1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài 7 lớp đảng viên mới năm 2022 mới nhất

30 22 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 97,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là bài giảng giáo án soạn nội dung chuyên đề số 7 thuộc chương trình lớp đảng viên mới. Giáo án được soạn theo chương trình của sách giáo trình mới nhất năm 2022 và đủ các bước lên lớp theo quy định của Ban tuyên giáo trung ương.

Trang 1

1 Tên bài giảng: Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

2 Thời gian giảng: 5 tiết

3.Mục tiêu:

a Về kiến thức: Học viên cần:

- Hiểu được quá trình hình thành, phát triển nhận thức của Đảng ta vềhội nhập quốc tế

- Hiểu được quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam

- Nắm bắt được những nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh hội nhập quốc tếcủa Việt Nam trong những năm tới

b Về kỹ năng: Có kỹ năng thuyết trình, thảo luận nhóm, tiếp cận vấn đềtheo hướng mở…

Phương tiện Thời gian

- Giới thiệu bài mới

- Giới thiệu nội dung, kết cấu bài

Trìnhchiếu,thuyết trình

I Quá trình hình thành, phát triển nhận

thức của Đảng ta về hội nhập quốc tế

Thuyếttrình, đặtcâu hỏi

Micro, máy chiếu 70III Nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh hội

nhập quốc tế của Việt Nam trong

những năm tới

Thuyếttrình

Micro,máy chiếu 70

Trang 2

B TÀI LIỆU PHỤC VỤ SOẠN GIẢNG

1 Tài liệu bắt buộc

Tài liệu bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho Đảng viên mới (Nhà xuất bảnChính trị quốc gia sự thật năm 2022)

2 Tài liệu tham khảo

2.1 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(bổ sung, phát triển năm 2011)

2.2.Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI, XII, XIII

2.3 Tạp chí Cộng sản; Tạp chí xây dựng Đảng, Tạp chí Tuyên giáo

C NỘI DUNG BÀI GIẢNG :

Chủ động, tích cực hội nhập Quốc tế là chính sách ngoại giao của nướcCộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Chính sách là chủ trương của Đại hội Đảnglần thứ XI Đây là đường lối ngoại giao thứ 4 sau khi Việt Nam đổi mới Chủtrương được xem là khá thành công trong năm 2011 và 2012 trong lĩnh vực đốingoại, và tiếp tục được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII phát triển thực hiện

Bài 7:

CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP QUỐC TẾ Phần I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG TA VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1 TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Theo các đồng chí “Hội nhập quốc tế là như thế nào”?

GV: Về khái niệm và nội hàm của hội nhập quốc tế, hiện có nhiều cách tiếp

cận Nước ta hội nhập quốc tế ban đầu từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,

có quan hệ quốc tế chủ yếu với các nước trong khối xã hội chủ nghĩa, cách tiếp cậncoi hội nhập là quá trình tương thích hóa luật lệ của nước ta với luật lệ chung củacộng đồng quốc tế là cách phù hợp nhất

Trang 3

Theo đó, hội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành

các hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc

=> Khoa học thực sự là lực lượng sản xuất trực tiếp.

* Khái niệm cách mạng khoa học công nghệ

? Hiện nay, cuộc sống con người phụ thuộc khá nhiều vào khoa học công nghệ không những trong hoạt động chuyên ngành mà còn trong cuộc sống thường nhật Tuy nhiên, đồng chí hiểu khoa học công nghệ là gì?

GV:Khoa học công nghệ là cách gọi tắt của cụm từ “khoa học và công

nghệ”, trong đó Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và pháttriển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy, Công nghệ là giải pháp, quytrình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiệndùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm

? Cách mạng Khoa học công nghệ là gì

GV: Mặc dù cho tới nay vẫn chưa có một công trình nào đưa ra một định

nghĩa dầy đủ và cụ thể về cuộc cách mạng khoa học công nghệ (KHCN) hiện đại.Song về đại thể, ở đây, có thể hiểu cuộc Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại

là sự thay đổi căn bản trong bản thân các lĩnh vực khcn cũng như mối quan hệ vàchức năng xã hội của chúng, khiến cho cơ cấu và động thái phát triển của các lựclượng sản xuất cũng bị thay đổi hoàn toàn Ở những nét khái quát nhất, có thểđịnhnghĩa cuộc cách mạng khcn hiện đại là sự biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất của

xã hội hiện đại, được thực hiện với vai trò dẫn đường của khoa học trong toàn bộchu trình: “khoa học - công nghệ - sản xuất - con người - môi trường”

Trang 4

Cách mạng khoa học - công nghệ là cuộc cách mạng có sự biến đổi về chất và sự kết hợp giữa những phát minh lớn lao trong các ngành khoa học và những phát triển trong kĩ thuật sản xuất, tạo thành một lực lượng sản xuất mạnh mẽ, trong đó nhấn mạnh yếu tố công nghệ.

Thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật Cuộc cáchmạng kỹ thuật lần thứ nhất diễn ra đầu tiên ở nước Anh vào 30 năm cuối thế kỷXVIII và hoàn thành vào những năm 50 đầu thế kỷ XX với nội dung chủ yếu là cơkhí hóa, thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Cuộc cáchmạng kỹ thuật lần thứ hai còn gọi là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiệnđại, xuất hiện vào những năm 50 của thế kỷ XX

Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại có ý nghĩa như một bước nhảyvọt mới của nền văn minh thế giới Góp phần làm thay đổi một cách cơ bản cácnhân tố sản xuất

- Sự xuất hiện của làn sóng đổi mới công nghệ, sự bùng nổ thông tin đã làm cho khoa học thực sự là lực lượng sản xuất trực tiếp Cách mạng khoa học – công nghệ tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, trở thành một trong những xu thế lớn của thế giới hiện đại.

? Thế giới đã trải qua mấy cuộc cách mạng công nghiệp

Gv: Nêu tóm tắt lại các cuộc cách mạng công nghiệp, dùng hình ảnh trình

chiếu minh họa

Lịch sử nhân loại đã trải qua bốn cuộc cách mạng công nghiệp Cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ nhất bắt đầu từ khi có đầu máy hơi nước của Jame Wattvào giữa thế kỉ XVIII, kéo dài cho đến giữa thế kỉ XIX với nền tảng công nghệ làcác phát minh cơ bản như máy hơi nước và công nghệ cơ khí như: máy kéo sợi,máy dệt, các lò luyện thép, tàu thủy, tàu hỏa chạy bằng hơi nước, sử dụng than đá

Nó diễn ra chỉ ở một số nước Tây Âu như Anh, Pháp, Ý, Hà Lan

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai từ giữa thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ

XX dựa trên nền tảng của các phát minh về động cơđốt trong, sử dụng dầu mỏ,động cơ diezen, ô tô, máy bay, máy phát điện và động cơđiện, sóng điện từ Nềntảng công nghệ là các công nghệ điện từ Nó diễn ra chủ yếu ở các nước Châu Âu

và Bắc Mĩ, cụ thể là Tây Âu, Hoa Kì, Liên Xô và Nhật Bản

Trang 5

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba diễn ra mạnh mẽ từ cuối những năm

1950 với các phát minh cơ bản trong nhiều lĩnh vực như máy vi tính, robot, các vậtliệu siêu bền, siêu dẫn, siêu cứng, polime, năng lượng nguyên tử, vệ tinh nhân tạo,tàu du hành vũ trụ, máy bay siêu thanh và hàng loạt các công nghệ mới như côngnghệ vi sinh, công nghệ gen, công nghệ thông tin, công nghệ số

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư dựa trên nền tảng và theo đà pháttriển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, trên nền tảng giai đoạn phát triểnmới của cách mạng KHCN, nó nảy sinh với các công nghệ mới và các thiết bị mới,

mà trước hết là trí tuệ nhân tạo, công nghệ in 3D, công nghệ tự hành, thiết bị đầucuối “All in One”, internet vạn vật, điện toán đám mây - dữ liệu lớn, các công nghệsinh học liên kết thế hệ mới, công nghệ vật liệu cao cấp, công nghệ tự động hóarobot thế hệ mới có “trí tuệ”,…

- Với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, phương pháp làm ra sản phẩm ( có thể hiểu là công nghệ) đã có sự thay đổi cơ bản Nhờ những tiến bộ sâu sắc của chùm công nghệ cao, nổi bật nhất là công nghệ thông tin đã hình thành “ xã hội thông tin” làm xuất hiện nền “kinh tế tri thức” Sự phát triển của mỗi quốc gia ngày càng ít dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà chủ yếu dựa vào tri thức khoa học và công nghệ Thông tin trở thành nguồn nguyên liệu đặc biệt, là yếu tố đầu vào của hệ thống sản xuất, của quản lý, là công cụ để sáng tạo của cải, chìa khóa của an ninh - kinh tế - xã hội.

Cách mạng khoa học - công nghệ làm xuất hiện những ngành khoa học mới,tạo ra cách mạng công nghiệp 3.0 và 4.0 với nhiều ngành công nghiệp mới và làmchúng phát triển nhanh chóng, có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền công nghiệp vàđời sống xã hội Nó cũng làm biến mất nhiều ngành công nghiệp đãđược tạo ratrước đây, đã từng thống trị, chi phối nền sản xuất Cùng với việc sử dụng các côngnghệ tổ hợp đa thành phần trong cùng một chu trình sản xuất thay cho phương thứccông nghệ một thành phần, nó đang tạo ra bước ngoặt trong sự phát triển các lựclượng sản xuất, tạo ra hai cuộc cách mạng công nghiệp, và do vậy, nó đang cảibiến toàn bộ nền sản xuất xã hội nói chung

- “Xã hội thông tin”, “kinh tế tri thức” đã làm thay đổi nhận thức, ứng

xử với thiên nhiên đã làm thay đổi nhận thức, cách ứng xử với thiên nhiên, cách làm việc, lối sống và phương thức tiêu dùng…của con người Kinh tế gắn liền với xã hội, văn hóa và môi trường Trong sự phát triển của xã hội, người

Trang 6

ta ngày càng chú trọng tới các lĩnh vực văn hóa, đạo đức, lối sống, xã hội, cộng đồng…

Thông tin và tri thức khoa học trở thành yếu tố đặc biệt quan trọng của sảnxuất và đời sống xã hội, ngày càng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển củacác lực lượng sản xuất, tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, trở thành động lựccủa sự phát triển của cả sản xuất, con người và xã hội Cách mạng khoa học - côngnghệ đã tạo ra môi trường xã hội đặc biệt Đó là môi trường thông tin, trong đó laođộng thể lực được thay thế bằng lao động trí tuệ với những phẩm chất và năng lựctinh thần, đòi hỏi tính chất sáng tạo, độc đáo, cá nhân hóa Thông tin, tri thức khoahọc trở thành điều kiện, môi trường, nhân tố cấu thành và nội dung thiết yếu củaquá trình sản xuất, là nguồn tạo ra của cải vô tận, là nguồn lực đặc biệt của sự pháttriển con người và xã hội

b Những tác động của khoa học công nghệ đến đời sống kinh tế - xã hội

? Theo các đồng chí cách mạng KHCN có những tác động như thế nào đến đời sống chúng ta

GV: khái quát lại những tác động tiêu cực, tích cực của cách mạng KHCN

tới đời sống kinh tế, xã hội

* Tích cực:

- Tăng năng suất lao động, mức sống và chất lượng cuộc sống của con ngườiđược nâng cao Thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, từ đó dẫn đến nhữngthay đổi lớn về cơ cấu dân cư, chất lượng nguồn nhân lực, những đòi hỏi mới vềgiáo dục và đào tạo nghề nghiệp, sự hình thành một thị trường thế giới và xu thếtoàn cầu hóa

+ Trên thế giới cũng xuất hiện thêm nhiều vấn đề toàn cầu, liên quan đến sựphát triển kinh tế, cách mạng công nghệ, như ô nhiễm môi trường, biến đổi khí

Trang 7

hậu, phân hóa giàu nghèo, công bằng, bình đẳng trong phát triển, những vấn đề vănhóa, xã hội và đạo đức đòi hỏi sự phối hợp nỗ lực của các quốc gia, dân tộc đểcùng giải quyết.

- Từ vai trò quyết định của nhân tố con người, cách mạng KH - CN, kinh tế tri thức, xã hội thông tin…đòi hỏi giáo dục và đào tạo phải đổi mới, hiện đại hóa một cách căn bản và toàn diện Quan niệm về giáo dục và mục tiêu đào tạo đã thay đổi Đó là xã hội học tập, học tập suốt đời; giáo dục chuyển mạnh sang từ truyền thụ kiến thức là chủ yếu sang nâng cao năng lực

và phẩm chất của người học

Nhân tố quyết định trong việc vận dụng và phát triển cách mạng KHCN hiệnđại không phải là nguồn lực tài chính, không phải là hệ thống máy móc thiết bị,cũng không phải là điều kiện tự nhiên và lịch sử văn hóa, mặc dù chúng vẫn đóngvai trò quan trọng, mà đó là nguồn lực con người và thể chế Tuy nhiên, khi nóiđến nguồn lực con người thì đó không phải là nguồn lực con người nói chung màchính là nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, côngnghệ, quản lí và kinh doanh Đó là những lực lượng đầu tàu, vừa giữ vai trò địnhhướng, vừa giữ vai trò động lực thúc đẩy việc xây dựng và phát triển tiềm lực khoahọc và công nghệ của quốc gia Không có nguồn nhân lực chất lượng cao trongnhững lĩnh vực đó thì không thể vận dụng có hiệu quả các thành tựu của cáchmạng KHCN, càng không thể tiếp nhận cách mạng KHCN hiện đại vào nước ta.Nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này không phải là những người cóbằng cấp cao hoặc có chức vụ quản lí trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xãhội mà là những chuyên gia đã có nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực chuyên môncủa mình, có năng lực, có tài năng đãđược thực tiễn xác nhận, có đóng góp cho sựphát triển của khoa học, công nghệ và công nghiệp Đây là đội quân chủ lực củacách mạng KHCN, của cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tưđang đến

- Mỗi người đều có khả năng và cần phải biết tự làm mới những tri thức vàcập nhật thông tin cho mình Giáo dục và đào tạo không dừng lại là lĩnh vực phúclợi của xã hội mà được coi là một ngành kinh tế - xã hội đặc biệt, đầu tư cho lĩnhvực này là đầu tư ứng trước, đầu tư chiều sâu cho phát triển Cuộc cạnh tranh giữacác nước bao gồm cả cuộc tranh đua, bứt phá trong giáo dục và đào tạo

- Tuy vậy, những tiến bộ của khoa học, công nghệ đã diễn ra không đều giữa các nước và các khu vực Khả năng tiếp cận và việc sử dụng các tiến bộ

Trang 8

khoa học, công nghệ của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ hoàn cảnh lịch sử, năng lực nội sinh đến các tác động từ bên ngoài, trong đó có các nước tư bản phát triển có nhiều lợi thế, còn các nước đang phát triển và chậm phát triển có nhiều khó khăn, thách thức.

Ở nước ta hiện nay, qua nhiều thập kỉ phát triển, một mặt, đội ngũ nguồnnhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học, kĩ thuật và công nghệ đãđượcxây dựng và phát triển đông đảo chưa từng có Nhiều thành tựu khoa học, kĩ thuật

và công nghệ to lớn, thúc đẩy sự phát triển đất nước gắn liền với đội ngũ nguồnnhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này Nhưng, trên nhiều bình diện, đội ngũnguồn nhân lực chất lượng cao đó vẫn chưa đáp ứng được những đòi hỏi của côngcuộc xây dựng và phát triển đất nước ở giai đoạn mới hiện nay của cách mạngKHCN, đặc biệt trong giai đoạn cách mạng công nghiệp lần thứ tưđang đến

1.2 Toàn cầu hóa kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan ngày càng

có nhiều nước tham gia

* Khái niệm

- Khái niệm toàn cầu hoá và toàn cầu hoá kinh tế

+Toàn cầu hoá:

Khái niệm Toàn cầu hóa lần đầu tiên được đưa vào Từ điển tiếng Anh củaWebster năm 1961; đến năm 1980, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi Toàn cầuhoá là bước phát triển cao của quá trình quốc tế hóa, là giai đoạn chuyển biến vềchất của quá trình quốc tế hóa

Toàn cầu hóa bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, từ tính chất

xã hội hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế Ngày nay, toàn cầu hóa đã trở thành một

xu thế khách quan, một hiện thực sống động của thế giới, tác động nhiều mặt đến

sự phát triển của tất cả các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới; đặt mỗi quốc giatrước những thời cơ và cả những thách thức to lớn, nhất là các nước đang pháttriển, trong đó có Việt Nam

+ Toàn cầu hoá kinh tế

Toàn cầu hóa trước hết và chủ yếu là toàn cầu hóa kinh tế Toàn cầu hóakinh tế là sự dịch chuyển tự do các yếu tố của quá trình tái sản xuất từ nước nàysang nước khác trên phạm vi toàn cầu, với những biểu hiện:

Trang 9

-> Các dòng hàng hóa, dịch vụ, kỹ thuật, vốn, nguồn nhân lực, ngày càngvượt qua biên giới quốc gia, lưu thông trên phạm vi toàn cầu ngày càng tự do hơn.

-> Sự liên kết chặt chẽ về kinh tế của các nước trên thế giới thành các luồngphân phối lưu thông, các nguồn lực kinh tế toàn cầu, hình thành mạng lưới sảnxuất và chuỗi giá trị toàn cầu, kết nối thế giới

-> Nền kinh tế các nước trên thế giới ngày càng mở cửa và hội nhập, ảnhhưởng và chế ước lẫn nhau; hình thành các hiệp định thương mại tự do songphương và đa phương Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thếkhách quan

GV:trình chiếu các câu hỏi trắc nghiệm đã chuẩn bị để học viên lựa chọn

phương án đúng sai về nhưng tác động tích cực, tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa

GV: trao đổi thêm trong giai đoạn hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế nổi lên một

số đặc điểm chủ yếu… Toàn cầu hóa kinh tế diễn ra ngày càng sâu rộng, mạnh mẽ

về quy mô, mức độ và hình thức thể hiện, với nhiều tầng nấc khác nhau trong sựđan xen của những nhân tố thuận và nghịch; Các cường quốc tư bản là lực lượngchủ đạo, đang chi phối quá trình toàn cầu hóa, là động cơ thúc đẩy và là người thulợi chủ yếu từ quá trình toàn cầu hóa; Toàn cầu hóa hiện nay chứa đựng nhữngnhân tố bất bình đẳng; hố ngăn cách giữa các nước phát triển và đang phát triểnngày càng tăng, khoảng cách giàu - nghèo giữa các nước và trong từng nước ngàycàng lớn; Toàn cầu hóa không chỉ là toàn cầu hóa kinh tế mà đang diễn ra trên cáclĩnh vực khác của đời sống xã hội: chính trị, an ninh, văn hóa, khoa học, côngnghệ

- Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa kinh tế ngày càng gia tăng cả về bề rộng

và chiều sâu do sự tác động mạnh mẽ của các nhân tố sau đây:

Một là, sự tác động trực tiếp của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ.Hai là, sự chi phối mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia (TNC)

Ba là, các tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại quốc tế đóng vai trò thúcđẩy tiến trình toàn cầu hóa Đó là các tổ chức như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF),Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),

Toàn cầu hóa kinh tế là một quá trình phức hợp, đầy mâu thuẫn, có tính chấthai mặt, chứa đựng cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực, cả thời cơ và thách thức đối

Trang 10

với tất cả các quốc gia, trong đó các nước đang phát triển, chậm phát triển chịunhiều thách thức gay gắt hơn

Sớm nhận thức xu thế toàn cầu hóa và hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đãchủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, rồi hội nhập quốc tế (từĐại hội XI), đồng thời đãđề ra nhiều chính sách, biện pháp để nâng cao hiệu quảhội nhập quốc tế, đưa hội nhập quốc tế đi vào chiều sâu, phát huy mặt tích cực,ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập; phát huy tối đanội lực, khai thác ngoại lực, biến ngoại lực thành nội lực, biến thách thức thành cơhội, biến cơ hội thành sức mạnh thực tế để đổi mới và phát triển đất nước

Đại hội XII, XIII của Đảng dự báo trên thế giới “Quá trình toàn cầu hóa vàhội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh”

3 Xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế là các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác, cùng tồn tại trong hòa bình

Toàn cầu hóa làm cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn Marx nhận xét

"Với sự phát triển của giai cấp tư sản, tự do buôn bán, thị trường thế giới, sự đồngđều của sản xuất công nghiệp và những điều kiện sinh hoạt thích ứng với nền sảnxuất ấy thì những sự cách biệt dân tộc và những sự đối lập giữa nhân dân các nướccũng ngày càng mất đi "

Toàn cầu hoá sẽ làm tăng lên nhiều lần các mối quan hệ giữa các công dântrên thế giới và cũng như các cơ hội cho từng người Tuy nhiên nó đặt ra vấn đề làphải tìm ra một giải pháp thay thế cho hệ thống chính trị và hiến pháp hiện tại dựatrên khái niệm nhà nước-quốc gia Các thực thể này đã từng gây ra những tác độngtiêu cực trong suốt lịch sử do tính chất can thiệp mạnh bạo của nó Ảnh hưởng củachúng giảm dần do sự toàn cầu hoá, và không còn đủ tầm xử lý nhiều thách thứcmang tính toàn cầu ngày nay

Tuy nhiên, thế giới ngày càng chia sẻ những vấn đề và thách thức vượt quakhỏi quy mô biên giới quốc gia, nhất là vấn đề ô nhiễm môi trường tự nhiên, vànhư vậy phong trào được biết đến trước đây với tên gọi phong trào chống toàn cầuhoá từ nay đã biến thành một phong trào chung của các phong trào vì toàn cầu hoá;

họ tìm kiếm, thông qua thử nghiệm, các hình thức tổ chức xã hội vượt qua khỏikhuôn khổ nhà nước quốc gia và nền dân chủ đại diện Do đó, cho dù các lý lẽ củaphe chống toàn cầu hoá lúc ban đầu có thể bác bỏ thông qua các thực tế về quốc tếhoá như ở trên, song sự xuất hiện của một phong trào toàn cầu là không thể chối

Trang 11

cãi và do đó chúng ta có thể nói về một tiến trình thực sự hướng tới một xã hộinhân bản ở quy mô toàn cầu của tất cả các xã hội.

4 Quá trình phát triển kinh tế thị trường và các khu vực mậu dịch tự do

a Quá trình phát triển kinh tế thị trường

+ Quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trườngthế giới đa phần bắt đầu từ sự phát triển của sản xuất hàng hóa trong nước, hìnhthành thị trường dân tộc thống nhất, đồng thời ở một số nước xã hội chủ nghĩa còn

là quá trình chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thịtrường

Đại hội IX của Đảng (2001), lần đầu tiên xác định nền kinh tế nước ta là

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đó là mô hình kinh tế tổngquát của nước ta trong thời kỳ quá độ

Đại hội XI của Đảng (2011) đã ban hành Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu ra 8phương hướng cơ bản cần quán triệt và thực hiện tốt, trong đó xác định phát triểnnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Đến Đại hội XII của Đảng (2016), Đảng ta có bước tiến mới trong nhậnthức, quan điểm khi khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaViệt Nam là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế; vận hành đầy đủ,đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường; đồng thời có sự quản lý của Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo

Trang 12

đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đấtnước.

Kế thừa Đại hội XI, XII, Đại hội XIII của Đảng (2021) xác định: “Kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước tatrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại,hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thịtrường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộngsản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn pháttriển của đất nước”

GV: các đ/c học viên tham khảo thêm trong bài viết “Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”,Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát chỉ rõ 4 nội dung cốt lõi trong nhậnthức về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

b, Quá trình phát triển các khu vực mậu dịch tự do

Khu vực mậu dịch tự do là hình thức liên kết kinh tế quốc tế trong trong đócác nước thành viên thỏa thuận với nhau về việc giảm hoặc xóa bỏ hàng rào thuếquan và các biện pháp hạn chế về số lượng, tiến tới hình thành một thị trườngthống nhất về hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên các nước thành viên vẫn giữ đượcquyền độc lập tự chủ trong quan hệ buôn bán với các nước ngoài khu vực

- Quá trình phát triển các khu vực mậu dịch tự do

+ Cơ sở của liên kết kinh tế song phương và khu vực là lợi ích chung củacác nước thành viên trong cạnh tranh, hợp tác quốc tế, tạo nên quá trình khu vựchóa kinh tế quốc tế

+ Vì lợi ích của minh mà mỗi quốc gia lựa chọn hội nhập khu vực trong một

số lĩnh vực, đồng thời thúc đẩy hội nhập toàn cầu trong một số lĩnh vực khác ởtừng thời kỳ nhất định

Khu vực mậu dịch tự do là hình thức liên kết kinh tế quốc tế trong đó cácnước thành viên thỏa thuận với nhau về việc giảm hoặc xóa bỏ hàng rào thuế quan

và các biện pháp hạn chế về số lượng, tiến tới hình thành một thị trường thống nhất

về hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên các nước thành viên vẫn giữ được quyền độclập tự chủ trong quan hệ buôn bán với các nước ngoài khu vực Nói cách khác,

Trang 13

những thành viên của FTA có thể duy trì những thuế quan riêng và những hàng ràothương mại khác đối với thế giới bên ngoài

Tóm lại, Cách mạng khoa học - công nghệ; Toàn cầu hoá kinh tế; Xu thế

chủ đạo trong quan hệ quốc tế là các nước có cùng chế độ chính trị khác nhau vừađấu tranh vừa hợp tác, cùng tồn tại trong hoà bình; quá trình phát triển kinh tế thịtrường và các khu vực mậu dịch tự do là những yêu cầu khách quan của hội nhậpquốc tế trong giai đoạn hiện nay được chỉ ra trong Nghị quyết Đại hội XIII củaĐảng

Phần II QUAN ĐIỂM CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG TA

1 Quá trình hình thành chính sách hội nhập quốc tế của Đảng ta

a Về hội nhập kinh tế quốc tế

Quá trình hội nhập của nước ta đã bắt đầu từ khi thành lập nước Ngay saukhi thành lập nước Việt nam dân chủ cộng hòa, nhà nước ta chủ trương thamgia các thể chế kinh tế Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trong đó có chiến tranhkéo dài và cục diện đối đầu hai cực trên thế giới, nước ta bị bao vây cấm vận nhiềunăm, quan hệ kinh tế quốc tế của nước ta chủ yếu là với các nước xã hội chủ nghĩa.Nhưng nếu xét theo các tiêu chí của hội nhập quốc tế hiện nay, có thể nói, quátrình đổi mới tư duy về hội nhập quốc tế của Đảng ta phát triển song song với sựnghiệp đổi mới:

- Được Đại hội VI (12-1986) khởi xướng; Cho đến Đại hội VII (6-1991),khái niệm hội nhập chưa xuất hiện trong các văn kiện của Đảng ta, nhưng nhậnthức của Đảng ta về quá trình “quốc tế hóa” đã tạo tiền đề quan trọng để phát triển

tư duy về hội nhập quốc tế Thực tế, quá trình hội nhập quốc tế của nước ta bắt đầuđược triển khai thông qua việc bình thường hóa và thiết lập quan hệ với TrungQuốc, Mỹ, Hàn Quốc, Ixraen, và các tổ chức quốc tế như: Quỹ Tiền tệ Quốc tế(IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tháng 10-

Trang 14

theo các chuẩn mực quốc tế (1995), gia nhập Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM)năm 1996, và Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Yên Bái Dương (APEC) năm

1998 Cũng trong giai đoạn này, nước ta đã nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thươngmại thế giới (WTO) (1995)

- Đến Đại hội IX (4-2001) và tiếp đó Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số07-NQ/TW ngày 27-11-2001 Về hội nhập kinh tế quốc tế, đề ra chín nhiệm vụ cụthể, trong đó có việc tích cực đàm phán gia nhập WTO

- Đại hội X (4-2006) đề ra chủ trương “Chủ động và tích cực hội nhập kinh

tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác”

b Chủ trương hội nhập quốc tế

- Chủ động, tích cực hội nhập Quốc tế là chính sách ngoại giao của nướcCộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Chính sách là chủ trương của Đại hội Đảnglần thứ XI Đường lối được thay đổi từ "chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốctế" sang "chủ động, tích cực hội nhập quốc tế"

- Sau những thành công bước đầu trong Đại hội XI về công tác ngoại giao,hội nhập quốc tế Đại hội Đảng toàn quốc khóa XII tiếp tục xác định: “thực hiệnnhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đadạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ ngoại giao; chủ động và tích cực hội nhậpquốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy, là thanh viên có trách nhiệm của cộng đồng quốctế”; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàumạnh", đề ra chủ trương "nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiệnđầy đủ các cam kết quốc tế, xây dựng và triển khai chiến lược tham gia các khuvực mậu dịch tự do với các đối tác kinh tế, thương mại quan trọng, ký kết và thựchiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổngthể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích của đất nước… Đẩy mạnh hội nhậpquốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo vàcác lĩnh vực khác"

Đại hội Đảng toàn quốc khóa XIII, khẳng định "tiếp tục thực hiện đường lốiđối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá; chủ động và tích cực hộinhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hoà bình, ổnđịnh, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam Đa phương hóa,

đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác.Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những

Trang 15

biến động của bên ngoài; chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nềnkinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế.Thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phùhợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn".

Trong thời gian từ Đại hội XI đến nay, quan điểm của Đảng và Nhà nước về

"toàn cầu hóa" và "hội nhập quốc tế" ngày càng đầy đủ và đóng vai trò hết sứcquan trọng đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triểncủa Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Từ nhận thức "quốc tế hóa"

đã phát triển thành nhận thức "toàn cầu hóa kinh tế" và đi đến nhận thức về "toàncầu hóa" Trên cơ sở thực tiễn về "toàn cầu hóa", đưa ra chủ trương "chủ động hộinhập kinh tế quốc tế và khu vực", "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế,đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác" và sau là chủ trương

"chủ động, tích cực hội nhập quốc tế", "nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốctế", "đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học - côngnghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác"

2 Những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập

a Mục tiêu

Hội nhập quốc tế phải nhằm củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đacác điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng caođời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ

và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quảng bá hình ảnh ViệtNam, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốcgia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệphòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới

b Quan điểm chỉ đạo

1 Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững đường lối đốingoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì hòa bình, hợp tác và phát triển,chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; quántriệt và vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải quyết tốt các mối quan

hệ lớn được tổng kết trong Cương lĩnh; đồng thời chú trọng một số quan điểmsau:Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn của Đảngnhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa

Ngày đăng: 11/11/2022, 14:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w