+ Cổ phiếu thường: là một loại chứng khoán vốn, không có kỳ hạn, tồn tại cùng với sự tồn tại của công ty, cổ tức được trả vào cuối năm để quyết toán.. Quyền lợi Là một trong những người
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế , phù hợp với các điều kiệnkinh tế, chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, ViệtNam đã quyết định thành lập thị trường chứng khoán với những đặc thù riêngbiệt trên cơ sở tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình chứng khoántrên thế giới Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh đấubằng việc đưa vào vận hành trung tâm giao dịch chứng khoán tại Thành phố HồChí Minh và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Đến ngày8/3/2005 thị trường chứng khoán Hà Nội chính thức khai trương hoạt động, đánhđấu một bước phát triển mới của thị trường chứng khoán Việt Nam
Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương MạiThế Giới trong năm qua đã đưa ra cơ hội lớn cho Việt Nam, taọ ra nhiều điềukiện thuận lợi để phát triển thị trương chứng khoán Tuy nhiên bên cạnh đó, ViệtNam cũng gặp nhiều khó khăn và đặt ra nhiều yêu cầu và thách thức mới , đòihỏi chúng ta phải thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ và hiệu quả cao hơn nữa.Muốn vậy chúng ta phải từng bước xây dựng và phát triển đồng bộ các loại thịtrường trong đó có thị trường vốn mà nổi bật là thị trường cổ phiếu
Thị trường cổ phiếu là một bộ phận cơ bản của thị trường chứng khoán,hoạt động của thị trường này diễn ra khá sôi nổi và nhạy cảm, phụ thuộc vào kếtquả sản xuất kinh doanh của công ty Với những chức năng, vai trò quan trọngcủa thị trường cổ phiếu trong việc góp phần phát triển kinh tế thì việc phát triểnthị trường cổ phiếu ở Việt Nam hiện nay là thực sự cần thiết, có thể nói là nhucầu thiết yếu giúp chúng ta hội nhập nhanh chóng và tiến kịp với trình độ của cácnước trên thế giới
Xuất phát từ thực trạng thị trường cổ phiếu Việt Nam hiện nay Chúng tôichọn đề tài “ Thị trường cổ phiếu” để nghiên cứu và hiểu rõ hơn về thực trạng thịtrường cổ phiếu Việt Nam hiện nay, sự quan trọng của thị trường cổ phiếu đốivới nền kinh tế, phân tích những thành tựu đạt được cùng những tồn tại yếu kém
Từ đó đề ra những giải pháp góp phần phát triển thị trường chứng khoán ViệtNam hiện nay
1
Trang 2Chương 1: Cơ sở lý luận về cổ phiều
1.Cổ phiếu:
1.1 khái niệm
Cổ phiếu là giấy chứng nhận cổ phần, nó xác định quyền sở hữu của cổ đông,đối với công ty cổ phần người mua cổ phiếu thường là trở thành cổ đông thường hay cổ đông phổ thông Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường là một trong những chủ doanh nghiệp nên là người trực tiếp thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh cũng như chịu mọi rủi ro trong kinh doanh
Theo Luật Chứng khoán Viện Nam:” Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổchức phát hành”
1.2 Phân loại: Cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường có nhiều loại
- Căn cứ vào hình thức, cổ phiếu có hai loại: cổ phiếu vô danh và cổ phiếu đích danh
Lúc mới ra đời cổ phiếu tồn tại dưới dạng cổ phiếu ký danh có tên người sở hữu
nó, sau này khi thị trường cổ phiếu phát triển loại cổ phiếu ký danh gây trở ngại cho việc lưu thông và chuyển nhượng cổ phiếu Do đó, loại cổ phiếu không ghi danh người sở hữu ra đời và ngày càng phát triển
- Căn cứ vào quyền lợi được hưởng, cổ phiếu gồm hai loại phổ biến là cổ phiếu
ưu đãi và cổ phiếu thừơng
+ Cổ phiếu thường: là một loại chứng khoán vốn, không có kỳ hạn, tồn tại cùng với sự tồn tại của công ty, cổ tức được trả vào cuối năm để quyết toán Vì vậy, cổđông mua loại cổ phiếu này rất quan tâm đến hoạt động của công ty và họ thường
là những người đứung trong ban quản trị chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của công ty Trên thị trường giá của loại cổ phiếu thường biến động nhiều hơn sovới cổ phiếu ưu đãi
+ Cổ phiếu ưu đãi có mức cổ tức cố định và được ghi rõ trên cổ phiếu lúc phát hành Với cổ phiếu này mức cổ tức không phụ thuộc vào chính sách chia lãi hàngnăm của công ty
♥ Ưu đãi về cổ tức cố định
♥ Ưu đãi hoàn lại vốn
♥ Ưu đãi về quyền biểu quyết
- Căn cứ vào phương thức góp vốn:
+ Cổ phiếu hiện kim: dành cho những cổ đông góp vốn bằng tiền
+ Cổ phiếu hiện vật: dành cho những cổ đông góp vốn bằng tài sản như nhàxưởng, máy móc, thiết bị…
- Căn cứ vào quyền tham gia vào bỏ phiếu:
+ Cổ phiếu đơn phiếu
+ Cổ phiếu đa phiếu
Trang 31.3 Đặc điểm
- Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn do đó không có kỳ hạn và không hoàn vốn
- Cổ tức của cổ phiếu thường tùy thuộc vào kết quả kinh doang của doanh
nghiệp, do đó không cố định Khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt cổ đông cũng được hưởng lợi nhuận cao hơn nhiều so với loại chứng khoán khác có lãi xuất cố định Nhưng ngược lại cổ tức có thể rất thấp hoặc hoàn roàn không có khi công
1.4 Điều kiện phát hành
- Là công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành
cổ phiếu tối thiểu 5 tỷ VND
- Hoạt động kinh doanh năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán
- Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ phiếu
1.5 Quyền lợi và nghĩa vụ của cổ đông thường
a Trách nhiệm
Cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường của công ty cổ phần đại chúng chịu trách nhiệm hữu hạn theo phần vốn góp của mình trên 2 mặt:
- Thứ nhất, phần vốn góp xem như góp vĩnh viễn không được rút lại Lúc cần
lấy lại vốn, họ có quyền sở hữu cổ phần trên thị trường bằng cách bán cổ phiếu cho nhà đầu tư khác
- Thứ hai, trách nhiệm của cổ đông đối với việc làm ăn thua lỗ hay tình trạng phásản của công ty chỉ giới hạn trên phần vốn góp trên cổ phiếu Nếu công ty làm ănkhông hiệu quả xem như họ mất phần vốn đã bỏ ra để mua cổ phiếu
b Quyền lợi
Là một trong những người chủ công ty, những cổ đông có những quyền lợi sau:
- Quyền có thu nhập: cổ đông thường được hưởng phần lợi nhuận tương ứng với
số cổ phiếu gọi là cổ tức từ kết quả có lãi của hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
3
Trang 4- Quyền được chia tài sản thanh lý: trong trường hợp rủi ro, công ty bị giải thể,
cổ đông cũng được chia phần những giá trị tài sản khi thanh lý, nhưng là người cuối cùng được hưởng giá trị tài sản còn lại khi thanh lý
- Quyền bỏ phiếu: cổ đông có quyền bỏ phiếu bầu và ứng cử vào các chức vụ quản lý trong công ty, có quyền tham gia các đại hội cổ đông và bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của công ty
- Quyền mua cổ phiếu mới: khi công ty phát hành một đợt cổ phiếu mới để tăng vốn, các cổ đông hiện đang nắm giữ cổ phiếu phổ thông có quyền được mua trước cổ phiếu mới, trước khi đợt phát hành được chao bán ra công chúng, trong một thời hạn nhất định
1.6 Các loại cổ phiếu thường
Phần lớn cổ phiếu của các công ty cổ phần là cổ phiếu thường với những đặc điểm trên, nhưng đôi khi công ty cũng phát hành những loại cổ phiếu thường khác, với những đặc điểm riêng từ sự khác biệt liên quan đến quyền bầu cử hay quyền được hưởng cổ tức
+ Cổ phiếu thường loại “A”: là loại cổ phiếu phát hành ra công chúng và được hưởng cổ tức nhưng không có quyền bầu cử Do đó loại cổ phiếu này có giá thấp hơn loại cổ phiếu thường được bỏ phiếu
+ Cổ phiếu thường loại “B”: thường được gọi là cổ phiếu sáng lập viên, có quyềnbầu cử, nhưng chỉ được hưởng cổ tức khi khả năng sinh lợi của công ty đã đến một giai đoạn tăng trưởng nhất định
+ Cổ phiếu thường gộp lãi: người cầm loại cổ phiếu này không đươc nhận cổ tức bằng tiền mặt mà sẽ được nhận cổ tức bằng một số cổ phiếu- có giá trị tương đương- mới phát hành mà không phải bỏ thêm vốn
Ngoài ra, tùy theo đặc điểm của công ty mà còn những loại cổ phiếu thường khác:
Cổ phiếu thượng hạng
Cổ phiếu tăng trưởng
Cổ phiếu thu nhập
Cổ phiếu chu kỳ
Cổ phiếu theo mùa
Công ty tăng trưởng và cổ phiếu tăng trưởng
Công ty thận trọng và cổ phiếu thận trọng
Công ty chu kỳ và cổ phiếu chu kỳ
Công ty đầu cơ và cổ phiếu đầu cơ
2 Thị trường cổ phiếu
2.1 Khái niệm
- Thị trường cổ phiếu là một bộ phận cở bản của thị trường chứng khoán Vì cổ phiếu là loại chứng khoán có lãi suất thường phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty do đó những nhân tố có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp
Trang 5đến tình hình hoạt động của công ty như khủng hoảng giá dầu, giá USD, đình công, lạm phát, thất nghiệp, chiến tranh đều ảnh hưởng đến giá cả của thị trường
cổ phiếu
- Thị trường chứng khoán là hình thức vận động điển hình của thị trường vốn vớikhối lượng giao dịch và sức thu hút mạnh mẽ đối với các nhà đầu tư, thị trường này luôn giữ vị trí chủ yếu trong kết cấu của thị trường vốn các nước
2.2 Phân loại
Căn cứ vào cơ cấu tổ chức thị trường chứng khoán bao gồm:
- Thị trường sơ cấp: là nơi mua bán các loại chứng khoán chưa phát hành Thị trường sơ cấp tạo điều kiện tăng quy mô vốn đầu tư và là nơi cung ứng chứng khoán vào lưu thông
- Thị trường thứ cấp: là nơi chuyển nhượng quyền sở hữu các loại chứng khoán
đã phát hành và đang lưu thông trên thị trường Thị trường thứ cấp không làm thay đổi quy mô vốn đầu tư trong nền kinh tế Thị trường thứ cấp thường được tổchức theo hai cách đó là thị trường tập trung và thị trường phi tập trung
+ Thị trường tập trung là nơi mà các hoạt động giao dịch được thực hiện tại các sở giao dịch, chứng khoán được mua bán tại đây thỏa mãn các điều kiện được niêm yết, hay các loại hàng hóa được đưa vào thị trường tập trung pahỉ nằmtrong danh mục thị trường như thị giao dịch lúa mì, cà phê, sữa bò…
+ Thị trường phi tập trung được thực hiện ở mọi nơi, việc mua bán được thông qua đường dây viễn thông hoặc hệ thông máy tính, tại đây thực hiện
phương thức mua bán thẳng cho những ai chấp nhận giá được đưa ra nên còn được gọi là thị trường trao tay
2.3 Chức năng của thị trường chứng khoán:
1 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi cảu họ được đưa vào sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất
xã hội
2 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hộilựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn cho loại hànghóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của chính mình Chính vì vậy, TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia
5
Trang 63 Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
Các dự báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh
tế tăng trưởng; Và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tếvà
là công cụ quan trọng để chính phủ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô
2.4 Vai trò của TTCK
1 Tạo tính thanh khoản cho các chứng khóan.
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn TTCK hoạt động càng năng động và hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các của các chứng khoán giao dịch trên thị trường
2 Đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp.
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh mộtcách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của cácdoanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra được môi
trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu qủa sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm
Sự biến đổi không ngừng giá của giá cổ phiếu, nhà đầu tư có thể đánh gia doanh nghiệp một cách khách quan và khoa học tại bất kỳ thời điểm nào
Ngoài ra, đối với các công ty niêm yết, nghĩa vụ công khai thông tin trên TTCKGiúp các nhà đầu tư, các nhà quản trị thị trường có thể đánh giá sự tăng trưởng
ổn định hay suy thoái bất ổn định của các công ty
3 Hỗ trợ và thúc đẩy các công ty cổ phần ra đời và phát triển.
TTCK hỗ trợ chương trình cổ phần hóa cũng như việc thành lập và phát triển củacác công ty cổ phần qua việc quảng bá thông tin, định giá doanh nghiệp, bảo lãnhphát hành, phân phối chứng khoán một cách nhanh chóng, tạo tính thanh khoản cho chúng và như thế hút các nhà đấu tư đến góp vốn vào công ty cổ phần
4 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
TTCK không những thu hút vốn đầu tư nội địa mà còn giúp Chính phủ hoặc doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu công ty ra thị trường vốn quốc tế để thu hút thêm ngoại tệ
Trang 7Chương 2: Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam
Sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi , ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký Nghị định số 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK chính thức khai sinh cho Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời
Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch Chứngkhoán đặt tại TP.HCM và Hà Nội Việc chuẩn bị cho TTCKVN thực ra đã do UỷBan Chứng khoán Việt Nam ra đời bằng Nghị định 75/CP ngày 28-11-1996 Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM) được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11-7-1998 và chính thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000
Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội đã chính thức chào đời vào ngày 8/3/2005 Khác với TTGDCK TP.HCM (vốn là nơi niêm yết và giao dịch chứng khoán của các công ty lớn), TTGDCK Hà Nội sẽ là “sân chơi” cho các DN nhỏ và vừa (với vốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷ đồng)
VN - Index là ký hiệu của chỉ số chứng khoán Việt Nam VN - Index xây dựng căn cứ vào giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu được niêm yết Với hệ thống chỉ số này, nhà đầu tư có thể đánh giá và phân tích thị trường một cách tổng quát
Chỉ số VN -Index so sánh giá trị thị trường hiện hành với giá trị thị trường cơ
sở vào ngày gốc 28-7-2000, khi thị trường chứng khoán chính thức đi vào hoạt động
Giá trị thị trường cơ sở trong công thức tính chỉ số được điều chỉnh trong các trường hợp như niêm yết mới, huỷ niêm yết và các trường hợp có thay đổi về vốnniêm yết
2.1 Năm 2011: thị trường chứng khoán rơi vào vòng xóay suy giảm trầm trọng
Năm 2011, chính sách tiền tệ thắt chặt được triệt để thực thi nhằm đối phó với
sự bùng phát của lạm phát Dưới tác động của việc thực thi chính sách tiền tệ này, TTCK- lĩnh vực được xem là phi sản xuất- đi vào vòng xoáy suy giảm trầm trọng cả về điểm số lẫn thanh khoản TTCK VN trở thành một trong những thị trường có mức suy giảm mạnh nhất trong khu vực kết thúc năm 2011,
VNINDEX còn 351,55 điểm và HNINDEX còn 58,74 điểm, giảm lần lượt 27,5%
và 48,6% so với cuối năm 2010
7
Trang 8Những giai đoạn chính của TTCK năm 2011
Xu hướng chủ đạo của năm 2011 là giảm điểm, với hai đợt giảm mạnh nhất diễn ra vào 5/2011 và ba tháng cuối năm
Giai đoạn 1: năm tháng đầu năm.
Thị trường bám sát và phản ứng khá mạnh với những biến động của nền kinh
tế vĩ mô và các trạng thái chính sách tiền tệ các sóng giảm diễn ra trong giai đoạn này đánh dấu biến động khắc nghiệt của nền kinh tế vĩ mô như tỉ giá bất ngờ bị điều chỉnh tăng mạnh, lạm phát bùng phát dẫn đến sự ra đời của nghị quyết 11 về thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, đặc biệt với lĩnh vực phi sản xuất Nghị quyết 11, trong đó ra hạn mức cụ thể cho tăng trưởng tín dụng ở các lĩnh vực phi sản xuất, là nút thắt cản trở dòng tiền chảy vào thị trường chứng khoán Thị trường trải qua đợt suy giảm mạnh và nhanh nhất vào tháng 5/2011 khi thời hạn đưa tỉ trọng tín dụng phi sản xuất về dưới 22% gần kề, buộc các NHTM tiến hành thu nợ chứng khoán dẫn đến làn sóng bán giải chấp mạnh Chỉ trong 5 tháng đầu năm VNINDEX giảm 20% và HNINDEX giảm 40% so với cuối năm 2010
Trang 9Giai đoạn 2: Sóng giảm nhẹ trong ba tháng tiếp theo do thiếu vắng thông tin
Sau khi giảm mạnh và lập đáy vào ngày 25/5, thị trường có một tuần phục hồikhá tôt sau đó Đợt phục hồi này chủ yếu mang tính kĩ thuật khi giá cổ phiếu đã giảm xuống mức thấp nhất sau hơn 1 năm Sau tuần phục hồi này, các chỉ số liên tục đi vào kênh giảm điểm với mức độ nhẹ hơn do vắng bóng thông tin hỗ trợ và trong bối cảnh rủi ro lạm phát đang khá cao và hiện tượng vượt trần lãi suất diễn
tố như sự xuất hiện của các vụ đổ vỡ tín dụng đen, khó khăn dẫn đến yêu cầu tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán, mối quan hệ quan ngại
về khả năng thoái vốn của NĐT ngọai và quan trọng hơn là sự suy giảm lòng tin của NĐT Đà suy giảm của thị trường theo đó vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt khikết thúc năm 2011 mặc dù hai chỉ số đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 5/2009
9
Trang 10Thanh khoản suy giảm trầm trọng năm 2011
Triển vọng kinh tế 2011 khó khăn đã được nhận thức từ đầu năm Ngoài ra, diễn biến kinh tế thê giới khó khăn đang là động lực thuận lợi cho giá vàng và kì vọng vào khả năng sinh lợi ở kênh đầu tư ngọai tệ còn lớn đã làm giảm đáng kể sức hấp dẫn của chứng khoán Cùng với đó là chính sách tiền tệ thắt chặt càng góp phần bóp nghẹt dòng vốn dành cho kênh đầu tư này thanh khoản trên TTCK
đã đi vào giai đoạn suy kiệt Năm 2011, tổng giá trị khớp lệnh bình quân của mộtphiên trên cả hai sàn chỉ đạt xấp xỉ 1.126 tỉ đồng, giảm 50% so với mức bình quân của năm 2010 trái với họat động giao dịch trên sàn , họat động mua bán sáp nhập tỏ ra khá sôi động trong năm này, giao dịch thỏa thuận trên sàn HSX tăng khoản 30% chủ yếu do chuyển nhượng ở nhóm cổ phiếu Bluechips, nổi bật
Trang 11này bán ra khá nhiều bluechips Cụ thể, các cổ phiếu bị bán ròng mạnh nhất là STB, với 69 triệu cổ phiếu tương đương 1.017 tỉ đồng tiếp đến là VIC 17,6 triệu
cổ phiếu tương đương 1.819 tỉ đồng, HAG (-9,9 triệu cp), PPC(-8,2 triệu cp), SAM(-7,6 triệu cổ phiếu)…
Trái với giao dịch hạn chế trên sàn niêm yết, nhà đầu tư nước ngoài tỏ ra khá tích cực đối với các thương vụ M&A trên thị trường việt nam Theo Vneconomy,giá trị giao dịch trên M&A của nhà đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 81,3% tổng giá trị giao dịch M&A năm 2011, tương đương khoảng 2,17 tỉ USD Các thương
vụ nổi bật là Pokphand trung quốc vào CTCP chăn nuôi Cp Việt Nam; IFC của CTG; Mizuho vào VCB; Diageo vào Halico; Vimpelcom vào BeeLine;
Unicharm mua Diana…
Tác động từ các quỹ đầu tư chỉ số
Các quỹ đầu tư chỉ số nước ngòai bắt đầu thực hiện đầu tư tại thị trường việt nam từ cuối năm 2010 và đã có tác động không nhỏ đến biến động các mã trụ cột
và là nguyên nhân gây ra hiện tượng “xanh vỏ đỏ lòng” thường thấy trên sàn HSX Sang năm 2011, trái với bức tranh ảm đạm chung của toàn thị trường, một
số cổ phiếu vẫn lội ngược dòng khá tốt khi có thông tin được đưa vào rổ tính chỉ
số sau mỗi đợt soát xét lại danh mục của các quỹ đầu tư chỉ số này điển hình trong nhóm này là một số cổ phiếu như BVH, VIC, PNJ và IJC
Khó khăn bộc lộ nhóm công ty chứng khoán và yêu cầu cần thiết cần tái cấu trúc
Thực trạng thực tế năm 2011 khó khăn là vấn đề đã được nhận thức từ trước
đó, do đó, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết không phải là yếu
tố nhà đầu tư mong đợi năm 2011, diễn biến thị trường hầu như không bị tác động nhiều bởi tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp này Thay vào đó, vấn
đề nợ xấu của ngành ngân hàng và vấn đề thanh khoản của các công ty chứng khoán được quan tâm hơn cả
11
Trang 12Trong bối cảnh nền kinh tế khan hiếm tín dụng, dòng tiền dành cho TTCK cũng đột ngột bị cắt giảm mạnh Thêm vào đó, thị trường suy giảm và thanh khoản suy yếu đã tác động lớn đến kết quả kinh doanh của nhóm công ty chứng khoán thống kê số lượng của 24 công ty chứng khoán đã niêm yết và có báo cáo kết quả kinh doanh đầy đủ trong 4 năm gần nhất cho thấy doanh thu trong năm
2011 của nhóm công ty này đã giảm 30% so với năm 2010 trong khi đó, lợi nhuận sau thuế 3 liên tiếp từ mức gần 3000 tỉ đồng của năm 2009 xuống mức lỗ ước tính khoang 750 tỉ đồng vào năm 2011 nhiều công ty âm cả và vốn chủ sở hữu
Diễn biến của các ngành
Cùng với sự suy giảm của các chỉ số thị trường, hầu hết các ngành giảm mạnhtrong năm 2011 ngành hàng tiêu dùng là nhóm ngành duy nhất sinh lợi trong năm này, với mức tăng khoảng 6% Hai ngành khác có tỷ suất sinh lợi giảm nhẹ hơn so với VNInex là công nghệ (-26%) và Y tế (-17%) Sáu nhóm ngành còn lạiđều có mức giảm mạnh hơn VNInex, trong đó các ngành viễn thông, dịch vụ tiêudùng, nguyên liệu cơ bản, công nghiệp là những nhóm ngành giảm mạnh nhất, với mức giảm xấp xỉ 40% đến 70% Do là nhóm ngành tập trung khá nhiều cổ phiếu trụ cột nên nhóm ngành tài chính giảm không khá mạnh so với VNIndex mức sụt giảm trong năm 2011 của ngành này 29%
Trang 142.2 Giai đoạn 2012: 6 tháng đầu năm
a Tình hình thị trường chứng khoán 6 tháng đầu năm 2012
488,07 là mốc điểm cao nhất mà VN-Index đạt được trong 6 tháng đầu năm 2012(xác lập ngày 8/5/2012) 336,73 là mốc điểm thấp nhất mà VN-Index đạt được trong 6 tháng đầu năm (xác lập ngày 6/1/2012) Như vậy, VN-Index từng có thời điểm đạt mức tăng trưởng tới 44,94%
Trang 15
83,79 là mốc điểm cao nhất mà HNX-Index đạt được trong 6 tháng đầu năm
2012 (xác lập ngày 7/5/2012) 55,27 là mốc điểm thấp nhất mà HNX-Index đạt được trong 6 tháng đầu năm 2012 (xác lập ngày 9/1/2012) Như vậy, HNX-Index
đã có mức tăng trưởng tới 51,60% Tuy nhiên, nếu tính từ đỉnh thị trường tháng 5/2012, hiện tại cả hai chỉ số đã sụt giảm khoảng 15% giá trị
15
Trang 16Trên sàn UPCoM, chỉ số UPCoM-Index trong 6 tháng đầu năm 2012 xác lập mức đỉnh cao nhất là 36,49 điểm (ngày 25/5), mức thấp nhất là 33,31 điểm (ngày13/1) Như vậy, chỉ số UPCoM-Index chỉ có mức tăng trưởng 9,55% So với mứcđỉnh đã thiết lập trong nửa đầu năm, hiện UPCoM-Index cũng chỉ giảm chưa đầy1% giá trị.