế giới (sau châu Á), nhưng vì tỷ lệ sinh

thấp, chỉ vào khoảng từ I đến 1,5% trừ Ai Len - vị trí

này sẽ được thay thế bởi châu Mỹ hoặc châu Phi Tuy nhiên, sự tập trung dân cư ở châu Âu vẫn lớn nhất trên thế giới, (bằng châu Á nếu không tính vùng Siberi) Dẫu người ta nhận thấy có sự không đồng đều rất lớn

trong các nguồn tài nguyên và trình độ phát triển, châu

Âu vẫn thuộc về thế giới phát triển Do có một nên

nông nghiệp có năng suất đặc biệt cao, nông đân ở

châu Âu dần ít đi Lượng công nhân ở các ngành công nghiệp cũng dần giảm đi vì các việc làm ở khu vực thứ

ba và dịch vụ Nhưng vấn đề nan giải nhất là ty lệ thất nghiệp ngày càng tăng dưới áp lực của những món nợ

khổng lồ được mang lại nhờ công nghệ mới có năng suất cao và một nền kinh tế toàn cầu hoá đang trong

Trang 39

người/km” ở Italia và Bỉ hay 360 người/km ở Hà Lan

Điều kiện tự nhiên của châu Âu rất thuận lợi cho sự phát triển các hoạt động của con người, điều đó đồng thời cũng giải thích sự tập trung con người và những di

chuyển của họ (di trú, xâm nhập) và thuận lợi cho sự ra

đời và bùng nổ của một nền văn minh lâu đời và một

nền văn hoá với khát vọng toàn cầu Với sự xuất hiện

của cách mạng công nghiệp trên đúng mảnh đất của

nó, châu Âu đã làm cho mô hình kinh tế tư bản hưng

thịnh trong hai thể kỷ

Hơn bất cứ châu lục nào khác, không gian nơi đây

là những cánh đồng, những vùng đất cày, và những

đồng cỏ các thành phố và những hoạt động công

nghiệp cũng được tập trung ở đó và trao đổi, buôn bán

cũng như sự thịnh vượng Chiều đài các bờ biển châu

Âu vượt trội chiều dài các bờ biển châu Mi và 3/4 các

nước châu Âu có đường thông ra biển Điều này không

chỉ mang lại nhiều nguồn lợi: đánh cá, hydrôcacbua,

du lịch, mà nó còn cho phép thực hiện những trao đổi

thương mại theo đường biển, điểu mà tất cả các nền

kinh tế châu Âu đều phụ thuộc

Trang 40

Nền văn minh Hy Lạp và La Mã - vừa phát triển

trên đất liền vừa theo đường biển - đã bừng nở dọc theo

bờ biển Địa Trung Hải Những người Viking - những

người thiện chiến nhất, và người Baltơ - người buôn bán giỏi nhất cũng đóng các con tàu lớn, đi đầu trong thương mại hội phường, trong khi đó những người muốn đi chỉnh phục vùng đất mới lại đến các bờ biển Italia, Tay Ban Nha va Bé Dao Nha Sau này các thuy thủ người Hà Lan, Anh, Pháp góp phần tạo nên sức mạnh của châu Âu

Ta có thể gợi nhớ lại thời kỳ cực thịnh của châu Âu

vào các thế kỷ XVIII, XIX, với sự củng cố và thiết lập các đế chế thực dân rộng lớn (trừ châu Mi latinh) Anh, Pháp, Bỉ cũng như Bồ Đào Nha tạo nên những ràng buộc và những mối phụ thuộc lớn ở châu Phi, châu Á (nơi mà người Hà Lan cũng đã chiếm đóng) Tuy nhiên, Mĩ đã tiến lên mạnh mẽ, chiến tranh thế giới II đánh dấu thời kỳ suy tàn của châu Âu, một châu Âu đổ nát sau chiến tranh và đã đến lúc châu lục này phải trao trả độc lập cho những nước thuộc địa cũ

Biên giới và quốc gia

39

Ngày đăng: 18/03/2014, 09:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w