Nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự được hiểu là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự Tìm hiểu nguyên tắc suy đoán vô tội trong Dự thảo Bộ[.]
Trang 1Tìm hiểu nguyên tắc suy đoán vô tội trong Dự thảo Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam (sửa đổi)
Nhật Vũ
Nguyên tắc suy đoán vô tội là một điểm mới, được quy định trong Dự thảo
Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam “Suy đoán vô tội” là sự thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc tôn trọng các giá trị cao quý của con người trong xã hội, một người có đủ tư cách công dân với các quyền, nghĩa vụ do Hiến pháp và pháp luật quy định, khi người đó chưa bị Tòa án (cơ quan có thẩm quyền xét xử) kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật Có thể nói “suy đoán vô tội” cũng là một quyền cơ bản của công dân đó là quyền được coi là vô tội Vì vậy, việc bổ sung nguyên tắc này vào Dự thảo Bộ luật nhằm đảm bảo quyền công dân, quyền con người được quy định trong Hiến pháp và để loại trừ, ngăn ngừa sự tùy tiện, lộng quyền, áp đặt hay vi phạm pháp luật từ phía cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Suy đoán vô tội hay giả định vô tội, là một trong những nguyên tắc cơ bản, được ứng dụng rộng rãi trong nền khoa học pháp lý hiện đại Thuật ngữ “suy đoán
vô tội” chưa được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam sử dụng và ghi nhận chính thức Tuy nhiên, trên thế giới, trên cơ sở những tư tưởng tiến bộ được quy định trong Điều 11 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 “Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ” và Điều
14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc “Người bị buộc tội là phạm một tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật ” Pháp luật Tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới đã thừa nhận nguyên tắc suy đoán vô tội, như một trong những nguyên tắc của tố tụng hình sự của quốc gia mình
Pháp luật nước ta tuy chưa sử dụng thuật ngữ “Nguyên tắc suy đoán vô tội” nhưng đã thừa nhận tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội như một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988
và Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định nguyên tắc này, cụ thể: Tại
Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 quy định “Không ai có thể bị coi là có tội
và phải chịu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”; Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Không ai bị coi là có tội
và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” Đồng thời, tại Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận
nguyên tắc này, cụ thể tại Điều 72 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001 đã quy
định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đó có hiệu lực pháp luật Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh” Tại Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định “ Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”
Trang 2Nội dung của nguyên tắc “suy đoán vô tội” được quy định Dự thảo Bộ luật
Tố tụng Hình sự (sửa đổi) có những nội dung cơ bản sau:
- Thứ nhất: Một người chỉ có thể bị coi là có tội khi có bản án kết tội của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Nghĩa là không ai có thể bị coi là có tội khi tội phạm do họ thực hiện chưa được chứng minh theo đúng các quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự hiện hành và chưa được xác định bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
- Thứ hai: Các cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát có trách nhiệm chứng
minh tội phạm; bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Như vậy, đồng nghĩa với việc tại phiên toà bị cáo có quyền im lặng tức là không có nghĩa vụ phải trả lời các câu hỏi của hội đồng xét xử Để xác định một người là người phạm tội, trên cơ sở đó truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình
sự, các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được người đó là người thực hiện hành vi bị Bộ luật Hình sự hiện hành coi là tội phạm Nếu không chứng minh được một người đã thực hiện tội phạm thì không thể kết tội người đó
- Thứ ba: Các cơ quan tiến hành tố tụng buộc tội phải dựa trên chứng cứ
xác thực, bản cáo trạng của Viện Kiểm sát và bản án kết tội của Tòa án phải dựa trên các chứng cứ khẳng định chắc chắn về lỗi của người bị buộc tội trong việc thực hiện tội phạm
- Thứ tư: Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi sự buộc tội phải dựa trên
những chứng cứ xác thực không còn nghi ngờ Mọi sự nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo đều phải được kiểm tra, chứng minh làm rõ Nếu không chứng minh làm rõ được sự nghi ngờ thì sự nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo phải được giải thích theo hướng có lợi cho họ
Việc bổ sung “suy đoán vô tội” là một trong những nguyên tắc cơ bản của Dự thảo Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam (sửa đổi) có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động tố tụng hình sự, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Nguyên tắc suy đoán vô tội giúp cho quá trình điều tra, thu thập
chứng cứ chứng minh phạm tội khách quan, trung thực và tránh tình trạng áp đặt có tội của các cơ quan tiến hành tố tụng và oan sai Thực tế đã chứng minh không phải lúc nào và ở đâu đánh giá của cơ quan tố tụng cũng đúng, vì vậy quá trình đi tìm
sự thật khách quan của vụ án, người tiến hành tố tụng phải thu thập cả chứng cứ buộc tội lẫn gỡ tội chứ không phải chỉ tìm chứng cứ buộc tội, xem nhẹ và bỏ qua chứng cứ gỡ tội Khi không đủ bằng chứng hoặc không chứng minh được hành vi phạm tội thì phải suy đoán theo hướng ngược lại
Thứ hai: Nguyên tắc suy đoán vô tội bảo vệ quyền của người bị tình nghi, bị
can, bị cáo, đem đến sự cân bằng trong hoạt động tố tụng hình sự giữa một bên là các cơ quan tiến hành tố tụng và một bên là người bị tình nghi, bị can, bị cáo
Thứ ba: Nguyên tắc suy đoán vô tội nhằm khắc phục sự định kiến của các
cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đối với người bị tình nghi, người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo đồng thời còn tạo điều kiện để những người này thực hiện quyền bào chữa của mình
Trang 3Thứ tư:Nguyên tắc suy đoán vô tội nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, nâng cao chất lượng của quá trình điều tra, truy tố và xét
xử, bảo đảm bản án được xét xử trung thực, khách quan, minh bạch
Thứ năm: Bổ sung nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 đã thể chế hóa nội dung của Điều 31 Hiến pháp 2013, góp phần đưa Hiến pháp năm 2013 đi vào thực tiễn cuộc sống và bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân
Có thể nhận định rằng, nguyên tắc suy đoán vô tội ghi nhận một tư tưởng pháp lý tiến bộ trong quá trình lập pháp của nước ta Nguyên tắc này bảo vệ chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự và lợi ích của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự Ngoài ra, nguyên tắc suy đoán vô tội cũng đặt ra yêu cầu cao hơn cho những người tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm, họ không thể làm sai mà vẫn áp đặt ý chí chủ quan của mình để kết tội nghi can Hơn nữa, nguyên tắc này đảm bảo tính pháp chế trong Bộ luật Tố tụng hình sự, là nhân tố phát triển tính đúng đắn của lĩnh vực tố tụng hình sự
Nguyễn Nhật Vũ
Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật Sở Tư pháp
Số Điện thoại: 0965581777
Số Tài khoản: 53110000257189
Số CMND: 194155895 Tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Quảng Bình