1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TIỂU LUẬN môn LỊCH sử âm NHẠC VIỆT NAM đề tài âm NHẠC VIỆT NAM dưới TRIỀU lý

13 17 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Âm Nhạc Việt Nam Dưới Triều Lý
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Sài Gòn
Chuyên ngành Lịch sử âm nhạc Việt Nam
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 302,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN KHOA NGHỆ THUẬT TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ ÂM NHẠC VIỆT NAM Đề tài ÂM NHẠC VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU LÝ Họ và tên sinh viên Võ Lê Hồng Phúc Mã số sinh viên 3120160016 Nhóm 2 Lớp DNH1201 Kh.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN KHOA NGHỆ THUẬT

TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ ÂM NHẠC VIỆT NAM

Đề tài:

ÂM NHẠC VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU LÝ

Họ và tên sinh viên: Võ Lê Hồng Phúc

Mã số sinh viên: 3120160016 Nhóm: 2

Lớp: DNH1201 Khoa: Nghệ thuật

Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 11/2021

Trang 2

1) SƠ LƯỢC LỊCH SỬ TRIỀU LÝ (1009- 1225)

Nhà Lý (1009 – 1225)

Nhà Lý, đôi khi gọi là nhà Hậu Lý (để phân biệt với triều đại Tiền

Lý do Lý Bí thành lập) là một triều đại trong nền quân chủ Việt Nam Triều đại này bắt đầu khi Lý Công Uẩn lên ngôi vào tháng 10 âm lịch năm 1009 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Tiền Lê Triều đại này trải qua 9 vị hoàng

đế và chấm dứt khi Lý Chiêu Hoàng, lúc đó mới có 7 tuổi, bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1225 – tổng cộng là 216 năm

Lý Thái Tổ (1009-1028) : năm 1009 Lê Long Đĩnh chết, dưới sự hậu

thuẫn của Chi nội là Đào Cam Mộc và thiền sư Vạn Hạnh, quần thần đã tôn quan Điện tiền Chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, tức Lý Thái Tổ Ông cho dời đô về Thăng Long (1010) và đặt niên hiệu là Thuận Thiên

Lý Thái Tông (1028-1054) : năm 1028 Lý Thái Tổ băng hà, thái tử Lý

Phật Mã dưới sự phò trợ của Vũ vệ tướng quân Lê Phụng Hiểu đã dẹp được Loạn tam vương và lên ngôi Hoàng đế, tức Lý Thái Tông Ông là vị vua tài năng và nhân từ, có công lao rất lớn trong việc đánh Chiêm Thành rồi đánh Ai Lao mở mang bờ cõi xuống phiá Nam Thời đại của ông, con

ôn là Lý Thánh Tông, châu ông là Lý Nhân Tông được xem là thời kỳ

thịnh vượng của nhà Lý Sử gọi thời kỳ này là Bách niên Thịnh thế.

Lý Thánh Tông (1054-1072) : năm 1054 Lý Thái Tông băng hà, thái tử

Lý Nhật Tôn kế ngôi hoàng đế, tức Lý Thánh Tông Ông là vị vua tài ba xuất chúng, lại có lòng nhân từ độ lượng Bên trong ông ổn định tình hình, bên ngoài ông chú trọng mở mang bờ cõi Ông có công lao to lớn trong việc “phá Tống, bình Chiêm” Ngoài ra ông là vị vua đầu tiên khởi xướng Nho giáo vào việc cai trị của các Hoàng Đế Đại Việt sau này

Lý Nhân Tông (1072-1127) : năm 1072 Lý Thái Tông băng hà thái tử

Lý Càn Đức lên ngôi khi mới 7 tuổi, tức Lý Nhân Tông Ông được xem là một vị minh quân của vương triều Lý Nhờ vào sự giúp đỡ của Thái Phi Ỷ Lan làm Nhiếp chính, cùng với sự phò tá của Thái sư Lý Đạo Thành và

Trang 3

Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt, mà nước Đại Việt đã trở thành một đế chế hùng mạnh với 2 lần đánh tan quân Tống xâm lược, đất nước phát triển đến mức cực thịnh Ông cũng được coi là người đặt nền móng cho giáo dục đại học ở nước ta

Lý Thần Tông (1127-1137) : năm 1127 Lý Nhân Tông băng hà, con là

thái tử Lý Dương Hoán nối ngôi, tức Lý Thần Tông Trong thời gian trị vì ông đã đánh Chân Lạp và Chiêm Thành buộc 2 nước này phải đến tiến cống Ông cũng là vị vua gắn liền với giai thoại nhân gian “Vua hóa hổ” Tương truyền, ông là hậu thân của thiền sư Từ Đạo Hạnh Khi vua Lý Nhân Tông không có con để nối ngôi thì sư Từ Đạo Hạnh sau khi chết đã đầu thai làm con của Sùng Hiền Hầu là em trai vua Nhân Tông, tức Lý Dương Hoán Do lúc sinh thời sư Từ Đạo Hạnh là người đắc đạo, biết được ác nghiệp của mình là sẽ bị hóa thành hổ nên trước khi đầu thai ông

đã nhờ người bạn đồng tu của mình là nhà sư Nguyễn Minh Không giúp

đỡ Sau này chính sư Nguyễn Minh Không đã chữa trị căn bệnh “hoá hổ” của vua Thần Tông vậy

Lý Anh Tông (1138-1175) : năm 1138, vua Lý Thần Tông băng hà, con

thứ 2 là thái tử Lý Thiên Tộ kế vị, tức Lý Anh Tông Vì vua lên ngôi còn nhỏ nên bị Thái úy nhiếp chính Đỗ Anh Vũ nắm hết quyền hành, mẹ ông

là bà Lê Thị Lại tư thông với Vũ Năm 1158 Đỗ Anh Vũ chết, vua Anh Tông lúc này mới trọng các hiền thần như Tô Hiến Thành, Hoàng Nghĩa Hiền, Lý Công Tín Các hiền thần này đã giúp vua đánh Đông, dẹp Bắc giữ yên bờ cõi và sự thịnh vượng của các đời vua trước

Lý Cao Tông (1175-1210) : năm 1175, vua Lý Anh Tông băng hà, con

thứ 2 là thái tử Lý Long Cán được sự phò trợ của Phụ chính Tô Hiến Thành lên ngôi kế vị, tức Lý Cao Tông Vua là người bên trong thì ham thích tửu sắc, ăn chơi, săn bắn bên ngoài thì thích tiền của, xây cung điện Sau khi Tô Hiến Thành mất, chính sự rối ren, giặc giã nổi dậy khắp nơi, lòng dân oán thán, ngoại xâm rình rập

Trang 4

Lý Huệ Tông (1210-1224) : năm 1210 Lý Cao Tông mất, con là thái tử

Lý Sảm lên ngôi, tức Lý Huệ Tông Lý Huệ Tông lên ngôi trong lúc tình hình đất nước rối ren do cha là Cao Tông gây ra Ông phải dựa vào thế lực

họ Trần để giữ vững ngôi vua của mình Lúc này thế lực họ Trần đang rất lớn mạnh Trần Thị Dung làm hoàng hậu, anh là Trần Tự Khánh làm Phụ Chính Thái uý, Trần Thừa làm Nội thị phán thủ Bề ngoài Huệ Tông dùng

họ Trần nhưng thật chất bên trong ông đã nhìn thấy được cái họa quyền thần và luôn tìm cách để tiêu diệt Nhưng do kém tài nên ông đành “lực bất tòng tâm” nhìn quyền thần ngang ngược Ông uất hận đến độ phát cuồng

Lý Chiêu Hoàng (1224-1225) : năm 1223 Trần Tự Khánh chết, quyền

hành lại rơi vào tay em họ của Tự Khánh là Trần Thủ Độ Năm 1224, Trần Thủ Độ ép vua Huệ Tông đi tu để nhường ngôi cho con gái nhỏ là

Lý Chiêu Hoàng khi đó mới 7 tuổi Dưới tài đạo diễn của Trần Thủ Độ,

Lý Chiêu Hoàng đã lấy Trần Cảnh là cháu họ của Trần Thủ Độ Ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu (22/11/1225) Lý Chiêu Hoàng ban chiếu nhường ngôi cho Trần Cảnh Ngày mồng 1 tháng chạp cùng năm (31/12/1225) Chiêu Hoàng chính thức trút bỏ hoàng bào mời Trần Cảnh lên làm hoàng

đế chấm dứt 216 năm với 11 triều vua trị vì của nhà Lý mở ra thời đại của nhà Trần

2) MỘT SỐ SỰ KIỆN ÂM NHẠC

Dưới triều nhà Lý, giai cấp quý tộc Việt Nam đều ưa chuộng ca, múa, nhạc, kịch,… nên đã đẩy mạnh sự phát triển của các loại hình nghệ thuật này Đặc biệt

kể từ vua Lý Thái Tổ trở đi, nhiều đợt thực hiện chính quy hóa bắt đầu tách biệt

âm nhạc cung đình ra khỏi âm nhạc dân gian

Một số sự kiện lịch sử thể hiện rõ nếp sinh hoạt và cung cách tổ chức âm nhạc cung đình thời bấy giờ:

 Đời vua Lý Thái Tổ (1009- 1028)

Trang 5

Vua định phân từng “giáp” cho các ngành nghề, đã đặt ra chức Quản giáp sau đổi thành Hỏa đầu, Chánh thủ,… để điều khiển, quản lí giới ca hát và điều hành việc ca vũ trong dân gian Đến năm Thuận Thiên thứ mười sáu năm 1025 đặt chức quản giáp cho nghề con hát Quản giáp là người gảy đàn giỏi và được tín nhiệm cử ra, nhiệm vụ là trông coi trật tự ở giáo phường Tiếng Quản giáp phiên âm chệch đi thanh tiếng “kép”, sổ sách giáo phường xưa cử “đào”, “kép”

đi hát đều viết “giáp” là “kép”, “đào” là cô đầu, tất cả gọi chung là con hát

“xướng nhi”

Vua Lý Thái Tổ chú trọng chăm lo đến nghề hát chèo, ưu đãi xướng nhi, cho lập ban nữ nhạc trong cung , đặt thành giáo phường để quản lí nghề hát trong dân gian Với môi trường thuận tiện như vậy, nghệ thuật cầm ca phát triển Bấy giờ, có người con gái họ Đào, người làng Đào Đặng, huyện Tiên Lữ, trấn Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Hưng Yên hát rất hay, có tiếng tốt và giỏi tài nghệ, từng được vua ban khen Về sau, những người con gái làm nghề hát xướng, do

mộ tiếng tăm của bà, đều được gọi là “Đào nương” Đào nương chỉ hát ở cung đình, hoặc ở các cửa đình mà thôi Có thể lối hát của Đào thị phổ biến, gọi là Hát cửa đình của các ả đào và nghệ thuật hát ả đào bắt đầu có từ đây

Bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt được ngâm trên sông Như

Nguyệt không chỉ được tôn là “ tuyên ngôn độc lập” đầu tiên của nước ta mà còn để lại một chứng cứ cho thể loại “ngâm” thơ, lối nói có vần điệu để rao truyền trong dân gian

 Đời vua Lý Thái Tông (1028- 1054)

Vua Lý Thái Tông cũng là người yêu thích nghệ thuật, là người góp phần phát triển nền văn hóa, nghệ thuật nước nhà Tháng 6 năm 1028, kỉ niệm ngày sinh của vua, sai làm núi bằng tre (trúc sơn) đặt tên là Vạn tuế sơn trên núi Long Trì Núi có năm ngọn, ngọn giữa dựng bức tranh Trường Thọ Tiên, hai bên tả hữu đều có hạc trắng, trên núi làm những hình tiên bay, chim thú, lưng chừng núi có thần long vây quấn, cắm xen cờ xí, treo lẫn đồ kim loại, cho người con hát (linh nhi) ở trong núi đó đánh sênh, thổi sáo, hát múa cho vui Hình thức âm nhạc giải trí trong cung vua được tổ chức một cách chuyên nghiệp, hình thành

Trang 6

một bộ phận chuyên lo về ca múa nhạc trong cung Những người làm nghệ thuật

đã được xem như một nghề nghiệp, chuyên thực hiện các hoạt động ca múa trong cung đình

Năm Kiến phu Hữu đạo thứ ba (1041), vua phong mười ba người làm hậu phi, kén mười tám người nữ để hầu hạ và tuyển chọn hơn một trăm ca công, nhạc công vào cung Từ đây, đặt ra một nhóm người làm nghề âm nhạc chuyên nghiệp trong cung và có những tách biệt với những giai tầng khác trong xã hội

Năm 1046, sau khi tấn công vào kinh đô Phật Thệ ở Thuận Hóa của Chiêm Thành, giết vua Chiêm là Sạ Đẩu, vua Lý Thái Tông bắt các thê thiếp và cung nữ hơn một trăm người đưa về cung, làm cung riêng cho ở và truyền trình diễn hát múa Khúc Tây Thiên Sau đó, nhà vua cho phiên định khúc Tây Thiên hợp với nhạc khúc Việt, từ đó có lối hát mua vui mang âm hưởng của nhạc Chiêm Thành được tổ chức trong cung dưới tiều đình các vua nhà Lý Yếu tố âm nhạc Ấn Độ thông qua Chiêm Thành thâm nhập vào âm nhạc Việt Nam rõ rệt

Năm 1044, vua cho dựng núi giả Vạn Thọ Nam Sơn nhân ngày thánh đản, trên núi cho đàn hát mua vui (còn gọi là Vạn Tuế Nam Sơn, là năm ngọn núi giả dựng trước điện Long Triều) Trên núi có hình tiên bay,chim, thú, thần long, người cầm cờ, xí, treo vàng ngọc,… Trên sân khấu núi giả này có “linh nhân” là các phường cheo diễn trò, đánh trống, thổi kèn sáo, múa hát,…

Tháng tám hằng năm, vua thường đặt tiệc, hội họp các quan ăn uống, hát múa và ban thưởng

 Đời vua Lý Thánh Tông (1054- 1072)

Là thời kì đạo Phật thịnh đạt của triều nhà Lý, nhà vua cho xây dựng hàng trăm ngôi chùa, trong đó có chùa Phật Tích còn gọi là Vạn Phúc ở huyện Tiên

Du, tỉnh Bắc Ninh, đã để lại nhiều di tích điêu khắc rất mĩ thuật thể hiện sinh hoạt âm nhạc (có thể của Phật giáo hoặc nghi lễ trong cung đình hoặc trong đời sống) rất có ý nghĩa cho việc nghiên cứu, tìm hiểu sinh hoạt âm nhạc Việt Nam thời kì này

Vua Lý Thánh Tông tương truyền là người tinh thông âm luật, giỏi thi ca Năm 1060, ông phiên chế nhạc khúc của người Chiêm Thành cùng nhịp trống

Trang 7

cho các nhạc công người Việt ca múa Lối hát này buổi đầu thịnh hành trong cung, nhưng sau cũng được truyền ra ngoài dân gian Vua còn sáng chế ra cái

“Tiết cổ âm”, như hình bàn cờ, ở giữa khoét lỗ tròn, đặt trống vào trong đó mà đánh, tiếng nghe nhịp nhàng,…

 Đời vua Lý Nhân Tông (1072- 1128)

Thiên Phù Huệ Võ thứ tư năm 1123, ngày 25 tháng Giêng là tiết Thánh Đản, vua Nhân Tông sai lập nhà Thôi luân vũ (Vũ Đình Thôi Luân), là loại xe đẩy chung quanh nhà Vũ Đình (nơi vua “ngự” xem ca múa nhạc, trong cung), cho người ca nữ đứng trên xe múa hát dâng rượu,… Nơi này được xem là “nhà hát” đầu tiên dành cho nghệ thuật trình diễn Việt Nam, là một sân khấu di động

và đến nay chỉ còn lưu tên trong sử sách

Bia Sùng Thiện Diên Linh (Chùa Đọi, tỉnh Nam Hà) được xây dựng năm

1121, ghi chép về ca múa nhạc thời kì này có dùng từ “đào” và “kép” (giáp) để chỉ diễn viên nam và nữ trong nghệ thuật hát chèo Đặc biệt, bia miêu thuật lại một thể loại nghệ thuật đặc sắc thể hiện nền văn minh lúa nước của người Việt

là múa rối nước Bia đã ghi chép, làm sang tỏ về nguồn gốc, đặc trưng của một

số nghệ thuật ca hát và trò diễn của người Việt

Năm 1126, vua Nhân Tông đưa quân bình Chiêm, khi nhập thành Phật Thệ, vua truyền lệnh nhảy múa điệu “lăn khiên” và cho đá cầu ngay tại sân rồng vua Chế Củ (Rudravarman III) Vua Lý Nhân Tông cũng là người rất giỏi âm luật, sáng tác nhiều bài nhạc, ca khúc cho nhạc công, ca công tập, diễn trong cung,…

Dưới triều vua Lý Nhân Tông, đất nước thịnh trị thái binh, nhiều cuộc vui, đua thuyền, trò diễn (múa rối, chèo), ca múa, tấu nhạc,… được tổ chức Nước Đại Việt luôn có hội hè, trở nên cực kì phồn vinh và phát triển

 Đời vua Lý Thần Tông (1128- 1138)

Vua Lý Thần Tông cũng là người tinh thông âm luật, người đã chế tác nhiều nhạc khúc và cho nhạc công, ca công, vũ công luyện tập ca múa Vua đã cho tổ chức ca múa trong cung, tuyển vào cung và phong Đỗ Anh Vũ là người

Trang 8

phường chèo chức Cung điện lệnh tri nội ngoại sự vì có tài ca múa và được vua yêu quý Đỗ Anh Vũ vốn là em ruột bà Đỗ Thái Hậu, mẹ vua Thần Tông Đỗ Anh Vũ vốn đẹp trai, hát hay, múa khéo, lên tám tuổi đã được vào ban Thượng lâm đệ tử, năm mười sáu tuổi đã được vua Thần Tông cho hầu hạ múa hát trong nội đình Sau do vua tin dùng Đỗ Anh Vũ nên gây sự nhiễu loạn trong cung

 Đời vua Lý Anh Tông (1138- 1175)

Vua Anh Tông cũng rất tin dùng họ Đỗ, vào năm Kỷ Mùi 1139, vua phong cho họ Đỗ làm “ cung lệnh” quản lĩnh cả công việc trong ngoài Năm Đại Định Nguyên Niên 1140, vua Anh Tông cử Đỗ Anh Vũ là Cung điện lệnh tri nội ngoại sự

 Đời vua Lý Cao Tông (1175- 1210)

Vua Cao Tông cũng là người thích nghe hát, năm 1203 vua Lý Cao Tông sai sáng tác khúc Chiêm Thành âm (còn gọi là Chiêm Thành nhạc khúc) theo âm điệu Chiêm Thành, tiếng trong trẻo ai oán, bi thương khiến ai nghe cũng rơi lệ

Sử chép, vua ngự hành cung Hải Thanh, còn cho nhạc công gảy đàn “bá lỗ”, đệm cho ca nữ hát khúc Chiêm Thành âm, âm thanh ai oán thảm thiết buồn bã, oán hờn

Trong triều, nhà sư Nguyễn Thường nghe khúc nhạc, đã than: “Tôi nghe nói, thanh âm của nước loạn thì ai oán giận hờn… Tiếng nhạc ai oán làm não lòng người! Đó là triệu chứng bại vong”… Sau đó với sự can gián của triều

thần, vua đã ít chuộng nghe nhạc Chiêm Thành

Như vậy, cho đến đời vua Cao Tông, âm hưởng nhạc Chiêm Thành đã thấm sâu vào nền âm nhạc, nghệ thuật Việt Nam Theo sử sách, những cuộc biểu diễn trong cung được thực hiện thường xuyên, nhiều khúc hát, điệu múa ảnh hưởng nghệ thuật ca múa cung đình Chiêm Thành Ngoài ra, vua Cao Tông còn sai làm Hành Cung Ứng Long , Hải Thanh, đào ao Ứng Minh,… làm chỗ vui chơi Lại cho lấy thuyền to làm thuyền ngự, dùng phường tuồng chèo thuyền, sắp xếp bày trò giả làm người “long cung” dâng đồ vật tạo uy vũ và nghi vệ đế vương Việc tổ chức nhiều cuộc vui chơi, hát múa để giải trí, xây dựng nhiều

Trang 9

hành cung để vui chơi khiến nhân dân phải cung tiến tiền bạc, vật phẩm, dân tình khổ sở, ca thán

Trong sử cũ có ghi dưới thời vua Cao Tông đã dùng danh từ “đào nương”,

“sai ất” để chỉ con hát Người hát nổi tiếng có Nguyễn Thức

Tóm lại, những cuộc tiếp xúc về văn hóa âm nhạc với Chiêm Thành và Trung Hoa đã đem nhiều yếu tố mới vào trong nền âm nhạc Việt Nam nói chung

và âm nhạc cung đình nói riêng Nhiều nhạc khí có nguồn gốc từ Trung Hoa và

Ấn Độ được đưa vào Việt Nam như: đàn cầm (thùng đàn hình chữ nhật, dây mắc song song với mặt đàn), đàn nguyệt (loại có cần, thùng đàn tròn, dây gảy), tỳ bà (đàn có cần, bốn dây, thân đàn hình lưng quy cổ phụng), đàn hồ (loại đàn dây kéo, có cần), trống cơm, kèn tiểu, trống đại cấu, trống phong yêu (trống hai mặt, thắt eo ở giữa); phách bản, trống mảnh một mặt,… còn để lại những hình ảnh được điêu khắc trên bệ đá kê chân cột chùa Phật Tích ở Bắc Ninh được xây vào năm 1057 Những nhạc khúc, vũ khúc mới được biên soạn và trình diễn tại triều đình, nhà hát và nghệ nhân làm nghề ca, vũ, nhạc, diễn trò, sân khấu trong cung

đã có danh vị riêng và trở thành nghề chuyên nghiệp Những dấu hiệu tạo ranh giới phân biệt âm nhạc dân gian và âm nhạc cung đình đã xuất hiện, những yếu

tố này đã góp phần cho việc hình thành một nền văn hóa âm nhạc cung đình chuyên nghiệp ở Việt Nam

3) CÁC THỂ LOẠI ÂM NHẠC VÀ NHẠC KHÍ THỜI NHÀ LÝ

3.1) Âm nhạc dân gian

Giai đoạn này thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển, sự phân hóa các giai tầng trong xã hội rõ rệt do kinh tế, nghề nghiệp phát triển, sự phân hóa các giai tầng trong xã hội rõ rệt do kinh tế, nghề nghiệp và hình thành những làng nghề, xóm thợ,… là tiền đề để hình thành thêm nhiều thể loại âm nhạc dân gian phục vụ cũng như thể hiện cuộc sống lao động của người dân Các thể loại như hát quan họ, ả đào,… có thể có những mầm móng đầu tiên từ giai đoạn này

Hát quan họ là lối hát giao duyên, nhưng có thể ở giai đoạn này, vẫn là hình thức hát trong các lễ hội, đình đám, trong dịp cúng bái ở các đình làng, là dịp lễ bái, lễ hội mùa xuân, ngày mùa Phần giao duyên trong lễ hội dần được

Trang 10

hình thành Các hình thức hát ru, đồng dao, hát trong lao động, giao duyên (hát

rí ren) khác đã được hình thành từ trước vẫn tiếp tục phát triển trong dân gian

Phật giáo phát triển cũng là một tiền đề cho các hình thức, thể loại ca nhạc gắn với tôn giáo được hình thành, phát triển Các giọng ngâm, tụng, đọc kinh kệ, lối kể hạnh trong chùa, múa hát cúng chạy đàn, hát chầu,… tại các đền miếu cùng với các hội hè truyền thống sẽ góp phần hình thành những thể loại ca hát trong dân gian Nhà chùa cũng sử dụng dàn nhạc đệm gồm các nhạc cụ ti, trúc

và tự thân vang cho các nghi tiết lễ bái Cùng với đó là các nhạc khí như chuông, trống, mõ, tiêu, cảnh,… được sử dụng rộng rãi hằng ngày

Các trò diễn thể hiện dấu ấn của tín ngưỡng sơ khai như hội Gióng, hội thánh Tản Viên và cả những lễ hội, trò diễn thể hiện lại thần tích các danh thần

là anh hùng như Lý Ông Trọng, Đinh Tiên Hoàng,… vẫn được bảo lưu trong các lễ hội dân gian Vua Lý Thái Tổ đã phong cho thánh Gióng là Xung Thiên Thần Vương, cho lập đền thờ và tổ chức hội Gióng với lối múa hát “tùng choặc”

để tế thần và hội hè cho dân gian Các trò diễn dân gian, trò hèm, hát Xuân Phả, hát múa đội đèn,… được hình thành dưới thời Ngô, Đinh vẫn được lưu truyền

Âm nhạc trong các trò diễn, lối hát múa thờ thần, hát múa trong trò hèm từ đời trước vẫn lưu truyền và phát triển trong dân gian

Nghệ thuật sân khấu mang tính trình diễn với khởi nguồn là các trò diễn dân gian đã được hình thành từ trước đến nay dần hoàn thiện Đi đầu trong lĩnh vực này có lẽ là múa rối nước, được hình thành do nền công nghiệp lúa nước cộng hưởng với tín ngưỡng thờ vật linh và Phật giáo Hơn nữa, khi những trò diễn dân gian phát triển và đặc biệt là chèo đã xuất hiện từ thời nhà Đinh đã trở thành nghệ thuật sân khấu mang tính trình diễn, đến nay có thể đã có những tích

trò diễn dài, lớn với tích truyện mang tính tôn giáo (Phật giáo) như: Quan Âm Thị Kính.

3.2) Âm nhạc cung đình

Thời nhà Lý là giai đoạn văn hóa- nghệ thuật phát triển, Phật giáo trở thành quốc giáo, nhiều vị cao tăng được phong làm quốc sư để trị nước, chùa chiềng được xây dựng Với sự thịnh hành của Phật giáo đã để lại cho đất nước

Ngày đăng: 11/11/2022, 17:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w