1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Sự phối hợp của cơ chế 2 bên và cơ chế 3 bên. Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam.

23 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 332,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Để bước sang giai đoạn này,nước ta gặp không ít khó khăn và trở ngại.Nhằm để bắt kịp với xu thế toàn cầu hóa của thế giới,nước ta đã không nừng xây dựng và phát triển nguồn nhân lực,bên cạnh đó,không thể thiếu đó chính là hình thành nên các mối quan hệ tương tác lẫn nhau trên thị trường lao động trong và ngoài nước.Trong thời kì hội nhập của nền kinh tế,thị trường lao động ngày nay cũng trở nên năng động hơn,hình thành và phát triển trên nhiều lĩnh vực kinh tế và thương mại. Cùng xu hướng phát triển đó Việt Nam đã và đang mở cửa hội nhập,tham gia nhiều tổ chức nhằm đưa đất nước vươn lên tầm cao mới và cũng là hội nhập lý tưởng cho lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế.Hay nói cách khác,giữa người lao động và người sử dụng lao động đã bắt đầu hình thành nên một mối quan hệ với những mục đích và sở hữ lợi ích khác nhau.Để bắt tay hợp tác với nhau,lúc nào 2 bên cũng đáp ứng và làm thỏa mãn điều kiện của nhau không phải lúc nào cũng dễ dàng,…Có những nảy sinh không mong muốn,không thể giải quyết bằng hình thức thỏa hiệp,thương lượng hay hòa giải…Ngay lúc này,các cơ chế hoạt động của quan hệ lao động ra đời và chính là thước đo và là chìa khóa để giải quyết cho mọi mâu thuẫn.Cơ chế hoạt động cơ bản nhất của quan hệ lao động là cơ chế hay bên và cơ chế ba bên.Các cơ chế này đóng vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy quan hệ lao động lành mạnh,ổn định trong các nước có nền kinh tế thị trường.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC

BỘ MÔN: QUAN HỆ LAO ĐỘNG

Đề tài thảo luận:

Sự phối hợp của cơ chế 2 bên và cơ chế 3 bên.

Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam.

Trang 2

M C L C Ụ Ụ

MỞ ĐẦU: 3

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CƠ CHẾ HAI BÊN, BA BÊN VÀ SỰ PHỐI HỢP CỦA HAI CƠ CHẾ: 4

1 Cơ chế hai bên trong quan hệ lao động: 4

1.1 Khái niệm: 4

1.2 Đặc điểm của cơ chế hai bên: 4

1.3 Điều kiện vận hành cơ chế hai bên 5

1.4 Phương thức vận hành của cơ chế hai bên 6

3 Sự phối hợp của cơ chế 2 bên và cơ chế 3 bên: 9

3.1 Sự thống nhất của 2 cơ chế: 9

1 Thực trạng về sự phối hợp của 2 cơ chế tại Việt Nam: 12

1.1 Đặc điểm: 12

1.2 Ưu điểm: 12

1.3 Nhược điểm: 13

PHẦN III: ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ ĐỂ KHẮC PHỤC ĐƯỢC NHỮNG HẠN CHẾ VÀ SAI SÓT TRONG QUÁ TRÌNH VẬN HÀNH CƠ CHẾ HAI BÊN , BA BÊN TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM: 19

1 Hoàn thiện thể chế, pháp luật lao động và quan hệ lao động 19

2 Tăng cường vai trò quản lý nhà nước về quan hệ lao động: 19

3 Thúc đẩy đối thoại, thương lượng kí kết thỏa ước lao động tập thể 20

4 Nâng cao vai trò trách nhiệm của tổ chức đại diện NLĐ 20

5 Hoàn thiện hệ thống tổ chức, chức năng nhiệm vụ của tổ chức đại diện người sử dụng lao động 20

6 Hoàn thiện các thiết chế về giải quyết tranh chấp lao động 21

7 Củng cố và hoàn thiện cơ chế tham vấn ba bên về quan hệ lao động .21

Trang 3

8 Tiếp tục triển khai thực hiện các dự án về nhà ở và các công trình phúc lợi, xã hội (trường học, nhà mẫu giáo, các thiết chế văn hóa) phục vụ công nhân lao động ở các khu công nghiệp tập trung góp phần thúc đẩy và củng cố quan hệ lao động phát triển 21

KẾT LUẬN: 22

Trang 4

M Đ U: Ở Ầ

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Để bước sang giai đoạn này,nước ta gặp không ít khó khăn và trở ngại.Nhằm để bắt kịp với xu thế toàn cầuhóa của thế giới,nước ta đã không nừng xây dựng và phát triển nguồn nhân lực,bêncạnh đó,không thể thiếu đó chính là hình thành nên các mối quan hệ tương tác lẫn nhau trên thị trường lao động trong và ngoài nước.Trong thời kì hội nhập của nền kinh tế,thị trường lao động ngày nay cũng trở nên năng động hơn,hình thành và phát triển trên nhiều lĩnh vực kinh tế và thương mại

Cùng xu hướng phát triển đó Việt Nam đã và đang mở cửa hội nhập,tham gia nhiều tổ chức nhằm đưa đất nước vươn lên tầm cao mới và cũng là hội nhập lý tưởng cho lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế.Hay nói cách

khác,giữa người lao động và người sử dụng lao động đã bắt đầu hình thành nên một mối quan hệ với những mục đích và sở hữ lợi ích khác nhau.Để bắt tay hợp tácvới nhau,lúc nào 2 bên cũng đáp ứng và làm thỏa mãn điều kiện của nhau không phải lúc nào cũng dễ dàng,…Có những nảy sinh không mong muốn,không thể giải quyết bằng hình thức thỏa hiệp,thương lượng hay hòa giải…Ngay lúc này,các cơ chế hoạt động của quan hệ lao động ra đời và chính là thước đo và là chìa khóa để giải quyết cho mọi mâu thuẫn.Cơ chế hoạt động cơ bản nhất của quan hệ lao động

là cơ chế hay bên và cơ chế ba bên.Các cơ chế này đóng vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy quan hệ lao động lành mạnh,ổn định trong các nước có nền kinh tế thị trường

Nhận thấy việc nghiên cứu cơ chế hoạt động của quan hệ lao động là cần thiết và bản than cũng muốn tìm hiểu sâu hơn về việc áp dụng cơ chế này ở Việt Nam hiện nay ra sao,hiệu quả chỗ nào và bất cập ở những đâu, từ đó đưa ra những

ý kiến đóng góp kịp thời để cơ quan chủ quản có giải pháp sửa chữa kịp thời và tránh những sai sót không mong muốn

Đối tượng nghiên cứu nghiên cứu trong bài viết của nhóm em là chơ chế hai bên,cơ chế ba bên,sự vận hành cơ chế hai bên và cơ chế ba bên trong phạm vi quan hệ lao động ở Việt Nam.Kết hợp một cách hài hòa các phương pháp phân tích,so sánh,tổng hợp nhằm mục tiêu đích nêu bật được ý nghĩa của đề tài nghiên cứu của mình

Trang 5

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CƠ CHẾ HAI BÊN, BA BÊN VÀ SỰ PHỐI HỢP CỦA HAI CƠ CHẾ:

1 Cơ chế hai bên trong quan hệ lao động:

1.1 Khái niệm:

Từ quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế về cơ chế hai bên và khái niệm chung về cơ chế tương tác của quan hệ lao động, cơ chế hai bên của quan hệ lao động được hiểu là

“ Cơ chế hai bên trong quan hệ lao động là hệ thống các yếu tố tạo cơ sở, đường hướng hoạt động cho hai chủ thể trong quan hệ lao động bao gồm người lao động( hoặc tổ chức đại diện cho người lao động) Và người sử dụng lao động( hoặc tổ chức đại diện cho người lao động) và quá trình tươngtác trực tiếp giữa hai chủ thể đó”

1.2 Đặc điểm của cơ chế hai bên:

Thứ nhất, về chủ thể cơ chế hai bên chỉ có hai bên tham gia đó là người lao động( hoặc tổ chức đại diện người lao động) và người sử dụng lao

động( hoặc tổ chức đại diện người sử dụng lao động) Cơ chế hai bên thườngtồn tại ở cấp doanh nghiệp, ngành và địa phương;không tồn tại ở cấp quốc gia

Thứ hai, về tính chất tương tác trong cơ chế hai bên là sự tương tác trực tiếp.Tương tác trực tiếp có nghĩa là không qua trung gian Kết quả tương tác giữahai bên ở ảnh hưởng trực tiếp, nhanh chóng đến quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên, thông qua các chính sách của ngành, địa phương, doanh nghiệp và cam kết, thỏa thuận trực tiếp giữa hai bên

Thứ ba, về vấn đề giải quyết trong cơ chế hai bên là các vấn đề mang tính đặc thù của ngành, địa phương, các vấn đề cụ thể tại nơi làm việc rất dễ dẫn tới nguy cơ xung đột Những vấn đề được cả hai bên cùng quan tâm giải quyết ở cấp doanh nghiệp bằng cơ chế hai bên thường là:Chính sách tiền lương của doanh nghiệp;Chính sách tuyển dụng đề bạt;Chính sách kỷ luật,sathải; Điều kiện làm việc và sinh hoạt của người lao động; Sự tham gia của người lao động vào hệ thống quản lý; Giải quyết các xung đột trong phạm vidoanh nghiệp; Thời gian làm việc;Đào tạo người lao động, Ở cấp ngành, địa phương những vấn đề giải quyết bằng cơ chế hai bên đó là các tiêu chuẩn ngành, địa phương

Thứ tư, về tần suốt hoạt động của cơ chế hai bên là thường xuyên Bởi vì cácvấn đề giải quyết là các vấn đề cơ bản và phản ánh qua công việc và giao

Trang 6

tiếp thường xuyên hoặc định kỳ và có như vậy, vấn đề mới được phát hiện

và giải quyết kịp thời trước khi quá muộn

Thứ năm, về trách nhiệm của các bên trong cơ chế hai bên là cùng quyết định Hai bên trong cơ chế tương tác tương đối bình đẳng, họ cùng thực hiệnđối thoại, thương lượng để dẫn đến nhát trí và thường được ghi nhận bằng văn bản với chữ ký của hai bên( thường được gọi là bên A và bên B trong hợp đồng lao động hay thỏa ước lao động tập thể)

Ngoài ra có chế hai bên phải vận hành trong khuôn khổ luật pháp và phù hợpvới các chính sách kinh tế xã hội-kết quả của sự tương tác ba bên; Các cơ quan của nhà nước nhiều khi đóng vai trò như những người tư vấn, trọng tài,hòa giải trong các xung đột trong quan hệ lao động trong doanh nghiệp 1.3 Điều kiện vận hành cơ chế hai bên:

Một là, có khuôn khổ luật pháp rõ ràng, ổn định và có hiệu lực cao Đặc biệt

là hệ thống các luật lệ hay quy định liên quan đến quan hệ lao động Điều kiện này sẽ tạo ra khuôn khổ pháp lý để hai chủ thể có thể chủ động và tự tinvới vị thế của chủ thể chính thức trong quan hệ lao động bởi họ được bảo vệ,được bảo đảm quyền, được giới hạn các nghĩa vụ cũng như trách nhiệm.Hai là,phải có thị trường lao động phát triển và tuân thủ đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường Thị trương lao động là nơi những người lao động và người sử dụng lao động quyết định lựa chọn nhau để hình thành nên quan hệlao động Trên thị trường lao động hai bên đối tác thực hiện việc mặc cả để xác lập giá cả hàng hóa sức lao động được hình thành và được biểu hiện thông qua sự tương tác cụ thể về tiền lương, điều kiện lao động, thời gian laođộng

Ba là, các đại diện, tổ chức đại diện của các bên phải thực sự đại diện và hoạt động tích cực để bảo vệ lợi ích cho bên mình, hoạt động của các tổ chức phải tương đối độc lập trong khuôn khổ pháp luật quốc gia Các tổ chức này là Công đoàn hay hiệp hội người sử dụng lao động Chỉ khi nào tổ chức Công đoàn không bị phụ thuộc hoàn toàn kinh tế vào người sử dụng lao động,khi đại diện của công đoàn có đủ năng lực và không bị chi phối bởingười sử dụng lao động, thì lúc đó đại diện và tổ chức đại diện mới thực sự

vì người lao động và có khả năng bảo vệ người lao động

Bốn là, sự tồn tại của các tổ chức trung gian, hòa giải, tòa án lao động đảm bảo giải quyết các xung đột trong trường hợp hai bên không đạt được thỏa thuận chung Điều kiện này đề cập đến sự cần thiết và đúng lúc của các trung gian khi quan hệ lao động có vấn đề Sự xuất hiện và hỗ trợ phù hợp sẽ

Trang 7

là điều hướng tương tác hai bên không bế tắc và giúp cho nó bước qua thời

kỳ khủng hoảng và sang thời kỳ mới tươi sáng hơn

1.4 Phương thức vận hành của cơ chế hai bên:

Về hoạt động cơ chế hai bên vận hình dưới các phương thức sau:

-Đối thoại xã hội, thỏa thuận, tham khảo ý kiến, cùng ra quyết định và các diễn đàn có sự tham gia của hai bên

-Thương lượng, đàm phán giải quyết xung đột, tranh chấp lao động

Cơ chế hai bên ở cấp doanh nghiệp, hai chủ thể tương tác trực tiếp là người sử dụng lao động và các đại diện cho tập thể người lao động trong doanh nghiệp như: công đoàn hay ủy ban người lao động Cơ chế hai bên ở cấp ngành, địa phương cácchủ thể tương tác thường là đại diện của hai phía Đại diện cho người sử dụng lao động: Hiệp hội giới chủ, liên minh các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, liên đoàn giới chủ Đại diện cho người lao động:Công đoàn, liên đoàn lao động( là sự liên minh của nhiều tổ chức công đoàn trong cùng ngành hay cùng khu vực).2 Cơ chế ba bên

2 Cơ chế ba bên

2.1 Khái niệm:

- Cơ chế ba bên trong quan hệ lao động là hệ thống các yếu tố tạo cơ sở, đường hướng hoạt động cho ba chủ thể trong quan hệ lao động bao gồm nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động thông qua các tổ chức đại diện chính thức của họ và quá trình phối hợp giữa các chủ thể đó

- Sự vận hành của cơ chế ba bên nhằm tìm kiếm những giải pháp chung cho các vấn đề thuộc lĩnh vực quan hệ lao động mà cả ba bên cùng quan tâm, vì lợi ích của mỗi bên và lợi ích của xã hội

2.2 Đặc điểm của cơ chế ba bên trong vận hành:

Một là, về chủ thể của cơ chế ba bên bao gồm nhà nước, người lao động, và người sử dụng lao động Cơ chế ba bên có tính đặc thù về chủ thể Các bên tham gia nhất thiết phải thông qua tổ chức đại diện

Thứ hai, về vấn đề giải quyết trong cơ chế ba bên là các định hướng chính sách, các tiêu chuẩn lao động chứ không phải là các vấn đề cụ thể tại nơi làmviệc Những vấn đề được cả ba bên cùng quan tâm giải quyết đó là: mức lương tối thiểu, thời gian làm việc tối đa, quy trình giải quyết tranh chấp lao động, trình tự đình công,…

Thứ ba, về tần suất hoạt động của cơ chế ba bên mang tính định kì là chủ yếu Bởi vì các vấn đề giải quyết là những vấn đề lớn có ảnh hưởng trong phạm vi ngành, địa phương hoặc quốc gia vì vậy không thể manh ra bàn tháo thường xuyên mà cần có tính ổn định tương đố

Trang 8

Thứ tư, các bên trong cơ chế ba bên không hoàn toàn bình đẳng Chỉ có sự bình đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao động Người quyết địnhcuối cùng luôn là nhà nước.

- Có sự độc lập tương đối giữa các bên đối tác xã hội; nhà nước, người lao động, người sử dụng lao động Một môi trường dân chủ luôn được coi là cơ

sở cho sự phối hợp hiệu quả giữa các bên Khi đó, mỗi bên vừa được tôn trọng ý kiến của đối tác, vừa đủ điều kiện đưa ra và bảo vệ các nhu cầu nguyện vọng của mình

- Tổ chức đại diện cho các bên phải thực sự đại diện và hoạt động tích cực trong việc bảo vệ cho lợi ích của mình Điều này đòi hỏi sự đoàn kết nhất trí cao giữa những người lao động và người sử dụng lao động xung quanh tổ chức đại diện của mình

- Nhà nước phải có thái độ vô tư, công bằng đối với cả hai bên Nhà nước sẵn sàng tham khảo tôn trọng và quan tâm đến những đề xuất của các bên

Sự vô tư, không thiên vị của nhà nước thể hiện thông qua sự công bằng trong chính sách pháp luật; trong việc lắng nghe ý kiến của hai chủ thể

- Cần có sự tồn tại và vận hành hiệu quả của cơ chế hai bên ở cấp ngành và cấp doanh nghiệp Những vấn đề chung, tổng quát mà cơ chế ba bên bàn thảo đều xuất phát từ những trăn trở của cơ chế hai bên Phương thức vận hành

2.4 Phương thức vận hành:

- Dựa trên tính thường xuyên:

+ Cơ chế vụ việc: Chỉ giải quyết một vấn đề cụ thể phát sinh trong những vấn đề cụ thể nhất định

+ Cơ chế không thường xuyên: Nhà nước tổ chức các diễn đàn các buổi gặp gỡ để lấy ý kiến của các bên về nội dung một chính sách sắp ban hành hay tổ chức hội nghị các bên, hội nghị liên tịch

+ Cơ chế thường xuyên: Trong cơ chế này sẽ có Uỷ ban thường trực ba bên để nghiên cứu các vấn đề và đóng góp các ý kiến cho việc hoạch định chính sách Uỷ ban ba bên có thể sẽ thành lập các tiểu ban chuyên trách các lĩnh vực khác nhau

- Dựa trên mức độ tham gia của các bên:

Trang 9

+ Nhà nước ra quyết định: Quyết định được nhà nước đưa dựa trên cơ sở

sự hiểu biết sẵn có về nguyện vọng và điều kiện cụ thể của các bên

+ Đối thoại xã hội giữa các bên: Đây có thể xem là một diễn đàn của cơ chế ba bên nhưng ở cấp độ vụ việc, về một vấn đề cụ thể

+ Tham vấn ba bên: Được thực hiện thông qua trao đổi, tham khảo ý kiến chính thức từ các đối tác xã hội trong xây dựng chính sách, pháp luật

+ Cơ chế cùng ra quyết định: Đây là cơ chế ba bên ở cấp độ cao nhất, bình đẳng và chia sẻ trách nhiệm

3 Sự phối hợp của cơ chế 2 bên và cơ chế 3 bên:

- Trong bối cảnh toàn cầu hóa, môi trường kinh tế xã hội của mỗi quốc gia ngày càng có nhiều biến động khó lường Điều này thường xuyên làm nảy sinh các vấn

đề mới ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên đối tác của quan hệ lao động đòi hỏi nhiều cơ chế xử lý khác nhau đối với cùng một vấn đề và dành quyền linh hoạt lựachọn cơ chế xử lý vấn đề cho các đối tác

- Là những xu hướng thay đổi về vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nhà nước can thiệp trực tiếp, triệt để vào các vấn đề của quan hệ lao động Thời gian gần đây thế giới đã chứng kiến sự chuyển mình lớn trong việc lựa chọn đối tác quan hệ xã hội nói chung và quan hệ

Trang 10

lao động nói riêng Tại các quốc gia trước kia áp dugnj mô hình này thì hiện nay có

xu hướng giảm bớt sự can thiệp hành chính của nhà nước nhường chỗ cho sự tương tác tay đôi dựa trên cơ chế hai bên giữa người lao động và người sử dụng laođộng Tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì đề cao vai trò của “bàn tay vô hình” trong thị trường lao động ngày nay lại có xu hướng tăng cường vai tròcủa nhà nước trong việc kế hoạch hóa thị trường lao động, tổ chức hoạt động của thị trường lao động và giám sát thị trường lao động Do vậy, sự tham gia của nhà nước vào quan hệ lao động đang ngày càng tăng làm cho cơ chế ba bên càng phát huy tác dụng

- Cơ chế tương tác ba bên đã làm nên sự phát triển bền vững và hiệu quả ILO và quan hệ lao động cấp khu vực cũng phải xuất phát từ cơ chế hai bên của tất cả các nước thành viên tham gia

3.2 Triển khai phối hợp của cơ chế 2 bên và 3 bên:

- Cơ chế ba bên và hai bên không xung khắc mà thống nhất với nhau, tương hỗ lẫn nhau trong quan hệ lao động Sự phối hợp đó được thể hiện trên tất cả các mặt:

- Về cấp độ của cơ chế, nếu cơ chế ba bên hoạt động chủ yếu ở cấp quốc gia, cấp khu vực và quốc tế thì cơ chế hai bên chủ yếu hoạt động ở cấp doanh nghiệp và cấp ngành Tất cả các cấp quan hệ lao động có mối quan hệ chặt chẽ tạo nên tính liên thông và thống nhất trong toàn hệ thống quan hệ lao động

- Về vấn đề quan tậm, nếu cơ chế ba bên giải quyết các vấn đề định hướng chính sách, liên quan đến lao động, tiêu chuẩn lao động chung thì cơ chế ba bên giải quyết các vấn đề cụ thể của doanh nghiệp, của ngành Vấn đề tiêu chuẩn lao động chung, chính sách do cơ chế ba bên tạo ra định hướng cho việc giải quyết vấn đề

cụ thể tại nơi làm việc Đến lượt nó các vấn đề cụ thể tại doanh nghiệp lại gợi mở cho những nhà hoạch định chính sách

- Về kết quả đạt được, nếu kết quả của cơ chế ba bên là hành lang pháp lý, là khuôn khổ cho sự tương tác của cơ chế h ai bên thì kết quả sự tương tác trong cơ chế hai bên ở cấp doanh nghiệp và cấp ngành là các quy định mang tính pháp lý tạidoanh nghiệp, cấp ngành như: quy chế tiền lương, chính sách đào tạo, an toàn vệ sinh lao động tại doanh nghiệp, hay ngành kinh tế

Trang 11

- Về mục tiêu đạt được, nếu mục tiêu của cơ chế ba bên là sự hài hòa về lợi ích củacác đối tác xã hội trên cơ sở đảm bảo lợi ích chung của xã hội thì mục tiêu của cơ chế hai bên là cân bằng mối quan hệ lợi ích của các đối tác trực tiếp người lao động và người sử dụng lao động Các mục tiêu này không mâu thuẫn mà phải thống nhất.

Như vậy, một cơ chế hai bên lành mạnh cũng góp phần vào thành công của cơ chế

ba bên Một cơ chế ba bên tốt, không thể thay thếc ơ chws hai bên mà là điều kiện nâng cao hiệu quả vận hành của cơ chế hai bên Cơ chế ba bên hoạt động càng hiệuquả, các cuộc thương lượng ở cấp ngành và cấp doanh nghiệp càng dễ dàng đạt được sự thống nhất Ngược lại, cơ chế hau bên tốt sẽ nâng cao hiệu quả của cơ chế

ba bên

 Trở ngại:

Tuy nhiên trong quá trình phối hợp hai cơ chế không ít những trở ngại xuất hiện khi bất cứ một trong các điều kiện vận hành của một trong hai cơ chế bị vi phạm Những trở ngại thường phát sinh nhất là:

- Sự can thiệp quá sâu của nhà nước vào các vấn đề vốn thuộc phạm vi giải quyết của cơ chế hai bên như quy định thang bảng lương, quy định điều kiện làm việc cụ thể hay cơ quan qunar lý nhà nước tham gia trực tiếp vào việc giải quyết mâu thuẫn tại doanh nghiệp hay giải quyết đình công khi đình công đã được xác định là bất hợp pháp…

- Sự lựa chọn thiếu tính đại diện của các tổ chức đại diện cho các bên tham gia vào

cơ chế ba bên như khi bàn về chính sách đối với lao động phổ thông tại trưng cầu các tổ chức đại diện cho tất cả các doanh nghiệp hoặc các doanh nghiệp sử dụng ít lao động phổ thông; khi bàn về lao động giúp việc nhà lại tham khảo ý kiến của tất

cả các tổ chức sử dụng lao động…

- Sự thiếu quyết đoán của nhà nước trong cơ chế ba bên có thể dẫn đến thất bại trong ơ chế ba bên, đặc biệt đối với các vấn đề dễ gây tranh cãi như tiền lương, mức lương tối thiểu…

- Thiếu sự vô tư của nhà nước trong việc ban hành và thực thi chính sách quan hệ lao động đối với người lao động hay người sử dụng lao động Chẳng hạn, nhà nước

Ngày đăng: 11/11/2022, 15:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w