CHUYÊN ĐỀ: ĐÔ THỊ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAMCHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM – KHÓA 19 ĐỀ TÀI: ĐÔ THỊ CỔ ÓC EO AN GIANG TRONG LỊCH SỬ Hiện nay, đến An Giang mọi người sẽ được nhắc đến di tích
Trang 1CHUYÊN ĐỀ: ĐÔ THỊ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM – KHÓA 19
ĐỀ TÀI: ĐÔ THỊ CỔ ÓC EO (AN GIANG) TRONG LỊCH SỬ
Hiện nay, đến An Giang mọi người sẽ được nhắc đến di tích lịch sử Óc Eo (Ba Thê), đến nơi đây ít ai hình dung ra được trước kia nơi đây từng là một đô thị cổ hay cảng thị sầm uất của vương quốc cổ Phù Nam Vì vậy, nhiều người phủ nhận sự tồn tại của đô thị cổ Óc Eo, để trả lời chính xác cần phải có sự hình dung rõ nét kết hợp những tư liệu
cụ thể về quá trình thay đổi của địa lý, quá trình sinh sống của cư dân dựa trên những vết tích còn lại của ngày nay Với mong muốn tự tìm ra câu trả lời cho bản thân, tôi chọn vấn
đề có tồn tại hay không đô thị cổ Óc Eo (An Giang) để làm bài tập nhỏ Hơn nữa, góp phần tìm hiểu nhiều hơn về lịch sử địa phương để thấy được giá trị lịch sử vùng đất An Giang
Sơ nét về địa danh Óc Eo
Óc Eo địa danh ở huyện Thoại Sơn (An Giang) đã từng tồn tại một hải cảng sầm uất của vương quốc Phù Nam từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII Nơi đây minh chứng khả năng thích ứng cao của người dân đồng bằng sông Cửu Long cổ với điều kiện tự nhiên
Cụm di tích này được phát hiện từ những năm 90 của thế kỷ 20 do nhà khảo cổ học người Pháp L.Malleret khi ông dùng không ảnh chụp miền Nam Việt Nam và phát hiện ra địa điểm này cùng với nhiều kênh đào và các thành phố cổ khác Ông cũng nhận thấy một kênh đào đã cắt tường thành của khu vực này rất rộng Malleret nảy ra ý định tìm hiểu các cấu trúc khu vực này
Ngày 10/2/1944, ông bắt đầu đào các hố khai quật và phát hiện được di vật cùng nền móng các công trình chứng minh cho sự tồn tại của một địa điểm thương mại lớn mà trong nhiều thư tịch của Trung Hoa cổ đã miêu tả về vương quốc Phù Nam
Trang 2Quần thể di tích phân bố trên sườn núi Ba Thê và cánh đồng Óc Eo Cánh đồng
Óc Eo, phẳng và thấp, trải rộng trên địa bàn hai tỉnh An Giang và Kiên Giang Khu vực này có hình tứ giác, mỗi cạnh khoảng 15 km, với đường biên phía Bắc chạy từ núi Sập đến vùng núi Ba Thê, phía Tây từ núi Ba Thê (An Giang) đến khu di tích Nền Chùa (Kiên Giang), phía Nam từ khu di tích Nền Chùa đến di tích Đá Nổi (Kiên Giang)
Núi Ba Thê là đỉnh cao nhất trong nhóm núi tạo thành từ hoa cương Gò Óc Eo cách chân núi Ba Thê khoảng hơn 1km về phía Tây Nam Dấu vết của con kênh cổ, gọi là Lung Lớn (đường nước trung tâm của thành thị Óc Eo), nối liền hai di chỉ Óc Eo và Nền Chùa vẫn còn đậm nét trên hiện trường
Xưa kia, Óc Eo là một thương cảng nằm trên bờ Lung Lớn, có vòng thành bằng đất, hào nước xung quanh dạng chữ nhật, dài 3 km (hướng Đông Bắc - Tây Nam), rộng 1,5 km với diện tích khoảng 450 ha ở vùng núi Ba Thê Lung Lớn chạy xuyên qua trục dọc của thành phố theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, với tiền cảnh là Nền Chùa, cách 15
km về hướng Tây Nam và đổ ra Vịnh Thái Lan
Cần nói rõ hơn, khu vực Ba Thê và Óc Eo tồn tại bên nhau như một chỉnh thể Nếu nói về việc xem xét một đô thị cổ thì không thể nghiên cứu riêng rẽ Ba Thê hay Óc
Eo mà thấy được mối liên hệ giữa hai địa điểm này Cả hai đều là một bộ phận của một chỉnh thể duy nhất
Quá trình hình thành và phát triển đô thị (cảng thị) Óc Eo – An Giang
Hiện tại Óc Eo nằm sâu trong đất liền hơn 20 km nhưng theo các nhà địa chất, vào khoảng đầu Công nguyên, Óc Eo là một cửa biển thông qua vịnh Thái Lan Khu vực này nằm trên trục đường thương mại hàng hải giữa một bên là bán đảo Mã Lai và Ấn Độ, một bên là sông Mê Kông và Trung Quốc, do đó Óc Eo trở thành một địa điểm trung chuyển rất thuận lợi
Sự hình thành của đô thị cổ Óc Eo gắn liền với những diễn biến phức tạp của bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ Ngay từ cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên, một khu vực buôn bán đầu tiên được mở ra ở vùng Đông Nam Á là vùng bắc bán đảo Mã Lai và
bờ biển miền Nam Việt Nam Các thủy thủ Mã Lai – Đa Đảo (Malayo Polynesian) là
Trang 3những người trung gian bản địa khởi xuất mối tiếp xúc với bên ngoài: Những chuyến hành trình được tiến hành sang phía Tây đến tận bờ biển châu Phi, sang phía Đông đến tận Trung Quốc Đến thế kỷ II sau công nguyên, khu vực buôn bán này trở nên quan trọng vì đường bộ giữa Đông – Tây bị cắt đứt do nạn cướp bóc Đường thủy đi từ bờ biển Đông Nam Óc Eo trở thành một bến chờ trên tuyến đường này Các thuyền buôn cập bến
Óc Eo để lấy nước ngọt, lương thực và trú chân chờ hàng ở eo Kra chuyển tới cũng như chờ dòng biển, luồng gió thuận Từ đó, Óc Eo trở thành một trung tâm trao đổi buôn bán
Trong các thế kỷ II và III, khu vực buôn bán thứ hai của người Mã Lai lại nổi lên
ở vùng Java Sản phẩm ở vùng biển Java chủ yếu là đồ gia vị, đinh hương, gỗ đàn hương thu hoạch được ở quần đảo Sunda Be, Moluccas, bờ biển đông Broneo, Java và bờ biển Nam Sumatra Miền Nam Sumatra trở thành nơi hội tụ các luồng thương mại trong vùng biển Java Từ đó, người Mã Lai lại chuyển hàng lên Óc Eo để gia nhập vào luồng thương mại quốc tế
Đến đầu thế kỷ thứ V, eo Mallacca gia nhập vào mạng lưới thương mại thông thương sang tây Broneo, Java Các thương nhân thích đi qua Mallacca hơn do có thể rút ngắn hành trình và mở rộng phạm vi buôn bán Óc Eo mất dần vị thế là nơi trung chuyển hàng hóa trên con đường hàng hải đông tây Hơn thế nữa, lúc này ở Óc Eo, do những tác động của điều kiện tự nhiên, đất liền ngày càng lấn dần ra phía biển Vì thế mực nước của cảng không còn phù hợp cho việc neo đậu tàu thuyền như trước nữa Điều đó giải thích vì sao một cảng thị phồn thịnh như Óc Eo ngày nay lại nằm sâu trong đất liền đến như vậy
Đến thế kỷ VI, các thương thuyền có thể di chuyển ngoài khơi xa với khoảng cách lớn hơn mà không phải dừng lại khắp nơi hay đi dọc theo bờ biển Óc Eo mất dần vị thế hấp dẫn, sức thu hút giảm dần vì hàng hóa không phong phú lắm Sự trỗi dậy của Chân Lạp và thương mại vùng Mê Kông góp phần đẩy Óc Eo bước vào thời kỳ suy sụp Các cuộc chiến tranh quấy rối của Chân Lạp làm cho nơi đây lâm vào tình trạng bất ổn Các thương nhân tất nhiên không muốn đến buôn bán ở một nơi có tình trạnh không an toàn như vậy Kết cuộc là các đoàn thương thuyền đến đây càng ngày càng thưa thớt, cảng thị
Trang 4Óc Eo, trước kia phồn thịnh và huy hoàng bao nhiêu thì nay trở tiêu điều và vắng vẻ bấy nhiêu Sự suy thoái của Óc Eo cũng kéo theo sự suy thoái của cả vương quốc Phù Nam
Trong bối cảnh đó các cuộc tấn công của Chân Lạp ngày càng dồn dập và mạnh
mẽ Đầu thế kỷ VII, khi Phù Nam đang khủng hoảng, Chân Lạp tổ chức một cuộc tấn công lớn, đánh bật triều đình Phù Nam ra khỏi kinh đô
Kinh đô Đặc Mục của Phù Nam được đoán định là Angkor Borei, thành Na Phất
Na (Naravaranagara) có lẽ chính là Óc Eo Điều này là suy đoán có cơ sở Bởi ở Angkor Borei tìm thấy nhiều bằng chứng về việc đã tồn tại một chính quyền cai trị của Phù Nam
ở đó Và như vậy, việc từ bỏ kinh đô (Angkor Borei) chạy về phía Nam thì có lẽ là kinh
đô của Phù Nam sau sự kiện thất thủ kinh đô đó đã được rời về vùng Ba Thê - Óc Eo Có thể thấy rằng, Óc Eo chính là điểm cố thủ cuối cùng của vương triều Phù Nam trước sự tấn công của Chân Lạp, cùng với sự sụp đổ của Óc Eo, vương quốc Phù Nam coi như cũng bị xóa sổ
Những tiêu chí khẳng định có tồn tại đô thị cổ Óc Eo – An Giang
Có nhiều tiêu chí đánh giá đô thị như: cư dân đông, tính chất kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm hành chính – chính trị … Đối với đô thị cổ Óc Eo, có thể xác định trên các tiêu chí: vị trí trung tâm kinh tế - chính trị, sự phát triển nền kinh tế thương mại,
sự quần tụ của cư dân cổ
Về vị trí trung tâm kinh tế - chính trị
Việc dời đô về Óc Eo là một suy đoán nhưng rất hợp lý và có cơ sở “ Đây là một
di tích, từ nhiều thập niên đã được nhìn nhận là một “thị cảng lớn nhất của văn hóa Óc
eo, là một thành phố văn minh Phạn ngữ, một đô thành có tên Na Phất Na (Naravaranagara), nơi vua Phù Nam rời đến, sau khi kinh đô Đặc Mục bị vua Chân Lạp là Y - chư - na (Isaravarman) chiếm đóng”1 Có thể giải thích điều này qua ba luận điểm
Thứ nhất, Óc Eo nằm ở phía nam của Angkor Borei Việc tháo chạy của triều đình Phù Nam về phía nam là một sự việc xảy ra bất ngờ, nhưng triều đình Phù Nam khi dời
1 Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sỹ Khải, Văn hóa Óc eo những khám phá mới, NXB Khoa học xã hội, HN,
1995, tr.24
Trang 5đô phải lựa chọn một địa điểm tương đối vững trãi để xứng đáng với tầm vóc của một kinh đô mới và để cố thủ lâu dài Địa điểm Ba Thê – Óc Eo là một trong những nơi hợp
lý nhất cho yêu cầu đó
Thứ hai, giữa Óc Eo với Angkor Borei đến nay vẫn còn có dấu vết của những con kênh đào nối liền hai địa điểm này Cuộc rút lui của triều đình Phù Nam có thể đã được thực hiện bằng đường thủy Nếu như thế thì điểm đến không thể là đâu khác ngoài Óc Eo
Hơn nữa, địa điểm kinh đô mới được miêu tả là “nơi kênh rạch chằng chịt, ngập nước, khó đi, khó đến”2 hoàn toàn phù hợp với cảnh quan của vùng Ba Thê – Óc Eo
Thứ ba, ở Óc Eo đã tìm thấy nhiều bằng chứng về một sự sụp đổ đột ngột Điều này cho thấy Óc Eo trong lịch sử thực sự đã bị kẻ thù tấn công bất ngờ và tàn phá nhanh chóng Thời điểm Óc Eo bị tàn phá trùng khớp với thời điểm diệt vong của Phù Nam, tức khoảng giữa thế kỷ VII Điều này càng minh chứng cho thấy việc dời đô về Óc Eo là hợp
lý
Và như vậy, trong khoảng thời gian đầu thế kỷ VII, Óc Eo ngoài vai trò là một trung tâm kinh tế còn đóng vai trò là kinh đô của vương quốc Phù Nam Theo các nguồn
sử liệu, thời gian cai trị của các vua Phù Nam ở Naravaranagara khoảng 40 năm Một khoảng thời gian cũng tương đối dài
Những bằng chứng trên đã “làm cho ta nghĩ tới một xã hội, một thiết chế có tô chức, chứ không phải một thương điếm…”3
“Văn hóa Ba Thê – Óc eo, với những di tích hiện biết, thực sự đã đạt tới trình độ phát triển cao trên tất cả các mặt của đời sống vật chất – tinh thần Quy mô của nền văn hóa này rất rộng, gần như bao trùm khắp vùng miền Tây sông Hậu Các di tích gò nôi, các kiến trúc chìm, nôi bằng đá – gạch rải rác đó đây như ở Nền Chùa, ở Tráp Đá, Đá Nôi, Mốp Văn, Định Mỹ, Lò Mò, Núi Sam, Trăm Phố… đều là những di tích thuộc nền
2 Lương Ninh, Vương quốc Phù Nam - Lịch sử và văn hóa , Viện văn hóa và NXB Văn hóa thông tin, HN,
2005.tr.182
3 Lương Ninh, sđd, tr.109
Trang 6văn hóa này Trong tông thể những di tích nói trên, vùng di tích quanh núi Ba Thê, với phạm vi rộng lớn, tập trung nhiều di tích thờ cúng, lăng mộ, như đã nói, thực sự là một trung tâm lớn, đã quy tụ nhiều tinh hoa kỹ thuật – nghệ thuật các mặt của nền văn hóa này Từ vị trí được xác định như vậy, chắc hẳn vùng này cũng từng là trung tâm quyền lực lớn trong một giai đoạn lịch sử nhất định”4
Sự phát triển nền kinh tế
Người ta cũng dễ dàng tìm thấy thành phẩm rất đa dạng đủ kích cỡ của ngành thủ công nghiệp, từ tượng thần, tượng phật, linh vật thờ cúng đến đồ trang sức, đồ gia dụng, vật liệu xây dựng được chế tác từ vàng, bạc, đồng, sắt, đá quý, gỗ, đất nung, thậm chí có
cả thuỷ tinh nhiều màu Những hiện vật ở Ba Thê - Óc eo không những có một số lượng
đồ sộ mà còn có những nét đặc trưng tiêu biểu cho cả nền văn hóa của Phù Nam Các đặc điểm của sản phẩm thủ công trong văn hóa Phù Nam đều được biểu hiện qua những hiện vật được tìm thấy ở Óc Eo Vì vậy, xã hội Óc Eo là một xã hội phát triển nhiều ngành nghề thủ công như nghề gốm, nghề luyện đồng, luyện sắt, luyện thiếc, nghề kim hoàn
Kết quả của các cuộc khai quật khảo cổ vùng Ba Thê - Óc eo của L Malleret đã được ông tập hợp lại trong một công trình đồ sộ gồm 4 tập, qua đó cho thấy được một nền thủ công nghiệp phát triển rực rỡ ở Ba Thê - Óc eo trong các thế kỷ đầu công nguyên
Ở Ba Thê - Óc Eo, L Malleret đã phát hiện được một số lượng hiện vật rất lớn và
đa dạng về loại hình các mảnh thiếc và thoi thiếc “ Một số mảnh thiếc được đô khuôn hình nhẫn, có mặt, nhiều mảnh khác có vẻ như được in dấu những hình khác nhau khi mới nóng chảy; cho nên L Malleret gọi đây là những cái “cặp chì” là hình thức niêm phong gửi thư, hàng hóa (…)/ hoặc là mảnh bùa đeo mà ông đã coi là một nền kỹ nghệ thiếc”5
4 Nguyễn Công Bình, Thái Văn Ân, Hồ Lê, Lê Xuân Diệm, Văn hóa Óc eo và các văn hóa cô ở Đồng bằng Cửu Long, Sở văn hóa và thông tin An Giang, Long Xuyên, 1985 tr.221
5 Lương Ninh, sđd, tr.98-99
Trang 7Đồ gốm cũng là một mặt rất quan trọng của ngành thủ công nghiệp “Gốm bao giờ cũng là một ngành sản xuất đặc biệt đối với mọi dân tộc, mọi thời đại, khi đồ dùng kim khí chưa phô biến Nó là vật dùng hàng ngày của số đông, hơn tất cả các sản phẩm khác, nên một mặt nó phản ánh quy mô sản xuất, trình độ sản xuất, đặc trưng văn hóa của một dân tộc qua sản phẩm gốm”6
Biểu hiện khác của sự phát triển của ngành thủ công nghiệp ở Ba Thê là sự xuất hiện một số lượng lớn các hiện vật trang sức Đồ trang sức có cả hiện vật bằng vàng, hiện vật bằng bạc, đá quý và các loại đồ bằng thủy tinh Đồ trang sức vàng bạc có các loại hình hoa và hoa thị, vòng kiềng và hộp, thẻ đeo và hoa tai, các chuỗi vòng, khóa cài, móc trâm, nhẫn… Đồ trang sức bằng đá quý có các vật bằng ngọc thạch, ngọc trai, hồng ngọc, bích ngọc… Thủy tinh có cả thủy tinh trắng và thủy tinh màu, hình hạt tròn, hình ống, hình trụ 6 cạnh hay 8 cạnh, các hạt thủy tinh đều được khoan lỗ, xâu dây làm vòng
Tất cả những hiện vật với một sự đa dạng và phong phú như vậy cho phép ta nghi đến một nền thủ công nghiệp rất phát triển ở Ba Thê - Óc Eo Các ngành nghề thủ công nghiệp ở Ba Thê - Óc Eo không đơn giản chỉ mang tính chất bản địa, nhiều nghề thủ công còn cho thấy chúng có nguồn gốc ngoại nhập, nhưng đã được thiết lập tại chỗ để sản xuất cho nhu cầu nội địa và có thể cả cho xuất khẩu Người ta tìm thấy ở đây từ những tấm huy chương của các vương triều La Mã, gương đồng Đông Hán, tượng phật Bắc Nguỵ, tượng thần Bà-la-môn Ấn Độ, cho đến đồ trang sức, vật dụng sinh hoạt của các khu vực khác đương thời ở Đông Nam Á
Đặc biệt bên cạnh nông nghiệp và thủ công nghiệp, thương nghiệp lúc này đã khá phát triển với một loạt chứng cứ như những công trình thuỷ lợi cổ, kênh rạch vừa tưới tiêu vừa là đường giao thông, sản phẩm thủ công thể hiện sự chuyên hoá, những đồng tiền bằng vàng, bạc, thiếc còn nguyên hay cắt làm tư làm tám, các loại trang sức, con dấu bằng đá quý, thuỷ tinh, nhiều sản phẩm có nguồn gốc ngoại nhập
Tính chất cảng thị thể hiện qua vị trí địa lý của thành thị Óc Eo và các di vật có nguồn gốc từ Ấn Độ, Điạ Trung Hải, Trung Đông, Trung Hoa làm cho văn hóa Óc Eo
6 Lương Ninh, sđd ,tr.102
Trang 8mang đậm yếu tố “ngoại sinh”, được những nhà nghiên cứu trước đây coi là nguyên
nhân chủ yếu của sự phát triển văn hóa này
Các nhà nghiên cứu về các con đường thương mại đông tây đều không nghi ngờ gì
về một “con đường tơ lụa trên biển” đi qua vùng Đông Nam Á Nhiều bằng chứng cho thấy trong một thời gian khá dài, cụ thể là trong khoảng 7 thế kỷ đầu công nguyên, Ba Thê - Óc Eo là một điểm dừng chân lý tưởng trên con đường thương mại quốc tế ấy Những nghiên cứu mới nhất cho thấy thương cảng Óc Eo, một trong các thương cảng sớm nhất ở Việt Nam trên con đường hương liệu - tức lộ trình giao thương đường biển quan trọng nhất các thế kỷ đầu Công nguyên - có cấu trúc của một khu chợ nổi gồm nhiều bến nước nằm dọc theo bờ một hệ thống kênh đào hoàn chỉnh, và một bến cảng nước sâu nơi các đoàn tàu viễn dương neo đậu để mua bán, tiếp liệu, sửa chữa, chờ gió mùa và cả tránh bão
Ngành khảo cổ học đã xác nhận điều đó “Cuộc khai quật khảo cô học Óc Eo có quy mô vào loại lớn và đã phát lộ một thành thị cô, một trung tâm thương mại quốc tế có trình độ phát triển kinh tế, văn hóa và giao lưu vào hàng cao nhất thế giới trong 5 - 6 thế kỷ đầu công nguyên”7
Những di vật khai quật được ở Óc Eo gồm có cả các di vật bản địa và các di vật mang từ các khu vực khác tới Điển hình là các di vật có xuất xứ từ Ấn Độ như đầu tượng Phật bằng đồng, nhẫn vàng chạm hình bò thần, ngọc chạm hình phụ nữ tế thần lửa; các di vật xuất xứ từ Trung Quốc như mảnh gương đồng thời Hậu Hán, tượng phật bằng đồng thời Ngụy; có cả các di vật xuất xứ từ tận La Mã như đồng tiền vàng chạm hình Macc Aurele, viên ngọc mã não chạm hình chuột kéo xe có gà ngồi trên… Toàn bộ các di vật này cho thấy Óc Eo thời điểm bấy giờ là một trung tâm trao đổi lớn, không chỉ là một điểm giao thương mang tính chất khu vực mà còn là một cảng thị quốc tế
Ngoài ra, có thể thấy được sự phát triển của nền thương mại quốc tế ở Óc Eo theo một hướng tiếp cận khác Rất nhiều các loại sản phẩm có nguồn gốc từ Ba Thê - Óc Eo
đã được tìm thấy ở nhiều địa điểm khác nhau trong khu vực cũng như trên thế giới Điều
7 Lương Ninh,sđd, tr.109
Trang 9đó cho thấy Óc Eo không phải đơn thuần là nơi trung chuyển hàng hóa mà sự giao
thương ở đây mang tính chất hai chiều “Nhiều loại sản phẩm giống với Óc eo cũng được tìm thấy ở nhiều nơi trong khu vực Đông Nam Á như phù điêu đất nung ở Chansen (Thái Lan), hạt ngọc chuỗi ở Kuala Selinging (Malaixia), ở cánh đồng Chum (Lào), ở Sa Huỳnh và Đông Sơn; và xa hơn nữa, đến Tây Bắc Ấn Độ, đến Ba Tư và sang cả thế giới Địa Trung Hải Hoạt động trao đôi buôn bán của Óc Eo trong 4 thế kỷ đầu công nguyên là một điều không có gì nghi ngờ”8
Hoạt động thương nghiệp của Phù Nam cũng được ghi chép khá nhiều qua các thư
tịch cổ Trung Hoa Đồ thư tập thành cho biết: “Thuyền lớn Phù Nam, từ Tây Thiên Trúc đến (Quảng Châu) bán gương lưu ly xanh mà đường kính tới một thước rưỡi”9
Ngoài ra, một thư tịch cổ khác còn chép về một biểu hiện rõ nét về nền kinh tế
thương mại của Phù Nam: “(người dân Phù Nam) dùng vàng, bạc, châu ngọc, hương liệu làm đồ cống và nạp thuế”10
Bản thân ngoại thương đúng là mặt mạnh nhất của nền kinh tế ở Ba Thê - Óc Eo, nhưng nơi đây không chỉ đơn thuần là chỉ có hoạt động ngoại thương Ba Thê - Óc Eo còn là một trung tâm kinh tế của Phù Nam với các hoạt động nội thương rất tấp nập Các
hệ thống kênh đào nối liền Óc eo với các trung tâm dân cư khác trong khu vực đồng bằng
sông Cửu Long là một minh chứng cho điều đó “Ở khu Óc Eo, núi Sập, Định Mỹ, Tráp Đá, những con kênh cô tạo thành mạng lưới chằng chịt tỏa ra như nan hoa, nối liền các
di chỉ trong khu vực…”11 Có thể đoán định rằng nơi đây là một nơi tập trung hàng hóa trong cả khu vực để có thể trao đổi buôn bán với nước ngoài Như vậy, hoạt động ngoại thương và nội thương ở Óc Eo có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
8 Nguyễn Công Bình, sđd, tr.233
9Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường, Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long, NXB
Khoa học xã hội, TPHCM, 1990.tr.141
10 Lương Ninh, tr.127
11 Trung tâm nghiên cứu khảo cổ học, Một số vấn đề khảo cô học ở Miền Nam Việt Nam , NXB KHXH,
HN, 1997 tr 342
Trang 10Sự phát triển của ngành thương mại nhất thiết sẽ là chất xúc tác thúc đẩy ngành thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ Và thực tế đã cho thấy, rất nhiều sản phẩm thủ công nghiệp của Ba Thê - Óc eo đã xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới Điều đó cũng là một minh chứng hùng hồn cho thấy quy mô của ngành thủ công nghiệp nơi đây, một ngành thủ công nghiệp xứng đáng với tầm cỡ của một đô thị cổ
Sự quần tụ của cư dân cổ
“Trước hết, chúng ta có thể nhận ra rằng thành thị Óc Eo không thể đã mọc lên trên một vùng hoang vắng không dân cư, mà khu vực này đã là một địa điểm tụ cư từ rất sớm, ít ra là từ hậu kỳ đá mới hay sơ kỳ thời đại kim khí Những chiếc rìu hay bồn bằng đá, có vai hoặc tứ giác, tìm thấy ở Óc eo và các địa điểm như Đá Nôi, Núi Sập đã cho ta biết điều đó”12
Vùng đồng bằng ven biển ở Nam bộ Việt Nam, trong đó gồm cả Ba Thê – Óc Eo
có những điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi cho con người sinh sống Các nhà nghiên
cứu về Phù Nam đều không nghi ngờ gì về điều đó “Vùng đồng bằng ven biển mới là địa bàn chủ yếu (của Phù Nam), nơi đây có điều kiện tụ cư đông đúc, phát triển kinh tế, cả nông nghiệp, đánh cá và mở cửa giao tiếp với bên ngoài”13
Như vậy, từ trước khi Ba Thê – Óc Eo trở thành một trung tâm kinh tế – văn hóa của Phù Nam, nơi đây đã có cư dân sinh sống Nơi đây là một địa điểm tụ cư có một bề dày lịch sử lâu đời Độ dày của tầng văn hóa trong các di chỉ khảo cổ ở đây cũng khẳng
định điều đó: “Ở Óc Eo đã có một quá trình cư trú lâu dài và đã có những thay đôi hình dáng của đô thị mà bằng chứng là đã có một tầng văn hóa rất dày và dấu vết của những công việc đắp đất để dựng nhà bằng những vật liệu tương đối nặng như gạch, đá”14
12 Nguyễn Công Bình, 1985 tr.228
13 Lương Ninh, sđd, tr.47
14 Đào Linh Côn, Mộ táng trong văn hóa Óc eo, Luận án Phó tiến sỹ khoa học lịch sử, Chuyên ngành khảo cổ học,
Viện Khoa học và xã hội TPHCM, TPHCM, 1995.tr.14