1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Năng lượng, phát triển bền vững và Việt Nam docx

16 419 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 424,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ phân tích đó, chúng tôi xin phác họa một mô hình chiến lược cung ứng và tiêu thụ năng lượng để Việt Nam tiếp tục phát triển bền vững Những số liệu chúng tôi dẫn chứng và dùng để tính

Trang 1

Năng lượng, phát triển bền

vững và Việt Nam

KS Đặng Đình Cung , Kiều bào Pháp

Phát triển bền vững là một chiến lược phát triển kinh tế xã hội nhằm thỏa mãn nhu

cầu hiện nay mà không làm nguy hại đến khả năng những thế hệ sau đáp ứng được

nhu cầu của họ Một vế của chiến lược bền vững là cung ứng và tiêu thụ năng

lượng Làm gì để vẫn còn có thể tiếp tục cung ứng năng lượng khi những nguồn

năng lượng không tái tạo sẽ cạn và tiêu thụ năng lượng ra sao để không vi phạm

đến môi trường tự nhiên ?

Trong một bài trước, chúng tôi có trình bày một số yếu tố đóng góp vào giải đáp

vấn đề này Trong bài này chúng tôi xin phân tích vị trí chiến lược của ngành năng

lượng Việt Nam Từ phân tích đó, chúng tôi xin phác họa một mô hình chiến lược

cung ứng và tiêu thụ năng lượng để Việt Nam tiếp tục phát triển bền vững

Những số liệu chúng tôi dẫn chứng và dùng để tính và vẽ các họa đồ trong bài này

do EIA, IEA, UNEP, WEC, APERC và TCTK cung cấp Chúng tôi cập nhật kinh

nghiệm cá nhân về năng lượng từ những sách giáo khoa mới được xuất bản, từ

những thông số kỹ thuật do ADEME và IFP cung cấp và, chủ yếu, từ báo cáo

"2007 Survey of Energy Resources" cuả WEC

Các sách báo chuyên môn dùng nhiều đơn vị năng lượng khác nhau Để tiện việc

so sánh và để dùng một đơn vị nhiều người biết đến và quen dùng, trong bài này

chúng tôi chuyển những số liệu đã được công bố sang đơn vị TWh (Têra watt giờ,

một triệu kWh) hay kWh (Kilô watt giờ) thường dùng trong ngành điện

PHẦN 1 – PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC

Trang 2

Điểm mạnh

Những nguồn năng lượng

Ưu điểm chính của Việt Nam là chỉ số độc lập năng lượng cao Năm 2005, chỉ số này là 158 phần trăm, gấp đôi chỉ số trung bình của tất cả các nước Châu Á và Châu Đại Dương (bảng 1) Từ 1996 đến 2005, mỗi năm chỉ số đó tăng trung bình 1,5 điểm % nhờ mỗi năm sản xuất tăng trung bình 8,7 % và tiêu thụ chỉ tăng trung bình có 7,1 phần trăm

Bảng 1 : Sản xuất và tiêu thụ năng lượng cơ bản của Việt Nam và của một số quốc gia Châu Á và Châu Đại Dương (Tính từ số liệu của EIA, 2005)

* Tiêu thụ Tiêu thụ Sản xuất Sản xuất Chỉ số độc lập

Châu Á và Châu Đại

Ghi chú :

1 Sản xuất và tiêu thụ tính cho năm 2005

2 Chỉ số độc lập về năng lượng tính cho năm 2005

3 Tăng trưởng trung bình hàng năm tính từ 1996 đến 2005

Trang 3

Ưu điểm này được tăng cường bởi điều kiện tự nhiên thuận lợi

1 38 % nguồn năng lượng cơ bản là năng lượng tái tạo So với 13 % trung bình của thế giới, đây là một tỷ lệ rất lớn Ở dạng cơ bản, chất đốt rắn tái tạo và rác dồi dào hơn dầu thô và than đá (bảng 2) Nguồn năng lượng này cung ứng hơn một nửa năng lượng khả dụng của Việt Nam

Bảng 2 – Sản xuất, cung ứng và và tiêu thụ năng lượng (Tính từ số liệu của IEA, 2005)

* Cơ bản (TWh) Cung ứng (TWh) Khả dụng (TWh)

Chất đốt rắn tái tạo và rác 279 279 270

2 Với hơn 3400 km bờ biển và nhiều sông với lưu lượng nước lớn, khả năng xây nhà máy nhiệt điện của Việt Nam có thể coi là vô tận Một nhà máy nhiệt điện, cổ điển hay hạt nhân, cần đến nhiều nước để làm nguội bộ ngưng và cũng cần đến một bến cảng chuyên dụng để tiếp nhận nhiên liệu Một nhà máy nhiệt điện phải được xây ở bờ biển hay bờ một sông lớn và, nếu có thể, ở một nơi có thể xây bến cảng Đa số người Việt Nam sống gần bờ biển hay bờ sông Tải điện từ những nhà máy nhiệt điện đến nơi tiêu dùng không tốn kém mấy

3 Tiềm năng kinh tế của thủy điện ( tính với giá năng lượng năm 2005 ) là 78 TWh mỗi năm Việt Nam mới khai thác chưa tới phần tư tiềm năng kinh tế đó và non 15 % tiềm năng kỹ thuật (bảng 3) Tiềm năng kinh tế đó mỗi ngày mỗi tăng với gia tăng của giá năng lượng trên thị trương quốc tế Trong vòng vài năm nữa những nhà máy đang lắp đặt thêm sẽ nhân đôi sản lượng thủy điện Đây là tỷ số tăng trưởng cao nhất thế giới

Bảng 3 – Tiềm năng và công suất của thủy năng ( WEC, 2005 )

Trang 4

* Tiềm năng (TWh/năm)

4 Nông nghiệp sinh ra nhiều phụ phẩm và phế liệu có thể dùng làm nguồn năng lượng sinh học Việt Nam là một nước xuất khẩu nông nghiệp có tầm vóc lớn và nông nghiệp Việt nam tăng trưởng khoảng 4 % mỗi năm Trong số những chất đốt rắn thì Việt Nam có nhiều củi gỗ, phế liệu những nhà máy chế biến gỗ, phế liệu nông phẩm và rác đô thị Thêm vào đó, bờ biển dài cho phép lập nhiều trại trồng rong làm nguyên liệu để sản xuất nhiên liệu sinh học

5 Tiềm năng của năng lượng gió có thể dự đoán là rất lớn vì Việt Nam ở vùng gió mùa thổi và bờ biển dài với đáy biển nông cho phép lập nhiều trang trại phong điện (wind power farm) Nếu lắp đặt những trại phong điện ở ngoài khơi thì giảm được

ô nhiễm thẩm mỹ và ô nhiễm âm thanh Những quạt phong điện sẽ hoàn vốn mau hơn trung bình những nước khác nhờ đáy biển nông và gió ở ngoài khơi thổi đều dặn suốt năm

6 Những nguồn năng lượng tái tạo khác chưa được khai triển nhưng tiềm năng cũng có nhiều dấu hiệu lạc quan :

- Những hệ thống dùng bản mặt trời để hấp thụ năng lượng mặt trời sẽ hoàn vốn mau hơn những nước khác nhờ mặt trời chiếu đều đặn quanh năm,

- Dọc bờ biển miền Trung có một luồng nước ngầm có thể chạy những tuabin khai thác năng lượng biển,

- Những suối nước nóng tự nhiên trên khắp lãnh thổ là dấu hiệu một nguồn năng lượng từ lòng đất tiềm tàng quan trọng

Tất cả những tiềm năng này cần được xác định chính xác hơn

Trang 5

Tiêu thụ năng lượng

Cơ cấu năng lượng tiêu thụ ở Việt Nam thuộc loại thân thiện với môi trường :

- Hơn một nửa năng lượng khả dụng là năng lượng tái tạo ( bảng 2 và hình 1 ),

- Tổng cộng 80 % điện lực được sản xuất từ thủy năng và khí đốt (hình 2), hai loại năng lượng dùng để sản xuất điện ô nhiễm môi trường ít nhất

Hình 1 – Tiêu thụ năng lượng chia theo nguồn năng lượng (Tính từ số liệu của IEA, 2005)

Trang 6

Hình 2 – Tiêu thụ năng lượng để sản xuất điện chia theo nguồn năng lượng (Tính

từ số liệu của IEA, 2005)

1 Theo EIA, năm 2005, tổng công suất những nhà máy điện của Việt Nam là 11,3

MW sản xuất 51,3 TWh Từ mười năm nay, công suất tăng trung bình 9,4 % mỗi năm và sản lượng điện tăng 7,1 % mỗi năm Những tỷ số tăng trưởng này lớn hơn gấp hai lần trung bình các nước Châu Á và Châu Đại Dương (bảng 4)

Bảng 4 Sản xuất và tiêu thụ điện của Việt Nam và một số quốc gia Châu Á và Châu Đại Dương (Tính từ số liệu của EIA, 2005)

Công suất lắp đặt

*

Trang 7

Indonesia 105 6,2 120 6,3 23 3,7

Trung Quốc 2197 8,7 2372 8,6 442 7,1

Châu Á và

Châu Đại

Dương

Ghi chú :

a Sai biệt giữa sản xuất và tiêu thụ là do xuất hay xuất nhập khẩu điện và mất điện trên đường dây tải điện

b Sản xuất, tiêu thụ và công suất lắp đặt tính cho năm 2005

c Tăng trưởng trung bình hàng năm tính từ 1996 đến 2005

2 Đốt khí tự nhiên thải ít bụi và ít khí có hiệu ứng nhà kính hơn là đốt than và sản phẩm dầu Theo thống kê của IEA, năm 2005, Việt Nam sản xuất 72,1 TWh khí tự nhiên trong đó 56,0 TWh đã được dùng để sản xuất 20,6 TWh điện Nhờ dùng tuabin khí với chu trình kết hợp hiệu suất năng lượng đạt 37 phần trăm, hơn hiệu suất trung bình của thế giới một chút

3 Than Việt Nam chủ yếu đào từ vùng mỏ Quảng Ninh Đây là loại than anthracit, nghĩa là một loại than có hàm lượng năng lượng cao Hiện nay chính phủ không cho xuất khẩu than để dành than chạy những nhà máy nhiệt điện Vì những nhà máy đã được xây trong thời gian gần đây nên thụ hưởng công nghệ CCT (Clean Coal Technology, Công nghệ Than Sạch), ít ô nhiễm hơn những nhà máy cũ của các nước láng giềng

4 Hầu như tất cả lưu vực các sông Việt Nam đều có thể được quy hoạch thành thang thủy lợi Đây là phương pháp tối ưu việc cung ứng nước cho thủy điện cũng như cho các nhu cầu của nông nghiệp, giao thông, du lịch, giải trí, Trên phương diện kinh tế, điện của giờ cao điểm được tích trữ dưới dạng nước được bơm lên

Trang 8

những hồ tích năng và, vào những giờ thấp điểm, nước ở trong những hồ tích năng

đó sẽ được quấy ráo để sản xuất điện trở lại

Điểm yếu

Khuyết điểm lớn nhất của ngành năng lượng Việt Nam là sự phung phí tài nguyên năng lượng và khả năng tài chính để đầu tư vào những cơ sở sản xuất năng lượng

Những nguồn năng lượng

1 Chất đốt rắn tái tạo và rác tổng cộng hơn một nửa lượng năng lượng khả dụng đã được tiêu thụ Nhưng tỷ lệ đó biểu hiện một nước lạc hậu người dân đốt củi, than củi và phế liệu của nông nghiệp để nấu thức ăn và dùng vào vài sinh hoạt khác Rừng cây bị phá để có củi và than củi Những phế liệu nông nghiệp bị đốt thay vì dùng làm phân bón tự nhiên

2 Điện là nguyên do chính của những khó khăn hiện nay của Việt Nam về năng lượng :

- Nhầm lẫn công suất, tính bằng mêga watt, và năng suất, tính bằng têra watt giờ mỗi năm, của một dự án nhà máy điện,

- Không tính hay tính sai tỷ số lợi nhuận trước khi thực hiện những dự án,

- Không dự trù khả năng cân bằng cung ứng với biến đổi của nhu cầu ở mỗi thời điểm

Những mêga watt đo khả năng sản xuất điện ở một thời điểm nào đó còn những têra watt giờ đo lượng điện đã được cung ứng Hai nhà máy điện, đặc biệt hay nhà máy thủy điện, cùng công suất không nhất thiết có cùng một năng suất Cộng

những công suất để dự báo lượng điện sẽ được cung ứng dẫn tới thiếu hụt giữa thực tế và dự báo

Xây một nhà máy thủy điện thì sau này sẽ có điện gần như miễn phí Nhưng so với một nhà máy nhiệt điện thì nhu cầu vốn đầu tư cho một đơn vị công suất của một nhà máy thủ điện cao hơn và thời gian để hoàn tất công trình cũng lâu hơn Kết quả

là một nhà máy nhiệt điện hoàn vốn mau hơn, vốn hoàn lại đó có thể dùng để xây dựng một công trình khác Như thế, một hệ thống nhà máy nhiệt điện có thể tăng trưởng mau hơn là một hệ thống thủy điện Chúng tôi không đi sâu hơn vào

phương pháp tính tỷ số lợi nhuận để tuyển lựa giữa những dự án khác nhau

Trang 9

Một nhà máy thủy điện có thể phản ứng trong vòng vài phút để phát điện hay

ngưng phát điện, một nhà máy nhiệt điện cần đến vài giờ và một nhà máy điện hạt nhân cần đến vài ngày Vì thế người ta thường dùng thủy điện để cân bằng mạng phân phối điện chứ ít khi dùng để sản xuất lượng điện cơ sở Thêm nữa, lượng mưa

có thể biến đổi từ mùa này sang mùa khác, từ năm này sang năm khác Dùng thủy điện làm cơ sở thì những mùa hạn hán, những năm mưa ít sẽ thiếu điện

Vì ba sai lầm đó mà Việt nam đang thiếu điện và thiếu vốn để xây những công trình sản xuất điện

3 Thay vì có một chính sách năng lượng phù hợp với hoàn cảnh kinh tế và thiên nhiên, Việt Nam chạy theo thị hiếu đương thời với những dự án phiêu lưu hay, ít

ra, lãng phí tiền của và công lao của người dân Sau đây là một số thí dụ :

- Quyết định xây nhà máy điện hạt nhân mà không đào tạo trước nhân lực kỹ thuật

và nâng cao dân trí về an toàn công nghiệp,

- Kêu gọi đầu tư vào những công trình quang điện và phong điện mà không tính rằng những nguồn điện đó chưa khả thi về phương diện kinh tế,

- Đặt chỉ tiêu sản xuất nhiên liệu sinh học mà chưa nghiên cứu hiệu ứng đến môi trường và sử dụng đất dành cho nông nghiệp,

- Thay vì xây hạ tầng cho đường thủy và đường sắt, có khả năng vận tải lớn và tiêu thụ ít năng lượng, thì tiếp tục ưu tiên xây những hạ tầng cho vận tải bằng xe ôtô, với khả năng vận tải kém hơn, tốn kém về năng lượng hơn lại vừa lấn chiếm hơn nhiều đất có thể dùng vào việc khác

4 Những dự án đã đưa vào thi công bị chậm trễ vì nguồn tài trợ không được dự trù

đủ và vì cán bộ cũng như công nhân thiếu kỹ năng nghiệp vụ Không những thế mà những tổng công ty quốc doanh phung phí tài chính ngắn hạn vào những khoản đầu tư không liên quan gì đến mục địch kinh doanh của công ty : khách sạn, ngân hàng, viễn thông, Một thị trường phát điện cạnh tranh được thành lập như là một phép mầu sẽ mang lại những kilô watt giờ hiện đang thiếu

Tiêu thụ năng lượng

Theo thống kê của EIA, Việt Nam sử dụng 27.400 BTU (8,0 TWh) để sản xuất một đôla Mỹ GDP ( Gross Domestic Product, Tổng Sản Lượng Quốc Nội ) Cường

độ tiêu thụ năng lượng này gần gấp hai lần Hàn Quốc, gấp ba lần rưỡi Pháp, gấp ba lần Hoa Kỳ, quốc gia nổi tiếng là phung phí năng lượng Từ một chục năm nay,

Trang 10

cường độ tiêu thụ năng lượng trên thế giới giảm trung bình 0,5 % mỗi năm Cường

độ này ở các nước Châu Á và Châu Đại Dương cũng giảm theo nhịp đó Nhờ tiến

bộ công nghệ, các nước công nghiệp giảm cường độ tiêu thụ năng lượng mau hơn

Từ mười năm nay, mỗi năm cường độ này giảm 0,6 % ở Hàn Quốc, 1,0 % ở Pháp

và 2,2 % ở Hoa Kỳ Việt Nam là một trong số ít những quốc gia có cường độ tiêu thụ năng lượng gia tăng (hình 3) Trung Quốc có cường độ tiêu thụ năng lượng cao hơn nhiều và cường độ tiêu thụ năng lượng đó tăng từ năm 2000 cho tới nay

Nhưng Trung Quốc không phải là một kiểu mẫu để noi theo

Hình 3 Tiêu thụ năng lượng để sản xuất một nghìn USD (Tính từ số liệu của IEA)

1 Thống kê của IEA cho thấy nguyên nhân của sự lãng phí này Trung bình trên thế giới, năng lượng khả dụng được chia đồng đều cho công nghiệp, giao thông vận tải, tiện nghi nhà ở và những sử dụng khác Những sử dụng khác chủ yếu là các ngành lọc dầu và hóa chất, hai ngành sản xuất công nghiệp Thương mại và dịch vụ công cộng là những hoạt động sản xuất dịch vụ Các nước có chính sách kinh tế nghiêm chỉnh ưu tiên dành năng lượng cho sản xuất sản phẩm và dịch vụ Thí dụ, Hàn Quốc dành 87 % năng lượng cho sản xuất, Pháp ba phần tư Ở Việt nam thì 60 % năng lượng dùng cho tiện nghi nhà ở và không sinh lợi gì (hình 4)

Trang 11

Hình 4 Tiêu thụ năng lượng theo ngành (Tính từ số liệu của IEA, 2005)

2 Nhận xét này thể hiện rõ hơn với phân bố tiêu thụ điện (hình 5) Ở Pháp, một nước khuyến khích sử dụng điện trong những áp dụng gia dụng và dịch vụ nhờ có nhiều nhà máy điện hạt nhân, 35 % điện dùng cho tiện nghi nhà ở Ở Hàn Quốc chỉ

có 14 % Ở Việt Nam thì 42 % điện dùng cho tiện nghi nhà ở thay vì dùng để sản xuất sản phẩm và dịch vụ Tiêu thụ điện tăng gấp rưỡi lần tăng trưởng của kinh tế

mà lại chủ yếu ít dùng cho sản xuất Mọi chuyện diễn ra như điện lực ở Việt Nam

là một xa xỉ phẩm được cấp cho người có tiền mua những thiết bị cơ điện nội thất chứ không phải là một nhân tố sản xuất

Trang 12

Hình 5 – Tiêu thụ điện theo ngành (Tính từ số liệu của IEA, 2005)

3 Theo TCTK, từ 1990 đến 2005, lượng hàng luân chuyển tăng 9,4 % mỗi năm, cao hơn tăng trưởng trung bình của tổng sản lượng quốc nội chừng 1,5 điểm % (hình 6)

Trang 13

Hình 6 - Thị phần và tăng trưởng những phương tiện giao thông vận tải

Nhưng thống kê chi tiết cho thấy, ngược lại với xu hướng các nước công nghiệp

tiên tiến đang tìm cách giảm tỷ số lượng hàng vận chuyển bằng đường bộ :

- Ngành đường sắt và đường sông gia tăng ít hơn tăng trưởng của tổng sản lượng

quốc nội,

- Và ngành hằng hải chỉ tăng có 10 % mỗi năm ít hơn tăng trưởng 14 % mỗi năm

của ngoại thương mà hàng ngoại thương thì chủ yếu được luân chuyển bằng đường

biển

Tỷ số tăng trưởng lớn của ngành hàng không không có ý nghĩa vì lượng hàng luân

chuyển bằng phương tiện này không đáng kể Nhưng cũng là một nguồn gia tăng

nhu cầu năng lượng Đặc biệt, không có lý do gì phải lập một công ty hàng không

giá rẻ (low cost airline) nội địa như Pacific Airlines để sinh ra một thị trường đi lại

bằng đường hàng không

4 Chính sách đô thị với nhiều cao ốc và trung tâm thương mại gây ra tiêu thụ năng

lượng và ùn tắc giao thông nhiều hơn là những khu nhà ít tầng với những cơ sở

thương mại bán lẻ kế bên Ùn tắc giao thông gây ra tiêu thụ sản phẩm dầu một cách

Ngày đăng: 18/03/2014, 05:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Sản xuất và tiêu thụ năng lượng cơ bản của Việt Nam và của một số quốc  gia Châu Á và Châu Đại Dương (Tính từ số liệu của EIA, 2005) - Năng lượng, phát triển bền vững và Việt Nam docx
Bảng 1 Sản xuất và tiêu thụ năng lượng cơ bản của Việt Nam và của một số quốc gia Châu Á và Châu Đại Dương (Tính từ số liệu của EIA, 2005) (Trang 2)
Bảng 2 – Sản xuất, cung ứng và và tiêu thụ năng lượng (Tính từ số liệu của IEA, - Năng lượng, phát triển bền vững và Việt Nam docx
Bảng 2 – Sản xuất, cung ứng và và tiêu thụ năng lượng (Tính từ số liệu của IEA, (Trang 3)
Hình 1 – Tiêu thụ năng lượng chia theo nguồn năng lượng (Tính từ số liệu của  IEA, 2005) - Năng lượng, phát triển bền vững và Việt Nam docx
Hình 1 – Tiêu thụ năng lượng chia theo nguồn năng lượng (Tính từ số liệu của IEA, 2005) (Trang 5)
Hình 2 – Tiêu thụ năng lượng để sản xuất điện chia theo nguồn năng lượng (Tính - Năng lượng, phát triển bền vững và Việt Nam docx
Hình 2 – Tiêu thụ năng lượng để sản xuất điện chia theo nguồn năng lượng (Tính (Trang 6)
Bảng 4 Sản xuất và tiêu thụ điện của Việt Nam và một số quốc gia Châu Á và  Châu Đại Dương (Tính từ số liệu của EIA, 2005) - Năng lượng, phát triển bền vững và Việt Nam docx
Bảng 4 Sản xuất và tiêu thụ điện của Việt Nam và một số quốc gia Châu Á và Châu Đại Dương (Tính từ số liệu của EIA, 2005) (Trang 6)
Hình 3 Tiêu thụ năng lượng để sản xuất một nghìn USD (Tính từ số liệu của IEA) - Năng lượng, phát triển bền vững và Việt Nam docx
Hình 3 Tiêu thụ năng lượng để sản xuất một nghìn USD (Tính từ số liệu của IEA) (Trang 10)
Hình 4 Tiêu thụ năng lượng theo ngành (Tính từ số liệu của IEA, 2005) - Năng lượng, phát triển bền vững và Việt Nam docx
Hình 4 Tiêu thụ năng lượng theo ngành (Tính từ số liệu của IEA, 2005) (Trang 11)
Hình 5 – Tiêu thụ điện theo ngành (Tính từ số liệu của IEA, 2005) - Năng lượng, phát triển bền vững và Việt Nam docx
Hình 5 – Tiêu thụ điện theo ngành (Tính từ số liệu của IEA, 2005) (Trang 12)
Hình 6 - Thị phần và tăng trưởng những phương tiện giao thông vận tải - Năng lượng, phát triển bền vững và Việt Nam docx
Hình 6 Thị phần và tăng trưởng những phương tiện giao thông vận tải (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w