1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Kiến trúc - Giá trị kiến trúc Pháp ở bờ Nam sông Hương trong không gian đô thị di sản Huế

82 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá trị kiến trúc Pháp ở bờ Nam sông Hương trong không gian đô thị di sản Huế
Người hướng dẫn PGS.TS.KTS Nguyễn Khởi
Trường học Trường đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kiến trúc
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Kiến trúc
Năm xuất bản 2016
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ Kiến trúc Giá trị kiến trúc Pháp ở bờ Nam sông Hương trong không gian đô thị di sản Huế

Trang 1

- TÔN NỮ DIỄM QUỲNH

GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC PHÁP Ở BỜ NAM SÔNG HƯƠNG TRONG KHÔNG GIAN

ĐÔ THỊ DI SẢN HUẾ

Chuyên ngành: KIẾN TRÚC

Mã số: 60.58.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KIẾN TRÚC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS.KTS NGUYỄN KHỞI

TP HỒ CHÍ MINH 2016

Trang 5

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Huế là kinh đô của triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam Khi nhắc đến Huế chúng ta thường liên tưởng đến vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc của đất cố đô với những công trình mang đậm dấu ấn lịch sử Trãi qua trên ba trăm năm hình thành và phát triển, qua những thăng trầm của lịch sử, Huế đã thừa hưởng những di sản kiến trúc – đô thị khá phong phú và định hình rõ nét hình thái đô thị của mình Cùng với thời gian, những di sản kiến trúc – đô thị này đã có một quá trình hình thành, tồn tại

và phát triển, gắn bó với đời sống cộng đồng địa phương Có thể nhận định rằng bên cạnh những giá trị về kiến trúc, nghệ thuật thì các di sản đô thị còn mang trong mình những hơi thở của đời sống, là nhân chứng của những biến động lịch sử, có giá trị nhân văn và giá trị lịch sử sâu sắc

Ngoài hệ thống các cung điện, đền đài, lăng tẩm,…xây dựng theo phong cách kiến trúc phương Đông, đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới, ở Huế còn có các công trình kiến trúc Pháp được xây dựng từ khoảng giữa thế kỉ XIX đến nửa thế kỉ XX Các công trình này hài hòa với môi trường cảnh quan và là di sản hữu cơ với con người Huế hơn một thế kỉ nay, trong đó nhiều công trình còn in đậm dấu ấn lịch sử như: Trường Quốc học Huế, Trường Đồng Khánh, khách sạn Morin… Các công trình kiến trúc - đô thị thời Pháp thuộc đã đóng vai trò lịch sử không thể phủ nhận trong việc hình thành bộ mặt kiến trúc các đô thị Việt Nam nói chung và đô thị Huế nói riêng, ở thời kì đó và cả quãng thời gian dài sau này Theo thống kê sơ bộ của Sở Xây dựng Thừa Thiên - Huế, kho tàng kiến trúc này ở Huế hiện vẫn còn khoảng 200 công trình, hầu hết là công sở, trường học, tập trung chủ yếu ở bờ Nam sông Hương Quần thể kiến trúc này không chỉ có giá trị lớn về nghệ thuật kiến trúc, mà còn là một kho tư liệu sinh động về kỹ thuật xây dựng của Pháp Tựu trung những giá trị đó đã mang lại sự đa dạng cho văn hóa Huế, một sự hài hòa giữa phương Tây và phương Đông, giữa cổ xưa và hiện đại

Trang 6

Vấn đề bức xúc đặt ra hiện nay là “sự già nua” của các công trình kiến trúc Pháp tại Huế Phần lớn các công trình kiến trúc này đều có tuổi thọ 70-100 năm, bị chi phối bởi yếu tố thời gian, sự khắc nghiệt của vùng đất và cả chiến tranh nên đã

và đang ngày một xuống cấp Ðáng kể nhất là sự suy thoái vật liệu (gỗ mục, tường mũn, vữa xốp, gạch bở, ) Hiện tượng thấm dột xảy ra ở hầu hết các công trình được khảo sát Đồng thời, đứng trước nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, việc thực hiện chủ trương đô thị hóa mở ra những đô thị vệ tinh xung quanh địa bàn Huế rất mạnh mẽ đã tác động lớn đến không gian khu phố Pháp ở bờ Nam sông Hương, làm mất dần cảnh quan và tính đặc thù vốn có của nó Nhiều công trình kiến trúc Pháp đang bị sử dụng sai với khả năng và chức năng ban đầu, bị cải tạo không phù hợp, làm giảm giá trị kiến trúc nguyên bản Và đây đó chen giữa những khu phố Pháp cổ đang mọc lên những ngôi nhà với kiến trúc xa lạ, làm tổn hại tới cảnh quan vốn có của đô thị cổ

Vì vậy việc bảo tồn, cải tạo các công trình này là vấn đề cần thiết phải đặt ra để giữ gìn và phát huy bản sắc độc đáo của khu phố Tây, góp phần xây dựng đô thị văn minh hiện đại phù hợp với xu hướng phát triển và khai thác các giá trị truyền thống của Huế Nhưng thực tế, công tác bảo tồn di sản kiến trúc trong những năm qua cho thấy chúng ta đang tập trung cho các di sản có tính truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc mà chưa quan tâm đầy đủ tới các di sản kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc Chính quyền đã có những quan tâm nhất định tuy nhiên hiệu quả công tác bảo tồn loại hình kiến trúc này vẫn chưa có những dấu hiệu tích cực Một trong những nguyên nhân chính đó là kiến trúc thời kỳ Pháp thuộc ở Huế chỉ mới được nhìn nhận với những gì còn lại như một quỹ di sản kiến trúc độc lập, với những giá trị đơn thuần

về khoa học và nghệ thuật mà chưa nhìn nhận nó dưới góc độ quy hoạch và văn hóa, xét trong mối quan hệ mật thiết và mang tính cộng hưởng với không gian di sản văn hóa cố đô Huế Điều này đã dẫn tới sự rời rạc, thiếu thống nhất trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị của không gian di sản văn hóa cố đô Huế nói chung cũng như kiến trúc Pháp nói riêng

Trang 7

Vậy nên hiện nay, yêu cầu cấp thiết được đặt ra là: trước tiên cần có sự thay đổi căn bản về nhận thức đối với vai trò và mối quan hệ của kiến trúc Pháp trong không gian đô thị di sản Huế, từ đó mới đặt ra công tác bảo tồn và phát huy giá trị kiến trúc Đối với kiến trúc thời Pháp thuộc: phải coi đây là một nhân tố cấu thành quan trọng của quỹ kiến trúc đô thị Huế, cần được bảo tồn, duy trì và cải tạo theo điểm - diện và mảng, trong sự chuyển tiếp không gian hợp lý Chính vì vậy, trong công

trình nghiên cứu này học viên xin chọn đề tài “Giá trị kiến trúc Pháp ở bờ Nam sông Hương trong không gian đô thị di sản Huế” nhằm đóng góp nghiên cứu của

mình trong việc tìm lời giải cho bài toán bảo tồn và phát huy giá trị kiến trúc Pháp ở Huế, cũng như làm cơ sở khoa học cho quá trình nghiên cứu sâu hơn sau này

2 Tổng quan về những nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Cho đến nay Cố đô Huế vẫn là một trong những đô thị có quỹ kiến trúc di sản giàu có nhất không chỉ trong phạm vi khu vực Đông Nam Á Thừa Thiên Huế có

902 di tích lớn nhỏ, trong đó quần thể di tích Cố đô đã được công nhận là Di sản văn hóa thế giới Hòa quyện và tôn vinh thêm cho các di sản vật thể đó là cả một kho tàng văn hóa phi vật thể đồ sộ Đô thị Huế là sự mẫu mực kết hợp hài hoà giữa các yếu tố con người, kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên Do đó, Huế từ lâu đã thu hút sự chú ý của những nhà chuyên môn về kiến trúc, bảo tồn, sử học,…có nhiều chuyên khảo nghiên cứu liên quan Nhưng trong thực tế, các nghiên cứu đó chủ yếu tập trung cho các di sản có tính truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc, còn các di sản kiến trúc thời Pháp thuộc thì vẫn chưa thực sự được đánh giá đúng mức Những nghiên cứu về kiến trúc Pháp ở Huế còn khá ít và chưa đầy đủ, mỗi đề tài chỉ nêu lên một vài khía cạnh đơn lẻ, chưa có cái nhìn tổng quát về kiến trúc Pháp đặt trong bối cảnh của không gian đô thị di sản Huế để xem xét đánh giá

Một trong những người am tường nhất đối với cố đô Huế, đó là nhà nghiên cứu Phan Thuận An Ông là người đã dành tất cả công sức, tâm huyết để nghiên cứu về lịch sử, văn hóa của vùng đất cố đô Bởi thế ông được gắn cho nhiều danh hiệu, từ nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử, đến nhà Huế học Là người gốc Huế lại từng trải

Trang 8

qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử vùng đất Cố đô, ông am tường về các vấn

đề văn hóa vật thể cũng như phi vật thể ở nơi đây Ông đi sâu vào nghiên cứu Huế, hàng trăm công trình nghiên cứu có giá trị đã được xuất bản góp phần vào việc bảo tồn và gìn giữ nền văn hóa truyền thống Huế Trong đó có nhiều công trình nổi tiếng đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được lưu trữ tại các thư viện nổi tiếng trên

thế giới như Huế đẹp Huế thơ (1995), Kiến trúc Cố đô Huế (1997), Kinh thành Huế (2002), Quần thể di tích Huế (2005)…Trong các nghiên cứu của mình, ông cũng có đề cập đến kiến trúc thời Pháp thuộc như Quy hoạch kiến trúc Huế đầu thế kỉ 20 (1990), Kiến trúc thời Pháp bên bờ sông Hương (1999), Công cuộc xây dựng Huế qua các thời kì lịch sử và các quỹ kiến trúc thuộc những thời kì đó (2003), Từ quy hoạch kiến trúc cảnh quan cố đô Huế đến một số khu vực nhạy cảm bên bờ sông Hương (2008), Huế xưa và nay-Di tích và danh thắng

(2008)…nhưng không phải là những nghiên cứu chuyên sâu, chủ yếu là các tài liệu

có thể cung cấp cho người đọc một nhận thức khái lược về di sản kiến trúc Pháp ở Huế

Nhắc đến vấn đề di sản và bảo tồn thì không thể không nhắc tới GS.KTS Hoàng Đạo Kính Ông là một trong những số ít người đã dành trọn cả đời mình cho công việc trùng tu, bảo tồn Trong quá trình làm việc của mình, ông cũng đã gắn bó và có điều kiện tiếp xúc với nhiều di sản ở Huế như khu kinh thành, các lăng tẩm, nhà ở

và làng truyền thống… Công việc này vốn đã mang trong nó muôn vàn khó khăn, đòi hỏi sự say mê, hiểu biết tận cùng giá trị của mỗi công trình Chính vì thế, cốt cách của một nhà khoa học – nhà văn hóa đã giúp ông có được những lời giải xác

đáng cho mỗi công trình Kế thừa và tạo lập bản sắc kiến trúc đô thị trong phát triển thành phố Huế (2002), Huế - đô thị di sản, phát triển trong sự tiếp nối (2011), Văn hóa kiến trúc (2012) với cách trình bày ngắn gọn và dung dị các định

hướng phát triển tiếp nối, những thế mạnh điểm yếu, cái duy nhất cần nâng niu, các giá trị cần níu giữ của cố đô Huế được hiển minh, giúp người đọc nắm bắt dễ dàng

và nhanh chóng Ông có một tinh thần nghiêm cẩn với tri thức đô thị, đề xuất các giải pháp chỉnh trang và phát triển đô thị, đánh giá và tôn vinh các giá trị văn hóa

Trang 9

kiến trúc – đô thị Qua những tác nghiệp này, ông nêu lên những khái niệm “Quỹ kiến trúc đô thị”, “Đô thị di sản”,…Dẫu còn phải bàn luận, song rõ ràng đó là những chất kết dính hiếm hoi góp phần tạo dựng bộ khung lý luận và phê bình kiến trúc – đô thị nước nhà, vốn đang rất còm cỏi Những trang viết đó không phải là những chuyên luận đi sâu mà là những nhận cảm tinh tế, những nắm bắt chính xác, những kết luận súc tích và các đề xuất giản dị khả thi

TS.KTS Nguyễn Đình Toàn cũng đã có một số đề tài nghiên cứu về kiến trúc

thời Pháp thuộc ở Việt Nam, trong đó có đề cập đến Huế: Những nhân tố tự nhiên

và truyền thống văn hóa bản địa trong kiến trúc thời Pháp thuộc ở Việt Nam (1998), Kiến trúc thời thuộc địa ở Huế (2003) Nghiên cứu góp phần khẳng định

giá trị của kiến trúc thời Pháp thuộc, đặc biệt là những giá trị về sự thích ứng với điều kiện tự nhiên bản địa và sự giao thoa về văn hóa Nhưng do mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong mối quan hệ với các nhân tố tự nhiên và văn hóa bản địa, chỉ gợi ra một số tiêu chí đánh giá nhất định chứ chưa phải là toàn diện khi xác định giá trị của kiến trúc Pháp

Năm 1998-1999, Viện Khoa học công nghệ xây dựng phối hợp với Sở Xây

dựng Thừa Thiên – Huế, được Bộ Xây dựng giao thực hiện dự án Khảo sát điều tra đánh giá kết cấu xây dựng và đề xuất giải pháp sửa chữa gia cường các công trình xây dựng dân dụng thời Pháp tại thành phố Huế Kết quả của dự án là đưa

ra kết luận chung về tình trạng vật liệu và kết cấu hiện thời của các công trình xây dựng thời Pháp tại TP Huế; trình tự khảo sát đánh giá và phân tích nguyên dẫn đến tình trạng xuống cấp công trình; đồng thời đưa ra giải pháp gia cường, cải tạo điển hình cho từng dạng xuống cấp Đây là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên đã đưa ra những số liệu thống kê, các tư liệu tương đối đầy đủ về loạt kiến trúc Pháp ở Huế Thế nhưng, đề tài này vẫn chỉ mang tính cục bộ, giới hạn ở việc liệt kê, tổng hợp, đánh giá hiện trạng và định hướng bảo tồn với những đề xuất chưa có cơ

sở vững chắc và toàn diện

Ngoài ra, còn có một số tài liệu khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu này

như: Hình thái học và sự chuyển hóa các yếu tố cấu thành trong sự cân bằng

Trang 10

tĩnh của cố đô Huế (2003) của TS Doãn Minh Khôi, Giữ gìn kiến trúc thuộc địa ở Huế là bảo tồn thành phố di sản (2000) của TS Trần Minh Đức - TS Trần Bá Việt, Bảo tồn và phát huy di sản kiến trúc đô thị Huế phục vụ phát triển (2008) của TS

Đặng Văn Hài

Tất cả các tài liệu trên là những gợi ý quan trọng cho việc quyết định lựa chọn

đề tài luận văn tốt nghiệp của học viên, đồng thời cũng là nguồn tham khảo bổ ích cho học viên trong suốt quá trình nghiên cứu

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của luận văn là xác định giá trị kiến trúc Pháp ở bờ Nam sông Hương trong mối liên hệ mật thiết và cộng hưởng với không gian đô thị di sản Huế, làm cơ sở để duy trì và phát triển những giá trị tích cực của kiến trúc Pháp với quỹ

di sản kiến trúc đô thị Huế trong bối cảnh hiện nay Và từ đó góp phần bảo tồn diện mạo, cũng là bản sắc của kiến trúc đô thị Huế, xây dựng một không gian đô thị hài hòa và phát triển bền vững

4 Nội dung nghiên cứu

- Quá trình du nhập của kiến trúc Pháp vào Huế Sự hình thành, phát triển và những

đặc điểm hình thái của kiến trúc Pháp ở bờ Nam sông Hương

- Những yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển của kiến trúc Pháp ở bờ Nam sông Hương

- Nghiên cứu về không gian đô thị di sản Huế với các thành phần cơ bản và định vị thành phần kiến trúc Pháp trong không gian đô thị di sản đó

- Lựa chọn, khảo sát và phân tích cụ thể một số công trình kiến trúc điển hình Sau

đó tiến hành phân loại, tổng hợp theo một số tiêu chí và niên đại, loại hình và hình thức biểu hiện

- Phân tích, xác định giá trị của kiến trúc Pháp ở bờ Nam sông Hương trong không gian đô thị di sản Huế

Trang 11

5 Giới hạn nghiên cứu

- Về không gian: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các công trình kiến trúc Pháp trong phạm vi giới hạn bởi sông Hương, sông An Cựu và đường Bà Triệu

- Về thời gian: Luận văn giới thiệu những công trình được người Pháp xây dựng cuối thế kỉ XIX đến năm 1945, kết thúc giai đoạn Pháp thuộc

6 Phương pháp nghiên cứu

Cách tiếp cận vấn đề từ nhiều hướng khác nhau sẽ giúp cho việc nghiên cứu mang tính khách quan và chính xác Để thực hiện các nhiệm vụ đã đặt ra, học viên tiến hành nghiên cứu đối tượng bằng những phương pháp sau:

- Dùng phương pháp điền dã, tiến hành điều tra khảo sát hiện trạng, đo đạc lấy số liệu, hình ảnh thực tế, thu thập những chứng cứ và tư liệu lịch sử Đó là những cơ sở quan trọng để có thể đưa ra những phân tích, đánh giá và nhận định một cách khách quan

- Dùng phương pháp thống kê, lập sơ đồ, lập bảng biểu để hệ thống hóa và phân loại các thông tin thu thập được sau khi khảo sát

- Thu thập khai thác thông tin, tài liệu lịch sử-văn hóa từ sách, báo, tạp chí, luận văn

để nghiên cứu tiếp nội dung đề tài

- Dùng phương pháp phân tích, tổng hợp để sàng lọc, chọn ra những nội dung cần thiết, có tính cập nhật, độ tin cậy cao… dựa trên cơ sở nguồn tài liệu có được để phục vụ cho việc thực hiện luận văn

- Dùng phương pháp so sánh đồng đại để làm công cụ nghiên cứu, do có mối liên hệ giữa vùng miền và kiến trúc nên cần so sánh trong tương quan với những thứ khác ở những nơi khác, cùng thời để có cái nhìn tổng quát hơn

Trang 12

PHẦN 2: NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC PHÁP

Ở BỜ NAM SÔNG HƯƠNG 1.1 Sự du nhập của kiến trúc Pháp vào Việt Nam giai đoạn 1858-1945

1.1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858-1945

Những nhà truyền giáo người Pháp đã có mặt ở Việt Nam từ giữa thế kỷ 17

Họ cũng hỗ trợ nhân lực và vật lực cho nhà Nguyễn trong cuộc chiến với nhà Tây Sơn dẫn đến chiến thắng của vua Gia Long Đến giữa thế kỷ 19, có khoảng 450.000 người cải đạo sang Công giáo Nhưng cũng từ đó, chính quyền nhà Nguyễn bắt đầu

lo ngại về sự hình thành của một tôn giáo xa lạ có tổ chức Nhà Nguyễn đã ra lệnh cấm truyền đạo Công giáo, đồng thời đàn áp những người theo đạo Công giáo và san bằng nhiều xóm đạo Đến thời vua Minh Mạng, căng thẳng với Pháp lại càng gia tăng do những chính sách như bế quan tỏa cảng, cấm đạo, đuổi sứ giả Vào ngày 31 tháng 8 năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau

đó rút vào xâm chiếm Sài Gòn Tháng 6 năm 1862, Vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây

kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam kỳ) [21]

Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, trong khi Triều đình Huế chưa quyết được một biện pháp cứu nước hữu hiệu, thì quân Pháp thực hiện việc đánh chiếm Bắc kỳ từ năm 1873 Ngày 18 tháng 8 năm 1883, quân Pháp gửi tối hậu thư cho vua Hiệp Hòa đồng thời công phá thành đồn Thuận Hải Đồn vỡ, các quan giữ thành kẻ tử trận, kẻ tự tử chết Vua Hiệp Hòa cho người đi gặp quân Pháp xin nghị hòa và chấp nhận những điều kiện của quân Pháp

Trang 13

Hiệp ước Quý Mùi được ký kết vào ngày 25 tháng 8 năm 1883 thừa nhận quyền bảo vệ của nước Pháp trên đất Việt Nam Ngay sau khi hiệp ước được ký kết, phong trào chống Pháp nổi lên mạnh mẽ ở Bắc Kỳ Các tướng của triều đình như Hoàng Tá Viêm, Trương Quan Đản không chấp nhận việc đầu hàng, liên tiếp tấn công các đồn trại của Pháp ở Bắc Kỳ Quân Pháp được viện trợ, tiến đánh hạ thành Sơn Tây, Bắc Ninh, Tuyên Quang Hoàng Tá Viêm thất trận phải theo đường thượng đạo trở về Huế Triều đình Huế một lần nữa phải ký hiệp ước Đó là hiệp ước cuối cùng, thường được gọi là hiệp ước Giáp Thân (1884), công nhận sự đô hộ của Pháp, chia Việt Nam làm ba phần Nam Kỳ là thuộc địa, Bắc Kỳ nửa thuộc địa

còn Trung Kỳ là đất bảo hộ Pháp tuyên bố là họ sẽ "bảo hộ" Bắc kỳ (Tonkin) và Trung kỳ (Annam), nơi họ tiếp tục duy trì các vua nhà Nguyễn cho đến Bảo Đại

(ông làm vua từ năm 1926 đến năm 1945) cùng bộ máy quan lại Nhà Nguyễn tuy tiếp tục tồn tại ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ nhưng chỉ còn quyền lực hạn chế, mọi vấn đề lớn phải được Toàn quyền Đông Dương của Pháp thông qua [1]

Năm 1887, hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam, người Pháp đã tổ chức ra một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương cho đến địa phương Ở trung ương

là Phủ toàn quyền Đông Dương (ban đầu thủ phủ ở Sài Gòn, năm 1902 đặt ở Hà Nội) Đứng đầu Phủ toàn quyền gọi là Toàn quyền Đông Dương, là người có quyền hành cao nhất trong thể chế chính trị Pháp trên toàn cõi Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ

và Cao Miên Đứng đầu ở 3 kỳ là: Thống đốc Nam kỳ, Khâm sứ Trung kỳ và Thống

sứ Bắc kỳ, cả ba đều nằm dưới quyền giám sát và điều khiển tối cao của viên Toàn quyền Đông Pháp, trực thuộc bộ Thuộc địa

Sau thất bại của phong trào Cần vương cuối thế kỷ 19, người Pháp đã củng cố hoàn toàn việc tổ chức cai trị tại Việt Nam Cuộc cải cách trong giáo dục trong thập niên 1910 đã xóa bỏ hoàn toàn nền Nho học với chữ Hán cả nghìn năm trong chế độ phong kiến Việt Nam để thay thế bằng phong trào tân học theo chữ Quốc ngữ đã tạo

ra một tầng lớp trí thức mới, đó là những người xuất thân từ truyền thống Nho giáo nhưng được tiếp cận với văn hóa phương Tây Đại diện tiêu biểu cho giới này là

Trang 14

Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu đã mở đầu cho phong trào Duy Tân và phong trào Đông Du vận động tăng cường dân trí, dân chủ, nhân quyền và cải cách xã hội cho người Việt trước tầng lớp người Pháp cai trị Tuy nhiên sự phát triển các phong trào này sau đó bị chính quyền thực dân dẹp bỏ vì nhận thấy nguy cơ đối với chế độ thuộc địa của họ

Cuối thập niên 1920, những người Việt cấp tiến dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Tam dân đã thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng Tuy nhiên, đến năm 1930, sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Việt Nam Quốc dân Đảng bị suy yếu nghiêm trọng Cùng năm đó, một số thanh niên Việt Nam theo chủ nghĩa Marx-Lenin thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng cũng mau chóng trở thành mục tiêu tiêu diệt của Pháp mặc dù tổ chức của họ thân thiện với Mặt trận Bình dân trong chính quyền Pháp

Nhật Bản tấn công Đông Dương vào năm 1940 và nhanh chóng thỏa thuận được với chính quyền Vichy ở Pháp để cho Nhật toàn quyền cai trị Đông Dương Chính quyền thực dân Pháp chỉ tồn tại đến tháng 3 năm 1945 khi Nhật tấn công toàn bộ Đông Dương Ngay sau đó, Nhật thiết lập một chính quyền thân Nhật với quốc vương Bảo Đại và thủ tướng Trần Trọng Kim, đặt quốc hiệu mới Đế quốc Việt Nam

Đến ngày 14 tháng 8 năm 1945, khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh, chính quyền Trần Trọng Kim mất chỗ hậu thuẫn đã không kiểm soát được tình thế, đất nước rơi vào tình trạng hỗn loạn vô chính phủ Quyền lực của Pháp - Nhật không còn, tạo nên một khoảng trống quyền lực chính trị trên cả nước Đúng thời điểm này, lực lượng Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã tổ chức thành công cuộc Cách mạng tháng Tám, giành lấy quyền lực ở hầu khắp các tỉnh tại Việt Nam (trừ một số tỉnh biên giới giáp Trung Quốc) Quyền lực của phát xít Nhật không còn, chính quyền Đế quốc Việt Nam sụp đổ sau hơn 5 tháng tồn tại, hoàng đế Bảo Đại thoái vị

Trang 15

Ngày 2 tháng 9, tại quảng trường Ba Đình - Hà Nội, trước hơn 50 vạn nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản "Tuyên ngôn độc lập", khai sinh ra nước Việt Nam mới, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã thoát được ách đô hộ, trở lại một nước độc lập tự chủ

1.1.2 Sơ lƣợc quá trình hình thành và phát triển kiến trúc Pháp ở Việt Nam

Theo Hoàng Đạo Kính, trong lịch sử phát triển nền kiến trúc Việt Nam thì thời cận đại trùng với thời thực dân Pháp cai trị Đó là một thời kỳ chuyển tiếp hết sức quan trọng trong sự phát triển kiến trúc Việt Nam, đô thị Việt Nam Bởi từ cuối thế

kỷ XIX trở về trước, kiến trúc Việt Nam là kiến trúc truyền thống, kiến trúc gỗ Người phương Tây, cụ thể là người Pháp, đã đưa vào Việt Nam một nền kiến trúc mới của châu Âu tương ứng với công nghệ mỹ thuật châu Âu và như thế tạo ra một thời kỳ chuyển tiếp giữa kiến trúc truyền thống sang kiến trúc hiện đại hôm nay.[18] Tuy nhiên, trước khi thực dân Pháp chính thức cai trị và du nhập kiến trúc của họ vào nước ta, trên thực tế, ở Việt Nam đã xuất hiện nhiều công trình mang dáng dấp của kiến trúc phương Tây đến từ quá trình giao lưu văn hóa tự nhiên hay do chính triều đình phong kiến Việt Nam chủ động học tập, vay mượn Vì thế, có thể tạm chia quá trình du nhập của kiến trúc Pháp vào Việt Nam qua hai thời kỳ: thời phong kiến và thời Pháp thuộc

* Thời phong kiến

Người châu Âu đến Việt Nam từ thế kỉ XVI Việc truyền bá đạo Thiên chúa vào nước ta cũng đồng thời là quá trình xâm nhập của các phong cách kiến trúc Roman, Gothic vào kiến trúc Việt Nam Ở châu Âu, những phong cách này rất đặc trưng cho kiến trúc đạo Ki tô Những nhà truyền giáo đi theo những tàu buôn và truyền bá đạo vào nước ta, cũng đồng thời đưa các công trình kiến trúc tu viện và nhà thờ vào Việt Nam Tuy nhiên, dấu vết của các phong cách kiến trúc Roman và

Trang 16

Gothic trong thời kỳ này còn rất mờ nhạt, thiếu những công trình tu viện hoành tráng, mà chỉ thấy thấp thoáng qua hình ảnh của một số nhà thờ nhỏ

Bên cạnh các công trình của đạo Thiên chúa, cuối thế kỉ XVIII, nhà Nguyễn

đã nhờ một số võ quan và lái buôn người Pháp giúp đỡ thiết kế và xây dựng thành phỏng theo kiểu Vauban (loại thành do kiến trúc sư Vauban thiết kế và xây dựng ở Pháp từ thế kỉ XVII) với nhiều hình thức khác nhau, xây dựng từ Bắc đến Nam Sự kiện đầu tiên đó là vào khoảng năm 1791, Nguyễn Ánh thuê một quan người Pháp tên là Victor Oliver Paymanel, là phụ tá của giáo sĩ D’Adran vẽ kiểu và cho xây dựng thành Sài Gòn 8 góc theo kiểu Vauban trên khu đất cao ráo nhất trên bờ sông Đồng Nai Năm 1834, sau những năm khởi nghĩa của Lê Văn Khôi, Minh Mạng ra lệnh tàn phá thành cũ, xây lại thành mới, rồi lần lượt xây ở nhiều tỉnh, thành khác, trong đó phải kể đến các công trình Vauban tiêu biểu như kinh thành Huế, thành

Hà Nội, thành cổ Quảng Trị…[26]

Thành Vauban có mặt bằng hình vuông, chữ nhật hoặc đa giác đều; trong thành có đường phố kẻ ô bàn cờ Thành có nhiều góc cạnh tạo nên pháo đài góc; thành thường xây cao, xung quanh đào hào hoặc lợi dụng sông hồ để tạo chướng ngại vật Có kiến trúc cao nhất và chế ngự cả khu thành là cột cờ, mang dáng dấp của những tháp canh lâu đài kiểu Trung cổ ở châu Âu Trải qua nhiều cuộc chiến tranh, phần lớn các thành lũy ở các tỉnh lị bị phá hủy, chỉ còn lại khá nguyên vẹn ở Huế

Như vậy, trong thời kỳ phong kiến độc lập, tự chủ, những dấu ấn của văn hóa phương Tây, trong đó có kiến trúc đã bắt đầu ảnh hưởng vào nước ta Song những ảnh hưởng này mới chỉ ở bề nổi Quá trình du nhập và truyền bá kiến trúc Pháp vào Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu khi thực dân Pháp chính thức biến Việt Nam thành một nước phong kiến nửa thuộc địa

Trang 17

* Thời Pháp thuộc

Song song với khoảng thời gian người Pháp có mặt trên lãnh thổ Việt Nam, theo tiến sĩ Nguyễn Đình Toàn, lịch sử kiến trúc Pháp tại Việt Nam có thể chia làm 3 giai đoạn:

- Thời kỳ thứ 1 (1873-1900): Kiến trúc thuộc địa tiền kỳ

- Thời kỳ thứ 2 (1900-1920): Kiến trúc thuộc địa hình thành và khẳng định

- Thời kỳ thứ 3 (1920-1945): Kiến trúc thuộc địa phát triển và định hình bản sắc

Giai đoạn nhỏ từ 1945-1954, Pháp vẫn còn chiếm đóng ở Hà Nội và một số tỉnh khác nhưng sự phát triển kiến trúc thời kỳ này không đáng kể do chiến tranh [33] Những hoạt động về xây dựng đầu tiên của Pháp trong khoảng những năm

1873 đến 1900 có thể gọi chung là kiến trúc Thực dân tiền kỳ Vì những

lý do địa lý và nhu cầu tạm thời chỉ còn tồn tại rất ít dấu ấn kiến trúc trong giai đoạn đầu của quá trình khai thác thuộc địa Công trình thể hiện sự kết hợp phần nào giữa

tư tưởng kiến trúc Tây phương và khai thác đơn giản một số yếu tố địa phương, không gian trên tầng được bao bọc bởi hành lang nhằm tránh nóng và những cơn mưa, mái được thiết kế dốc và sử dụng ngói sản xuất tại bản địa, họa tiết trang trí đơn giản truyền thống cho thấy ở giai đoạn đầu những công trình cơ bản được xây dựng bởi nhân công Việt Nam Hình thái kiến trúc tiền thực dân đặt nặng về mặt công năng Nó thể hiện những dấu ấn lịch sử đầu tiên ảnh hưởng của kiến trúc Pháp tại Việt Nam Được phát triển chủ yếu bởi những kỹ sư Pháp đầu tiên ở Việt Nam Giai đoạn từ 1900 đến 1920, thời kỳ tiến hành khai thác Đông Dương lần thứ nhất Với nhu cầu xây dựng ngày càng nhiều, người Pháp thể hiện tham vọng biến đổi bộ mặt Đông Dương ngày càng lớn thông qua việc áp đặt hình thái kiến trúc trang trí mặt tiền Họ bắt đầu sử dụng những phong cách hàn lâm thịnh hành tại

Pháp vào Việt Nam Phong cách kiến trúc Tân cổ điển đặc trưng cho giai đoạn

này Các nghệ sĩ sử dụng những chủ đề khác nhau, từ hình thái, chi tiết Phục Hưng,

Trang 18

Baroque tới các quy luật đối xứng nghiêm ngặt Kiến trúc thời kì này cũng được nghiên cứu sâu để thoát khỏi chủ nghĩa công năng đơn giản của kiến trúc thực dân tiền kì Mặc dù lối kiến trúc Tân cổ điển cưỡng bức, áp đặt, cũng như không phù hợp, thích nghi với khí hậu, văn hóa bản địa, tách rời với những không gian kiến trúc tổng thể đô thị, nhưng công trình ở giai đoạn này đã mang lại một dấu ấn kiến trúc đậm nét Pháp tách biệt trong lòng Việt Nam

Tại các khu ở thành phố và các khu nghỉ mát được làm trong thời gian thuộc địa Pháp, loại kiến trúc thấy nhiều là các biệt thự kiểu phương Tây làm cho người Pháp (và đôi khi cho một số ít người Việt Nam giàu có) Người Pháp sống ở xứ thuộc địa luôn luôn nhớ nhà, nên họ thường làm các ngôi nhà ở mang phong cách

kiến trúc Địa phương Pháp nơi họ sinh trưởng Đó là những ngôi nhà vùng quê

hay thị trấn nhỏ, thường là ở xứ lạnh, nên có lò sưởi, ống khói đưa lên tận trên mái Mái lợp ngói có độ dốc lớn để tránh tuyết đọng và ở hồi nhà thường có mái gập đầu

ở hồi nhà, một kiểu mái khá đặc trưng của nước Pháp và một vài nước châu Âu khác Những biệt thự này vô cùng đa dạng, hầu hết đều có sân vườn, gara ôtô, ở trong nhà có phòng khách, các phòng ngủ, phòng ăn và các khu vực phục vụ tiện nghi cao Những ngôi nhà này thường được làm ở những vùng có khí hậu lạnh ở nước ta như Đà Lạt

Từ năm 1920 đến năm 1945, người Pháp tiến hành khai thác Đông Dương lần thứ hai, giới cầm quyền muốn phát triển rộng hơn quá trình đô thị trong tiến trình khai hóa Một nhân vật quan trọng của thời kỳ này là kiến trúc sư Ernest Hébrad, người được bổ nhiệm làm giám đốc trung tâm kiến trúc và đô thị vào năm 1923 Về mặt lý thuyết, ông chỉ trích những công trình của kiến trúc Tân Cổ điển và bắt đầu

hệ thống hóa lại những dữ liệu khí hậu, văn hóa bản địa trong việc sáng tác Từ quan điểm đó ông đưa ra một biến thể mới của kiến trúc thuộc địa : kiến trúc Đông

Dương Sự phát triển của phong cách kiến trúc Đông Dương được áp dụng đầu

tiên cho những công trình văn hóa như Bảo Tàng Viễn Đông Bác Cổ ( 1932) cho đến cả những công trình như Đại Học Đông Dương (1926) Sở tài chính (1930)

Trang 19

Trong những năm 40 phong cách kiến trúc Đông Dương được khuyến khích bởi chính quyền sở tại Kiến trúc Đông Dương dù vẫn còn mang theo mình phong cách

xu hướng Pháp lúc bấy giờ nhưng từ nội tạng đã có một sự thay đổi tìm tòi trong vật liệu cũng như không gian nhằm thích nghi với khí hậu cũng như văn hóa bản địa hơn Phong cách kiến trúc Đông Dương đã tôn vinh phần nào giá trị bản sắc dân tộc vào sáng tác

Đồng thời với sự phát triển của kiến trúc Đông Dương, phong cách kiến trúc Moderne cũng từng bước du nhập Năm 1925, trường Cao đẳng mỹ thuật Đông

Dương được thành lập, nhanh chóng tạo nên một bước đột phá trong việc mang nghệ thuật phương Tây tới Việt Nam Từ những năm 1930 , những hệ mái vòm, không gian cong và không đối xứng, cửa sổ tròn, cầu thang lồi bắt đầu xuất hiện Phong cách kiến trúc hiện đại đã phần nào thoát ly khỏi những trang trí cầu kỳ, phức tạp Phong cách này tạo nên những tác phẩm mới mẻ hơn, sự xuất hiện của một số công trình mang phong cách kiến trúc hiện đại do các kiến trúc sư Pháp thiết kế, phần nào thể hiện sự hòa nhập của kiến trúc bản địa với thế giới

1.2 Sự du nhập của kiến trúc Pháp vào đô thị Huế

1.2.1 Lƣợc sử hình thành và phát triển đô thị Huế

1.2.1.1 Thời phong kiến

Quá trình đô thị hóa của Thừa Thiên Huế được bắt đầu từ những năm 1636, khi chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ từ Phước Yên đến làng Kim Long cách trung tâm Huế ngày nay 3km Năm 1687, Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái dời phủ chúa về làng Phú Xuân, thuộc huyện Hương Trà - tức khu vực Đông Nam của Kinh thành Huế hiện nay Phú Xuân trở thành tên gọi của trung tâm Huế và thông dụng cho đến cuối thế kỷ XIX Bộ mặt xứ Huế từng bước phát triển với tốc độ đáng kể nhất là khi chúa Nguyễn chuyển dinh phủ từ Phước Yên đến Kim Long, xây dựng thủ phủ xứ Đàng Trong với quy mô lớn trên đất Phú Xuân Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh

Trang 20

dấu sự hình thành đô thị Huế Sự phát triển đô thị theo hình thái nhà vườn được hình thành gắn liền với sông Hương [6]

Phú Xuân dưới thời Nguyễn Phúc Khoát với tư cách là một đô thị phát triển thịnh vượng trải dài hai bờ châu thổ Sông Hương, từ Kim Long - Dương Xuân đến Bao Vinh - Thanh Hà Đây là thời kỳ đô thị hoá lần thứ hai ở Thừa Thiên Huế, chuyển địa bàn từ trung tâm Châu Hóa ở ngã ba Sình về phía Nam với trung tâm mới là vùng Kim Long - Phú Xuân, tỏa rộng ảnh hưởng trên vùng Nam - Bắc sông Hương, nối với cảng Thanh Hà, đặt nền móng cho việc đô thị hóa ở mức hoàn chỉnh hơn của kinh đô triều Nguyễn sau này.Kết quả của quá trình đô thị hoá lần thứ hai

đã hình thành một hệ thống các công trình kiến trúc đô thành, hệ thống dân cư kinh thành, với những thành tựu về kinh tế, xã hội, văn hoá, tư tưởng, nghệ thuật là một thủ phủ Đàng Trong

Sau khi đánh bại vương triều Tây Sơn, tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), Phú Xuân lại được Gia Long chọn để xây dựng kinh thành “thượng đô của đế vương” cho xứng với tầm vóc của một đất nước thống nhất có lãnh thổ rộng lớn Kinh thành Huế được triều Nguyễn khởi công xây dựng từ năm 1805 đến năm 1832, đến thời Minh Mạng thì việc thi công mới hoàn tất và sau đó còn được tu bổ nhiều lần Địa điểm tọa lạc của kinh thành Huế vốn đã được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ xứ Đàng Trong từ năm 1687 đến 1774, rồi sau đó nhà Tây Sơn dùng làm kinh đô của

cả nước từ 1788 đến 1801 Vua Gia Long chọn lại địa điểm này để xây dựng kinh thành với quy mô to lớn hơn, nằm trên đất của 8 làng: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, Thế Lại, An Vân, An Hòa, An Bửu và An Mỹ Kinh thành Huế còn lại ngày nay chủ yếu là kết quả của thời kỳ đô thị hoá lần thứ 3 (đời Gia Long, Minh Mạng

và các đời sau) Thành quả là một cố đô lịch sử với tổng thể di tích hoàn chỉnh, gồm hàng trăm công trình kiến trúc thành trì, cung điện, dinh thự, lăng tẩm, phủ phòng, đền miếu, đình chùa, phố thị được sắp xếp theo một ý đồ quy hoạch thống nhất, chặt chẽ, cân đối, hài hoà, thể hiện toàn cảnh, phản ánh trung thực cơ chế của triều đình nhà Nguyễn, từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc Không gian đô thị mở

Trang 21

rộng của Huế ngay từ thời này đã vươn ra khỏi địa giới hành chính thành phố (các khu vực Bao Vinh, Kim Long, Xuân Hòa, Vĩ Dạ, Nam Phổ, Ngọc Anh, Lại Thế, Nguyệt Biều, An Cựu ) [8] ( xem Hình 1.1)

1.2.1.2 Thời Pháp thuộc

Theo Hiệp ước k‎í kết năm 1874, triều đình Việt Nam phải để cho Pháp xây một tòa sứ ở bờ Nam sông Hương để tiện giao thiệp trực tiếp với Nam triều Tòa sứ được xây xong vào năm 1878 (về sau, nó trở thành Tòa Khâm sứ Trung Kì; tọa lạc

ở vị trí trường đại học Sư phạm Huế ngày nay)

Sau ngày Huế thất thủ (1885), chính quyền thực dân bấy giờ đã cho thiết lập một khu phố mới theo kiểu kiến trúc châu Âu ở bờ Nam, thường được gọi là Khu phố Tây Người Pháp đã ép Nam triều nhường thêm đất đai chung quanh khu vực Toà Sứ để xây dựng thêm nhiều công trình kiến trúc khác nhằm phục vụ cho bộ máy chính quyền Bảo Hộ tại chỗ Tòa Khâm Sứ Trung Kì cùng với phố Tây được thiết lập bên bờ Nam sông Hương với các đơn vị kiến trúc như: Khách sạn Morin,

Sở công chánh, Câu lạc bộ Thể thao, Chi nhánh Ngân hàng Đông Dương, Phủ Doãn, Bệnh viện Huế, nhà Công sứ, trường Đồng Khánh, trường Quốc Học… , đã làm cho các trại thủy binh của nhà Nguyễn ở bờ Nam sông Hương bị xóa sổ Từ một khoảnh nhượng địa ban đầu có hình tứ giác, mỗi bề khoảng 600m, trong những thập niên cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, hàng trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ khác nhau đã lần lượt mọc lên ở một khu vực rộng lớn từ Đập Đá đến Ga Huế và dọc theo bờ sông An Cựu, rồi quay lại phía sân vận động Tự Do nằm không xa Toà

Sứ Họ đã tạo ra ở đây một khu kiến trúc theo kiểu thức hiện đại và bằng vật liệu bê tông cốt thép, khác với khu vực kiến trúc cổ kính của Kinh thành ở bên kia sông Hương Khu vực bờ Nam sông Hương được mở rộng, hình thành dần “khu phố Tây” đã mở đầu cho thời kỳ đô thị hóa lần thứ 4 trên vùng đất Thừa Thiên Huế theo hình thái đô thị mới đầu thế kỷ XX.[3] (xem Hình 1.2)

Trang 22

Vào thế kỉ 20 cùng với sự ra đời của thị xã Huế (12/07/1899) và nâng cấp lên thành phố Huế (12/12/1929) thì địa giới hành chính Huế cũng được mở rộng Như vậy, kể từ năm1899, Huế được xác lập không gian hành chính đô thị cụ thể, góp phần không nhỏ vào việc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa tại Huế Thị xã Huế không cai quản khu vực kinh thành, mà chỉ bao gồm vùng phụ cận 4 phía bao quanh kinh thành, giới hạn bởi các con sông đào và dải đất bờ Nam sông Hương Trong giai đoạn thị xã Huế (1899 - 1929), trải qua ba lần điều chỉnh, thị xã Huế hình thành nên

9 phường phân bố trên phạm vi cả tả ngạn và hữu ngạn sông Hương Ngày 12/12/1929, thị xã Huế được quyết định nâng cấp lên thành phố Huế Trong giai đoạn thành phố Huế (1929 - 1945), toàn thành phố được tổ chức thành 11 phường theo tên mới lấy chữ Phú làm nền chung Khu vực phía bắc sông Hương có 3 phường là Phú Hòa, Phú Bình, Phú Thịnh Khu vực cồn Gia Hội có 4 phường là Phú Cát, Phú Mỹ, Phú Thọ, và Phú Hậu Khu vực phía nam sông Hương có 4 Phường là Phú Ninh, Phú Vĩnh, Phú Hội và Phú Nhuận

Trong 60 năm, đô thị Huế chuyển dịch dưới sự điều chỉnh của thực dân Pháp Quá trình đô thị hóa giai đoạn này đã không mang nặng tính chất “đô thành hóa” như giai đoạn trước Đứng dưới góc độ đô thị, thực dân Pháp đã thổi một “cơn gió mới” vào quá trình đô thị hóa Huế trên cơ sở tôn trọng và tiếp thu các yếu tố truyền thống Nhìn chung, đô thị Huế trong thời kì Pháp thuộc thay đổi theo chiều hướng

mở rộng và tăng cường về quy mô và diện mạo Sự xuất hiện của thực dân Pháp đồng nghĩa với sự xuất hiện của một nền kinh tế tư bản - thực dân ở Huế còn ở mức

độ thấp nhưng phần nào làm thay đổi phần “thị” của Huế.Như vậy, vào giai đoạn Pháp thuộc đô thị Huế đã có một số chuyển đổi khá quan trọng, nếu như phần “đô” được bổ sung bởi các công trình hành chính - dân sự thì phần “thị” ở Huế cũng dịch chuyển theo xu hướng bám sát phần “đô” hơn Các khu phố- chợ mới ra đời, các hoạt động thương mại cũng khá nhộn nhịp Đời sống đô thị ngày càng đậm đà hơn.[30]

Trang 23

1.2.1.3 Thời hiện đại (xem Hình 1.3)

Từ năm 1945-1954, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành kiện toàn lại bộ máy quản lý nhà nước, thành lập các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Sài Gòn Thành phố Huế dưới sự quản lý của Chính quyền cách mạng Ranh giới thành phố được mở rộng hơn tới các huyện Phú Vang và Hương Thủy Sau năm 1975, Huế là tỉnh lỵ của tỉnh Bình Trị Thiên (cũ) gồm 18 phường, 22 xã Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường sau chiến tranh, trung tâm đô thị Huế được mở rộng những khu phố xung quanh Một số lượng lớn các công trình kiến trúc xuất hiện ngày càng nhiều Tuy nhiên, sau khi có được các quyền sử dụng đất, lãnh thổ, việc đối xử với các không gian chuyển tiếp giữa kiến trúc cổ với kiến trúc hiện đại ở hai bờ sông Hương đã không được tôn trọng như thời kỳ trước đó Sau năm 1975 đến nay, những toà nhà lớn, những kiến trúc lộn xộn xuất hiện cạnh ngay sông Hương như khách sạn Century, chợ Đông Ba,…Các kiến trúc trong khu phố Tây đã dần dần bị thay thế bằng một loại kiến trúc hỗn tạp, xuất hiện nhiều hơn nữa các công trình lớn, nhiều kiến trúc cao đến trên dưới mười tầng, ví dụ khách sạn Tân Hoàng Cung, đã phá hủy nghiêm trọng cảnh quan sông Hương và diện mạo khu phố Tây ở bờ Nam sông Hương Sau ngày đất nước thực hiện chính sách mở cửa hội nhập quốc tế (1986) đi dần vào nền kinh tế thị trường, kiến trúc đô thị Huế theo đó cũng phát triển mạnh

mẽ chưa từng thấy: Kiến trúc cũ nhỏ, thấp bị đập phá xây dựng kiến trúc mới cao, to; những khoảng đất trống xen lẫn các kiến trúc cũ chuyển đổi chức năng, xây dựng vào đó những kiến trúc mới bất chấp yêu cầu phải hài hoà với kiến trúc cũ, những kiểu mẫu kiến trúc mới xa lạ với kiến trúc Huế

Năm 1989 Thừa Thiên tách khỏi tỉnh Bình Trị Thiên, Huế là thành phố tỉnh lỵ của Thừa Thiên - Huế gồm 18 phường, 5 xã và hiện nay là 27 phường Ngày 24 tháng 9 năm 1992, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 355-CT công nhận thành phố Huế là đô thị loại 2 Ngày 24 tháng 8 năm 2005, Chính phủ Việt Nam

Trang 24

ban hành quyết định số 209/2005/QĐ-TTG, theo đó, thành phố Huế được nâng từ

đô thị loại 2 lên đô thị loại 1 nhưng không trực thuộc trung ương mà trực thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế Sau khi Huế được công nhận là đô thị loại 1, Bộ Chính trị Khoá X

ngày 25 tháng 5 năm 2009 đã ra Kết luận số 48-KL/TW về "Xây dựng, phát triển

tỉnh Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020", trong đó nêu rõ phương hướng:

"Xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới, là trung tâm của khu vực miền Trung và một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch; khoa học-công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục – đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao Phấn đấu năm 2020, Thừa Thiên Huế xứng tầm là trung tâm đô thị cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, y tế, đào tạo lớn của cả nước và khu vực các nước Đông Nam Châu Á

1.2.2 Đặc điểm cấu trúc khu phố Tây ở bờ Nam sông Hương thời Pháp thuộc

Vào cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX, người Pháp đã tạo ra ở bờ Nam sông

Hương một phân khu kiến trúc theo lối mới mà bấy giờ họ gọi là “quartier Européenne” hoặc “Ville Européenne”, tạm dịch là phố Tây Họ gọi như vậy để phân biệt với khu vực kiến trúc cung đình cổ kính ở bên kia sông là “Ville Annamite” (xem Hình 1.4)

Cấu trúc khu phố Tây được chia thành các khu đất, dựa trên 2 trục không gian chính và vuông góc với nhau (đường Lê Lợi và đường Hùng Vương ngày nay) Đoạn giao nhau này gần như được xem là khoảng không gian đẹp nhất của khu phố này, tiếp nối giữa khu phố cổ và khu phố mới thông qua cầu Thành Thái (cầu Trường Tiền ngày nay) Dọc theo đường Jules Ferry (đường Lê Lợi hiện nay) bên

bờ Nam sông Hương, người Pháp dựng lên các công trình Toà Khâm sứ Trung Kỳ, Khách sạn Morin, sở Công chánh, Câu lạc bộ Thể thao, chi nhánh Ngân hàng Đông Dương, Bệnh viện Huế, Phủ Doãn, Trường Đồng Khánh, trường Quốc Học, Nhà Công sứ, Toà Công sứ, Viện Dân biểu Trung Kỳ… Các công trình dọc theo đường

Trang 25

Thuộc địa số 01 (đường Hùng Vương ngày nay) người Pháp xây dựng Đồn De Courcy (thường gọi là đồn Săn đá ), Lầu Ông Sáu, Bót Cò…[4] (xem Hình 1.5-1.12)

Các công trình được định vị trên trục không gian đường Jules Ferry tiếp giáp với sông Hương tạo nên một sự chuyển tiếp không gian rất nhẹ nhàng và đầy tính Huế khi để lại cho sông Hương một khoảng xanh cần thiết giống như bên bờ Bắc sông Hương Mặc dù khu phố mới bị coi là “khu phố thuộc địa”, nhưng có một điều may mắn là người Pháp đã quy hoạch và xây dựng khu phố Tây ở Huế một cách có

ý thức Họ tôn trọng giá trị tự nhiên của sông Hương nói riêng và vẻ đẹp hài hòa của tổng thể Kinh đô Huế nói chung, họ đã không tạo ra đối nghịch nào với phong cảnh tự nhiên và phong cách vốn có của Huế xưa Các công ốc và dinh thự tân thời đều được xây dựng ở những vị trí hơi cách xa bờ sông Hương, phần lớn ở bên lề Nam của đường Jules Ferry, khống chế chiều cao không quá hai tầng Từ bờ sông lên đến lề phía Bắc của con đường là những thảm cỏ xanh hoặc những hoa viên xinh xắn Ở hai lề đường ấy, họ còn trồng những hàng cây đại thọ, vừa để làm mát

và đẹp cho con đường, vừa để làm giải phân cách không gian giữa khu phố Tây với sông Hương và bờ Bắc

Khu phố Tây không phải chỉ phụ thuộc vào các công trình đơn lẻ mà còn đạt được sự thành công trong việc hòa nhập giữa công trình và cảnh quan công trình, thiên nhiên, đường phố tạo nên một không gian hài hòa, cân đối với không gian chung của đô thị Khu phố Tây là một thành phần cấu trúc đô thị mới được bổ sung vào đô thị cổ của Huế và nó càng làm tăng thêm tính đa dạng của hình thái không gian đô thị của miền núi Ngự - sông Hương

Nhờ có ‎ ý thức như thế, cho nên trong một thời gian dài, ít nhất là đến năm

1954, hai hệ thống kiến trúc ở hai bờ con sông, tuy ra đời trong hai thời đại lịch sử khác nhau và xuất hiện từ hai nền văn hóa khác nhau, nhưng vẫn cùng tồn tại một cách êm đẹp trên một mẫu số chung về giá trị nghệ thuật

Trang 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, dưới chế độ thực dân - phong kiến, bên cạnh việc bóc lột và tận thu tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam, người Pháp cũng đã thành công trong việc mở mang các đô thị, xây dựng nhiều công trình kiến trúc có chất lượng nghệ thuật, tạo lập và vận hành một số tiện ích công cộng của đô thị…Thời

kỳ này đánh dấu bước chuyển biến của các thành thị kiểu phương Đông bước sang giai đoạn phát triển hiện đại và mang dấu ấn một đô thị kiểu phương Tây

Qua hơn ba trăm năm, đô thị Huế được định hình bởi những biến động lớn lao của lịch sử, cùng với tác động của điều kiện tự nhiên, mà kết quả là kiến trúc cổ truyền

và kiến trúc thuộc địa đã gặp nhau, cùng chung sống và hòa hợp trong một thành phố đẹp và thơ Năm 1802, vua Gia Long bắt đầu xây kinh thành, đánh dấu bước phát triển đầu tiên của đô thị Huế Trung tâm đô thị nằm trên bờ Bắc sông Hương với kinh thành và vùng phụ cận Kinh đô cũng như các dinh thự được quy hoạch theo nguyên tắc phong thủy phương Đông, nhưng không khỏi có đôi nét ảnh hưởng phương Tây: thành lũy kiểu Vauban, đường phố chia ô bàn cờ Trong nửa thế kỷ tiếp theo (cho tới khi thực dân Pháp xâm lược nước ta năm 1858), bên bờ Bắc sông Hương, đô thị Huế vẫn tiếp tục phát triển dòng kiến trúc truyền thống Sau khi xâm chiếm nước ta, nhất là từ sau khi Kinh thành thất thủ, thực dân Pháp xây cất một số công trình phục vụ cho cuộc xâm lược và cai trị Tất cả đều được xây ở bờ Nam sông Hương Có thể nói, các công trình thời Pháp thuộc đã từng làm nên cảnh quan một nửa đô thị Huế Ngày nay nhiều công trình vẫn còn giá trị thẩm mỹ cao, góp phần tạo nên cảnh quan hữu ngạn Hương Giang Không những thế, chúng vẫn đang hoạt động, phục vụ cuộc sống hôm nay, cho dù chức năng một số công trình đã khác trước Khu phố Tây hài hòa với khu phố cổ bên bờ Bắc sông Hương là một mẫu mực về kiến trúc không gian đô thị truyền thống và hiện đại

Trang 27

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC PHÁP

Ở BỜ NAM SÔNG HƯƠNG TRONG KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ DI SẢN HUẾ

2.1 Những yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển kiến trúc Pháp ở

bờ Nam sông Hương

2.1.1 Yếu tố tự nhiên

* Vị trí địa lý, địa hình

Thừa Thiên Huế nằm về phía Nam vùng Bắc Trung Bộ Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp đèo Hải Vân, phía Đông giáp biển Đông (phá Tam Giang) và phía Tây tiếp giáp với dãy Đông Trường Sơn Địa hình Thừa Thiên Huế khá phức tạp gồm nhiều dạng: vùng đồi núi, đồng bằng, biển Cấu trúc của địa hình theo chiều ngang từ Đông sang Tây gồm: biển, đầm phá, đồng bằng nhỏ hẹp, vùng đồi thấp và núi Các dạng địa hình chủ yếu: vùng đồi núi, vùng đồng bằng duyên hải, vùng đầm phá Vị trí, đặc điểm địa lý tự nhiên đa dạng, tương phản và độc đáo

có ảnh hưởng quyết định đối với sự tiến hóa tự nhiên, đặc biệt là chế độ khí hậu – thủy văn

* Khí hậu

Chế độ khí hậu rất đặc biệt, vừa mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa miền Bắc với mùa đông lạnh, vừa thể hiện khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình của miền Nam Đối với gió mùa đông Đông Bắc giá lạnh các dãy núi trung bình án ngữ

ở phía Tây và Nam có tác dụng như là bức tường thiên nhiên ngăn chặn không khí lạnh và hơi nước ngưng tụ lại ở sườn Đông Trường Sơn và sườn Bắc Bạch Mã – Hải Vân, đồng thời gây ra “mưa địa hình” với lượng mưa lớn vào loại bậc nhất nước ta Còn vào mùa hè lại xuất hiện gió Tây Nam do khối không khí nhiệt đới

Trang 28

biển bắc Ấn Độ Dương xâm nhập vào lãnh thổ nước ta gây ra Do tác động của hiệu ứng “phơn” gió mùa hè nhiệt đới biển Tây Nam khi đối mặt với dãy Trường Sơn hầu như để lại toàn bộ lượng ẩm, gây ra mưa (mùa hè) trên lãnh thổ Tây Trường Sơn và trở thành gió mùa hè Tây Nam khô nóng khi thổi qua các tỉnh sườn Đông Trường Sơn

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm của Thừa Thiên Huế khoảng

25oC Do sự tác động của gió mùa nên đã hình thành hai mùa với sự khác biệt về chế độ nhiệt rõ rệt Biên độ nhiệt trung bình hàng năm gần 10oC Đây là một điểm rất đặc biệt vì tính cách khắc nghiệt của khí hậu gần giống với những vùng lãnh thổ

có vĩ độ cao hay của những lãnh thổ nằm sâu trong lục địa

- Độ ẩm

Từ tháng 9 đến tháng 3 độ ẩm không khí cao trên 90% trùng với mùa mưa và thời gian hoạt động của khối không khí lạnh biến tính từ biển Đông tràn vào lãnh thổ Từ tháng 4 đến tháng 8 : độ ẩm dưới 90% Tuỳ theo cường độ hoạt động của gió mùa Tây Nam mà độ ẩm có thể giảm xuống có khi dưới 45%

- Gió mùa và mưa

Hàng năm Thừa Thiên Huế nhận được một lượng mưa lớn, trung bình trên 3000mm, song phân bố không đều Mưa phần lớn tập trung vào tháng 10 và 11, trong khoảng thời gian này bão thường xuất hiện gây nên những cơn lũ lớn Năm

1953 (4937mm); năm 1975 (3278mm) lụt vượt mức báo động 3 với đỉnh lũ là 5,08m ; năm 1999 mưa lớn dài ngày đã gây lụt lớn với đỉnh lũ là 6m (Kim Long)

* Thủy văn

Hệ thống thuỷ văn ở Thừa Thiên Huế hết sức phức tạp và độc đáo, thể hiện ở chỗ hầu hết các con sông đan nối vào nhau thành một mạng lưới chằng chịt: sông Ô Lâu - phá Tam Giang - sông Hương - sông Lợi Nông - sông Đại Giang - sông Hà Tạ

- sông Cống Quan - sông Truồi- sông Nong - đầm Cầu Hai

Trang 29

Địa bàn của đô thị Huế tuy không lớn lắm nhưng hầu như có đủ mọi yếu tố địa

lý tự nhiên: rừng núi, gò đồi, khe suối, thác ghềnh, đồng bằng, sông ngòi, đầm phá, biển cả…Thiên nhiên đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quy hoạch kiến trúc đô thị Huế Khi đến thăm Huế vào năm 1981, Tổng giám đốc UNESCO cũng

đã nhận định: “Những người đầu tiên xây dựng Huế đã có dụng ý đóng khung Huế

trong phong cảnh kỳ diệu từ núi Ngự Bình đến đồi Vọng Cảnh, đến phá Tam Giang

và phá Cầu Hai Và chính nhờ thế, họ đã sáng tạo ra một kiến trúc tinh vi, trong đó mỗi nhân tố đều bắt nguồn từ cảm hứng thiên nhiên gần gũi Thành phố Huế, chính

là nghệ thuật được vẻ đẹp của thiên nhiên bổ sung, tô điểm thêm”.[16] Kiến trúc sư

cảnh quan người Pháp là Frantois Xavier Mousquet, đến Huế khảo cứu trong chương trình hợp tác trao đổi văn hóa do UNESCO tổ chức vào năm 2003, đã nói rằng yếu tố đặc trưng của đô thị Huế là nước mà quan trọng nhất là sông Hương

Ông viết: “Dòng sông Hương không hề cắt đôi thành phố mà ngược lại, nó như

được ôm vào giữa lòng thành phố…Nước len lỏi trong lòng thành phố bảo đảm cho

sự tạo thành những không gian đóng - mở phong phú, đồng thời đây cũng là nền tảng cơ bản của việc tổ chức quy hoạch thành phố”.[13] Nhà dân tộc học Nguyễn

Từ Chi đã nhận xét về tính kiến trúc mở ở Huế rằng “Không gian bên ngoài luồn vào không gian của kiến trúc, kéo kiến trúc về với thiên nhiên, góp phần tổ chức lại không gian chung”.[16] Ngoại cảnh tác động vào nội tâm, âu cũng là một quy luật

tự nhiên trong cuộc sống Cảm xúc thẩm mỹ trước ngoại cảnh thiên nhiên đã được tâm hồn và trí tuệ nâng lên thành nghệ thuật, mà loại hình nghệ thuật cụ thể và sáng giá nhất ở Huế chính là kiến trúc Đồng thời, đặc trưng về khí hậu ở Huế cũng tạo nên những đặc điểm kiến trúc khác biệt so với những nơi khác

Và cũng chính vì lẽ đó, sự hình thành và phát triển của kiến trúc Pháp ở bờ Nam sông Hương đã phần nào bị chi phối bởi khí hậu và cảnh quan thiên nhiên nơi đây, tạo cho nó những nét riêng, trong sự cộng sinh, dẫn đến những biểu hiện và những hiệu quả thẩm mỹ riêng

Trang 30

2.1.2 Yếu tố văn hóa - xã hội

Văn hóa Huế hình thành và phát triển trong những điều kiện khá đặc biệt của tiến trình lịch sử dân tộc từ thế kỷ XIV, nhất là giai đoạn thế kỷ XVII-thế kỷ XX Nhìn tổng thể, văn hóa Huế là sự hài hòa giữa văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể; vừa tiếp nối bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Việt lại vừa có sự tương tác với những yếu tố văn hóa Chăm và các dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơme ở miền Trung; là văn hóa chứa đựng sự tương tác và hội tụ giữa tín ngưỡng dân gian và các triết lý tôn giáo khác như Nho, Phật, Lão; là văn hóa mang đậm yếu tố bình dân quyện lẫn chất cung đình quý tộc kiêu sa Nhìn chung, cốt lõi văn hóa Huế là văn hóa Việt Nam, nhưng được biểu hiện bằng sắc thái riêng của vùng đất kinh đô gần với đương đại nhất.[12]

Và đặc biệt, mọi sáng tạo văn hóa của Huế bao giờ cũng phải phục vụ mục tiêu kép là nhu cầu đời sống vật chất và đời sống tinh thần của hoàng gia mang tính cao cấp, bác học và nhu cầu của tầng lớp thị dân mang tính bình dân Mặc dù bản sắc của nền văn hóa Huế mang đậm nét văn hóa cung đình, ẩn chứa nét đài cát quý phái, kín đáo của chốn thâm cung, nhưng theo quá trình giao tiếp, một phần nghi lễ trong đời sống của tầng lớp dân thường cũng xâm nhập vào phủ đệ Ngược lại những tinh túy, kiểu cách từ các phủ đệ cũng lan tỏa thấm sâu vào tầng lớp viên chức và thị dân Xứ Huế là một vùng điển hình của sự đan xen – hỗn dung – tiếp biến và giao thoa ngôn ngữ văn hóa Có thể nói, văn hóa Huế là sự kết hợp giữa văn hóa triều Nguyễn và văn hóa dân gian mà tạo thành Một sự hòa quyện không có biên giới rạch ròi giữa bộ phận cung đình và bộ phận dân gian Chính sự giao thoa này đã tạo nên những giá trị văn hóa đặc sắc mang sắc thái riêng của miền núi Ngự, sông Hương

Một nét tính cách tiêu biểu của người Huế là sự tinh tế, chừng mực Sự chừng mực của người Huế thể hiện ở chỗ không thái quá, cũng không ít quá Điều này dường như được thể hiện trong nhiều khía cạnh của cuộc sống Nếu như trong giao tiếp người Nam Bộ cởi mở, thoải mái, người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ nhiều khi

Trang 31

quá chú trọng nghi thức trong giao tiếp ứng xử thì người Huế trong ứng xử lại không quá ồn ào, vừa phải, không lạnh lùng nhưng vẫn đằm thắm và sâu lắng Sự tinh tế thể hiện qua nhu cầu thẩm mỹ đến các nhu cầu ẩm thực của đời sống

Và cuối cùng, tình yêu thiên nhiên là một tình cảm lớn trong tâm hồn Huế Sự hoà hợp giữa thiên nhiên và con người là nguyên lý căn bản trong tư duy kiến trúc Huế, từ tổng thể đô thị cho đến tận chỗ ở của mỗi gia đình bình thường Ý niệm

“vườn” là nhất quán trong mọi loại hình kiến trúc Huế và người ta có thể nói đến chùa-vườn, nhà-vườn, lăng-vườn, và Huế là một thành-phố-vườn Vườn Huế không nhằm mục đích kinh tế mà là nơi con người được sống với cây cỏ trong một tình bạn lớn Ở đất Thừa Thiên, hiện hữu không chỉ sự liền kề và song tồn của núi, đồi, đầm vạc, sông ngòi, cửa sông – cửa biển và biển cả mà còn hiện hữu cả một cơ ngơi thiên nhiên có bàn tay con người nhúng vào và làm biến đổi đi, song lại chừng mực và có cái riêng, rất chi là Huế, với con sông Hương chảy giữa đô thị mà không

hề bị đô thị hóa như các nơi khác, với những xóm làng không vẽ quy hoạch mà lồng ghép khéo léo vào nền cảnh đất – người, nhuần nhị đến tự nhiên [25]

Các công trình kiến trúc Pháp ở bờ Nam, tiếp giáp với sông Hương cũng đã có cách ứng xử phải lối với thiên nhiên – đất trời Huế, có sự cân nhắc trong những ý tưởng và đường nét quy hoạch, tạo nên một sự chuyển tiếp không gian rất nhẹ nhàng và đầy tính Huế

2.1.3 Yếu tố kiến trúc truyền thống

“Kiến trúc dân gian, kiến trúc cộng đồng làng xã, kiến trúc cung đình ba dòng chảy cùng chiều có nhiều san sẻ nhưng có ranh giới, bởi quy ước và sự thừa nhận của người đời”[37, tr.41] Từ nhận định đó, diện mạo, chân dung, lẫn nét đặc trưng định hình thành bản sắc của kiến trúc truyền thống Huế chính là cái ranh giới mong manh giữa kiến trúc dân gian (nhà ở, nhà vườn…) - kiến trúc cộng đồng (đình, chùa…) - kiến trúc cung đình (cung điện, phủ đệ, lăng tẩm…).(xem Hình 2.1 a,b,c)

Trang 32

Theo Hoàng Đạo Kính, có hai thành phần nổi trội trong kiến trúc truyền thống

ở Huế Thứ nhất là các cấu trúc cư dân đô thị hoặc bán đô thị Dạng ô phố ở trong thành nội Dạng phố thị và dãy phố buôn bán như Bao Vinh, dạng xóm phố như Gia Hội, dạng làng kề đô thị như Kim Long và Vỹ Dạ Ngoại trừ các cấu trúc phố thị và

dãy phố, ở hầu hết các thành phần cư dân đô thị khác, đơn vị - không gian ở là nhà vườn Chính hình thái cư dân nhà vườn đã tạo nên đặc trưng nổi trội cho Huế, làm cho Huế khác biệt các đô thị ở nước ta Thứ hai là căn nhà rường, một kiểu kiến

trúc dân dụng phổ biến và phát triển đến đỉnh cao ở Huế [20]

Những tư tưởng triết lý chủ đạo để thiết lập đô thị và cả những yếu tố kiến trúc truyền thống ở Huế đều bị chi phối bởi những tiêu chí rút ra từ Dịch lý và thuật Phong thủy Núi Ngự Bình vẫn được dùng làm tiền án như bức bình phong trấn giữ phía trước Kinh đô Sông Hương là minh đường Hai hòn đảo trên sông này là cồn Hến và cồn Dã Viên được giao đóng vai trò tả thanh long và hữu bạch hổ Như vậy, nhiều thực thể địa lý trên địa bàn đã được hình tượng hóa, siêu nhiên hóa, nghĩa là các nhà kiến trúc bấy giờ đã gắn vào cho chúng những chức năng tâm linh, làm cho cảnh vật ở đây càng trở nên huyền bí và hấp dẫn Đó là một số ngôn ngữ truyền thống ẩn tàng trong kiến trúc Kinh đô Huế ngày xưa và thành phố Huế ngày nay [5]

Trong cơ cấu không gian đô thị của Huế đã thiết lập một mối quan hệ hữu cơ giữa môi trường thiên nhiên và không gian kiến trúc Kiến trúc đô thị cổ của Huế là kiến trúc phải phù hợp với thời tiết mưa dầm nắng gắt, lụt bão hằng năm Bộ mái của nhà rường Huế chịu đựng được mưa gió, bão Sống trong nhà rường trời nóng thì mát, trời lạnh thì ấm Trong nhà có rầm thượng để phòng khi nhà bị ngập nước

có chỗ cao để “chống lụt” Nhà rường thường dựng trong một khu vườn, trước nhà

có sân, hồ và bình phong Trời nóng sinh hoạt ngoài sân, mở hết cửa bảng khoa dựng qua một bên, kéo cái nội thất ra ngoại thất, ngược lại trời mát sinh hoạt trong nhà, mở hết các cửa bảng khoa kéo cái ngoại thất sân hồ cây cảnh vào nhà Lúc ban đầu, nhà cửa các quan, các phủ phòng Nguyễn Phước tộc thường dựng ở gần sông

Trang 33

Trước hoặc sau các nhà đều có bến sông Môi trường sống không những có cảnh quan nhà vườn mà còn có cả sông nước Thiên nhiên hiện hữu trong đời sống rất đậm Ở đây, kiến trúc được tạo ra như một yếu tố bổ sung vào khung cảnh thiên nhiên, làm cho thiên nhiên hoàn chỉnh hơn, đẹp đẽ và hấp dẫn hơn Và ngược lại, các yếu tố thiên nhiên, cây cảnh, bề mặt nước, đôi khi cả ánh sáng cũng như được kéo xích gần lại, trong chừng mực nào đó, còn hòa nhập vào không gian kiến trúc

Và một nét đặc trưng nữa trong kiến trúc truyền thống của Huế là sự tinh tế, nhẹ nhàng Tinh tế trong thẩm mỹ đô thị biểu hiện ở cái ít, cái nhỏ nhưng kỹ Kỹ trong tạo hình, trong việc dùng vật liệu, kỹ thuật chế tác và đặc biệt kỹ trong tư duy

và quyết định Kiến trúc Huế đẹp không phải lớn hay nhỏ mà do tỷ lệ với cảnh quan

và tỷ lệ với chính nó Kiến trúc Huế luôn lựa chọn một lý lẽ khiêm nhường để thực hiện một ý tưởng không tầm thường, cái khiêm nhường trong mỗi công trình được cân đối lại bằng sự rộng lớn của thiên nhiên, sự hùng vĩ và cao cả của thiên nhiên

mà thiếu nó công trình kiến trúc sẽ không còn ý nghĩa nữa Đó là cái tinh tế trong tổ hợp không gian

Người Pháp khi quy hoạch và mở rộng đô thị Huế cũng đã có thái độ ứng xử rất văn hóa, đã nhận ra và rất tôn trọng những kiến trúc truyền thống ấy Do đó, họ

đã chuyển phần không gian đô thị giai đoạn thực dân sang hẳn bờ Nam sông Hương, tận dụng cảnh quan đôi bờ sông Hương làm không gian chuyển tiếp giữa hai phần kiến trúc đô thị “cũ” và “mới” Qua thời gian, những ngôi nhà kiểu Tây đó cũng trở thành một nét kiến trúc tiêu biểu cho một thời Huế xưa

2.2 Định vị thành phần kiến trúc Pháp trong không gian đô thị di sản Huế 2.2.1 Đô thị di sản Huế và các thành phần cơ bản

Huế từ lâu đã được xác định là đô thị di sản Xét trên tổng thể, một đô thị được công nhận là Thành phố di sản có thể được cấu thành bởi 3 thành tố cơ bản: di sản thiên nhiên, di sản kiến trúc , đô thị và di sản văn hóa nhân văn

Trang 34

Di sản kiến trúc đô thị của Huế không chỉ là quần thể kiến trúc cung đình nhà Nguyễn được quốc tế công nhận, mà là một quỹ tích lũy vật chất – văn hóa – đô thị

đồ sộ, bao gồm phức hợp di sản kiến trúc của một kinh đô thời phong kiến duy nhất còn lại ở nước ta, các làng cổ và cũ nội đô, các khu phố thị, khu phố xây dựng thời thuộc địa và thời chuyển tiếp, các không gian thiên nhiên mở thuộc đô thị mà lại đô thị hóa mềm mại theo cách riêng của Huế (xem Hình 2.2)

* Kiến trúc triều Nguyễn gồm 3 mảng: Kinh thành, các công trình kiến trúc

cung đình và các lăng tẩm

Kinh Thành Huế được quy hoạch bên bờ Bắc sông Hương Hệ thống thành quách gồm nhiều lớp không gian: Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm thành được xây dựng cùng trên một trục Kinh thành là nơi sinh sống của quan lại và dân cư Lớp không gian vòng thành giữa: Hoàng thành, được phân chia thành các lớp không gian theo chức năng sử dụng khác nhau, là nơi làm việc, thờ cúng của Vua chúa Lớp không gian vòng thành trong cùng: là khu trung tâm gọi là Tử Cấm thành, là nơi ở và sinh hoạt của vua, hoàng hậu và các cung tần mỹ nữ Cấu trúc lớp không gian các vòng thành được tổ chức bao bọc theo một ý đồ thống nhất, chặt chẽ, hài hoà tạo nên tổng thể kiến trúc - cảnh quan tuyệt vời Kinh Thành Huế là sự kết hợp độc đáo giữa những nguyên tắc kiến trúc truyền thống nhiều lớp Việt Nam, tư tưởng triết lý phương Đông với thuyết âm dương ngũ hành của Dịch học Trung Hoa cùng những đặc điểm mang ảnh hưởng kiến trúc quân sự phương Tây kiểu Vauban.[15]

Đi liền với thành trì là một loạt các hệ thống công trình kiến trúc cung đình như miếu đàn, dinh thự, phủ đệ, ngự viên Đây là một hệ thống có giá trị chứa đựng nhiều tinh hoa truyền thống về kiến trúc của dân tộc Việt Nam Là một tổng thể khá hoàn chỉnh, nhưng kiến trúc kinh thành, cung điện ở Huế không to lớn choáng ngợp, khô khan như kiến trúc của một số kinh đô khác Ngược lại đây là một hình thái kiến trúc tinh tế, các công trình kiến trúc gắn bó với cảnh quan sông núi hữu tình, chứa đựng những đường nét trang trí chạm khắc tinh xảo Trong kiến trúc cố đô Huế, nghệ thuật tạo hình không gian đã đạt đến tính hòa điệu, gây được

Trang 35

ấn tượng thẩm mỹ cao Nét tinh tế, tài hoa của người xưa ẩn dấu tài tình trong mỗi góc cạnh của vẻ đẹp kiến trúc và thiên thiên

Lăng tẩm của các vị vua triều Nguyễn nằm ẩn mình trong vùng đồi núi ven hai

bờ sông Hương, phía Tây Nam thành phố Huế Các lăng tẩm khá bề thế, vừa tuân thủ nghiêm ngặt những quy tắc của lăng tẩm với hệ thống sân chầu; tẩm điện, bi đình, bảo thành; đồng thời lại vận dụng hình thái kiến trúc cung điện, điểm xuyết thêm hồ sen, lối dạo, tùng viện, thủy tạ, đình quán; cá biệt còn có cả nhà đọc sách, nhà hát, trường bắn của nhà vua như lăng Tự Đức Mỗi lăng vua là một phong cách kiến trúc riêng, thể hiện một phần những yếu tố triết lý, tâm linh và giá trị thầm mỹ riêng biệt Và bao trùm lên tất cả là lăng vua Nguyễn không gợi lên cảm xúc đau buồn về cái chết, ngược lại mỗi lăng vua là một chốn thanh nhã để con người dạo chơi, ngắm nhìn và suy tưởng Lăng được xây theo thuyết Phong thủy, kiến trúc đậm đà bản sắc văn hóa Việt, nổi bật ở nghệ thuật tạo cảnh Bố cục và hình thức lăng tẩm thể hiện được ít nhiều đặc điểm tính cách của các vị vua triều Nguyễn Trên toàn cảnh từng khu lăng tẩm ở Huế có quy mô lớn, song tách ra từng kiến trúc riêng thì vẫn là cấu trúc nhà – vườn quen thuộc, sự sáng tạo tài tình trên cơ sở những nguyên tắc chung, do đó uy nghiêm mà gần gũi, của triều đình mà mang dáng dấp như đã gặp ở làng quê

* Kiến trúc phố thị

Mảng kiến trúc phố thị, với các dãy phố ở phía Đông kinh thành, khu Gia Hội, Bao Vinh và 4 phường trong kinh thành, có những đặc điểm và giá trị về lịch sử - văn hóa – kiến trúc

Từ rất sớm, Huế là một trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng của Đàng Trong, có sự giao lưu với bên ngoài khá sớm Từ thế kỉ XVI – XVII đã hình thành một khu đô thị khá sầm uất Trong chuỗi phố thị của Huế ngày xưa, Thanh Hà – Bao Vinh – Gia Hội – Đông Ba lần lượt là những cảng thị được hình thành và phát triển dọc theo chiều dài lịch sử, và cũng dọc theo con sông Hương, ngược dần về

Trang 36

phía kinh thành Đây là một vùng đô thị cổ gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của Kinh đô bao gồm nhiều hệ thống cấu trúc đa dạng của đô thị cổ ở Huế như dinh phủ, chùa cổ, đình miếu, khu phố chợ truyền thống, hội quán của các thương nhân cùng các nhà cổ, nhà truyền thống…[38] (xem hình 2.3 a,b)

4 ô phố trong kinh thành, hình thành từ cuối thế kỷ XIX, là một ví dụ khá sớm

về kiểu quy hoạch theo ô bàn cờ, so với kiểu quy hoạch tự phát theo dãy phố, là một kiểu mẫu về sự sắp đặt theo tôn ti trật tự, sự phân chia không gian dẫn đến sự hình thành kiểu nhà vườn Huế, một sản phẩm kiến trúc – xã hội mạng đậm tính nhân văn Đồng thời, 4 ô phố này là mẫu mực về quản lý xây dựng: khống chế những gì tác động đến sự nhất thể, song lại mở cửa cho những biến hóa đương nhiên trong chi tiết Cho đến nay, những đường Lê Thánh Tôn, Hàn Thuyên, Đặng Trần Côn, Ngô Sỹ Liên, Đinh Công Tráng còn lưu giữ được phần nào hình ảnh phố vườn Huế (xem Hình 2.3c)

* Các làng truyền thống

Chính sự đa dạng của địa hình trong vùng eo thắt của dải đất miền Trung đã tạo cho Huế nhiều kiểu kiến trúc làng truyền thống, thể hiện ứng xử phong phú của con người nơi đây đối với cảnh quan thiên nhiên và môi trường cư trú Các làng xã trong, giữa lẫn cạnh kinh thành hay ven đô, phân bố chủ yếu trên những thảm phù

sa ven sông - có cây xanh trong những khuôn viên nối tiếp nhau làm nên ấn tượng của một thành phố vườn - trong vườn có phố - và trong phố có nhà vườn

Các làng ven kinh thành như Kim Long, Vĩ Dạ, An Cựu, Dương Xuân Thượng, Dương Xuân Hạ, Nguyệt Biều,… là những thành phần hữu cơ của cơ thể kinh đô Huế, nơi có sự chuyển hóa tự nhiên từ kiến trúc kinh thành sang kiến trúc phố thị, sang kiến trúc các làng ven Các làng ven lại chuyển hóa tự nhiên sang các làng xã ngoại vi như làng Lại Ân, Thanh Tiên, Nam Phổ, Chiết Bi, Dưỡng Mong, Công Lương, Dạ Lê Chánh, v.v… ở huyện Phú Vang và huyện Hương Thủy, ít nơi

Trang 37

nào trên đất nước ta còn thấy được sự toàn vẹn về kiến trúc, sự sống động trong sinh hoạt cộng đồng thôn xã đến thế

Các ngôi làng truyền thống dọc hai bờ sông Hương, ngoài những xóm thôn dân dã, đây đó lại có sự xen lẫn những khuôn viên phủ đệ hay các dinh thự ẩn mình trong cây xanh của tầng lớp quan lại, thượng lưu chung sống với những kiến trúc cộng đồng như đình miếu, chùa làng, chợ làng Cái chung trong cấu trúc của chúng

là đều có cấu trúc quy hoạch không gian theo đơn vị khuôn viên – nhà vườn, đều sở hữu một bộ đầy đủ những thiết chế tôn giáo và tín ngưỡng, đều chung một kiểu kiến trúc hoặc nhà vuông hoặc nhà rường, về cơ bản trang trí bày biện giống nhau Sự khác biệt là ở chỗ sang hoặc nghèo Song trong trình độ thẩm mỹ không nhận thấy

sự khác biệt trời vực.[36]

Ranh giới mong manh giữa hai dòng kiến trúc cung đình - dân gian ở Huế, tự

nó đã tạo nên tính hoà hợp, và thật khó để có thể hình dung khoảng ranh giới cụ thể Cây xanh ở đây đã làm chiếc gạch nối phổ biến giữa khuôn viên này với khuôn viên khác, giữa làng này với làng khác, khiến chân dung của kiến trúc đô thị Huế trên một góc độ nào đó phải được nhìn nhận như một ngôi làng lớn có nét bình dị của chốn thôn dã, nhưng cũng mang chất sang trọng, nếp quyền quý phong lưu của một thời vang bóng

* Kiến trúc thuộc địa

Cũng như tại hầu hết các đô thị ở nước ta, trong thời gian cai trị của Pháp, chính quyền thực dân tại Huế đã thiết lập một khu phố mới, thường gọi là khu phố Tây Khu vực này nằm phía Nam sông Hương, lan tỏa dần xuống phía sông An Cựu Người Pháp đã tinh tế nhìn ra cái cần phải làm trong thiết kế xây dựng, cho nên, vẫn giữ cho Huế một tổng thể không thoát ra khỏi tinh thần vốn có Các công trình kiến trúc Pháp chẳng những không muốn tự tạo riêng cho mình một cụm kiến trúc biệt lập, mà còn uyển chuyển gắn vào tổng thể, làm nên sự kết hợp của nhiều nét riêng trong cái chung của cảnh sắc phố phường, thị tứ, kinh thành và các khu

Trang 38

dân cư làng xã, xóm phường Họ đã không tạo ra sự đối nghịch giữa phong cảnh thiên nhiên và công trình kiến trúc, các công ốc và dinh thự được xây dựng có ý thức nằm cách xa và không che lấp dòng sông Từ những công trình trên đường phố, qua thảm cỏ xanh tới mặt nước tạo nên sự gắn kết, hỗ trợ cho nhau trong mối quan hệ kiến trúc và thiên nhiên Hiện nay, khu vực này còn tồn tại khoảng 200 công trình kiến trúc được xây dựng từ thời Pháp, trong đó có nhiều công trình đẹp: trường Quốc học, trường Hai Bà Trưng, cung An Định, cầu Trường Tiền, khách sạn Morin, Đài tưởng niệm các chiến sỹ trận vong, Viện dân biểu Trung Kỳ…với nhiều phong cách kiến trúc khác nhau Đường nét kiến trúc Châu Âu đầu thế kỷ thể hiện rất rõ từ quy hoạch mặt bằng đến thiết kế công trình cụ thể Và ở đây cũng còn tồn tại nhiều nhà ở kiểu biệt thự Loại mô hình kiến trúc này được xây cất nhằm phục

vụ cho nhu cầu ở của một số thị dân, quan lại, công chức, kiều dân của chính quyền Bảo hộ Pháp Các tòa biệt thự khi thiết lập, chủ nhân của nó cũng rất chú trọng đến không gian cảnh quan xung quanh Các ngôi nhà dù một hoặc hai, ba tầng đều có mật độ xây dựng thấp, khiêm tốn nép mình trong khung cảnh vườn cây xanh mát

* Cảnh quan thiên nhiên

Một nhân tố cực kỳ quan trọng đã làm nên cấu trúc đô thị Huế, đó là thiên nhiên Hệ thống đồi núi phía Tây Nam thành phố với Tam Thai, Ngự Bình, Thọ Sơn, Kim Phụng, Thiên An, đồi Vọng Cảnh…và đặc biệt là hệ thống sông ngòi, trong đó nổi bật là sông Hương Thiên nhiên được tham gia vào việc tổ chức không gian đô thị, được khai thác như là những trục làm chức năng chuyển hóa hai không gian Bắc và Nam Xử lý thiên nhiên tạo nên sự “mềm hóa” của các không gian đặc trưng mà không đối nghịch nhau Ví như sông Hương đã trở thành linh hồn của tính chất thơ mộng của thành phố

Thiên nhiên được xử lý trong bố cục quy hoạch tổng thể cũng như trong từng

ô phố, từng công trình làm tăng tính lãng mạn và chất thơ cho đô thị Yếu tố cây xanh và mặt nước được khai thác một cách nhất quán trong tổng thể thành phố cũng như trong từng khu vực và cả trong các công trình kiến trúc riêng lẻ mà tiêu biểu là

Trang 39

kiến trúc lăng tẩm, kiến trúc nhà vườn Kiến trúc Huế không quá choáng ngợp, không gây cảm giác áp đảo dù đó là hoàng cung hay lăng tẩm Tôn trọng thiên nhiên, khai thác thiên nhiên, xem đó như là một yếu tố cấu thành tổng thể kiến trúc Thái độ ứng xử của những người đi trước là biết tôn trọng và khai thác thiên nhiên Như vậy bản sắc đô thị Huế được hình thành suốt quá trình xây dựng và phát triển của mình bởi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các yếu tố “Kiến trúc – Thiên nhiên”, được thể hiện trong sự chuyển hóa khéo léo giữa các cấu trúc không gian đô thị

2.2.2 Đặc trưng hình thái không gian của khu phố Tây ở bờ Nam sông Hương hiện nay

* Quy hoạch ô phố, tuyến phố

Nhìn tổng thể, người Pháp quy hoạch khu phố Tây này rất cụ thể, bố cục cấu trúc chặt chẽ, rất chi tiết nhưng thông thoáng và có phân khu chức năng rõ ràng Trong cấu trúc hình thái khu phố Tây đã xuất hiện cấu trúc tổ hợp tia tán xạ - là một trong những hình thái kinh điển của các đô thị Châu Âu, mà người Pháp đã cố gắng đưa vào không gian đô thị Huế Trục chính của tổ hợp tia tán xạ bắt đầu từ cầu Tràng Tiền chạy thẳng đường Hùng Vương Hai tia tán xạ đối xứng hai bên là đường Hà Nội và đường Bến Nghé Ba tuyến đường song song cùng vuông góc với trục đường Hùng Vương là Lê Lợi, Trần Cao Vân và đường Đống Đa – Lê Quý Đôn [22] (xem Hình 2.4)

Dựa vào các nghiên cứu lịch sử cũng như thực tế cho thấy, cấu trúc các ô phố

về cơ bản không thay đổi nhiều so với thời Pháp thuộc, sự thay đổi rõ nhất nằm ở cấp độ công trình và cảnh quan khu vực Về công năng của hệ lưới ô phố hình học này có thể được chia làm 3 dạng: ô phố công trình công cộng, ô phố hỗn hợp, ô phố nhà ở Dạng chiếm tỉ lệ lớn nhất trong khu phố Tây ở bờ Nam là ô phố dành riêng cho các công trình công cộng như một công trình hành chính, một trường học, một bệnh viện lớn Các tòa nhà có thể được xây dựng tập trung hay phân tán trong một khuôn viên rộng với nhiều cây xanh chiếm toàn bộ diện tích một ô phố Một đặc

Trang 40

điểm khác của ô phố công cộng thường có vị trí đẹp trong đô thị do tính chất của các cơ quan công cộng trong quy hoạch Tiếp theo là ô phố hỗn hợp Đây là những

ô phố bao gồm cả công trình công cộng và nhà ở Dạng ô phố cuối cùng là các ô phố nhà ở

Tuyến phố của người Pháp xây dựng tại Huế là khoảng không gian được hình thành từ những ô phố Tương tự như trường hợp ô phố, tuyến phố nhà công cộng là những tuyến phố chỉ có duy nhất một thể loại công trình là nhà công cộng hoặc chủ yếu là nhà công cộng Tuyến phố này xuất hiện ở ven bờ sông Hương và trục chính của khu phố Tây (tuyến phố Lê Lợi , tuyến phố Hùng Vương) Dạng tuyến phố thứ hai là những tuyến phố xây dựng xen kẽ giữa các công trình công cộng lớn là những nhà ở dạng biệt thự hay nhà ở - cửa hàng Hai dạng tuyến phố này có đặc điểm thường gắn chặt với các không gian đô thị có giá trị cao như công viên, tiểu viên, quảng trường, tạo thành những điểm nhấn và đặc trưng cảnh quan của thành phố Dạng tuyến cuối cùng là những tuyến phố chỉ có nhà ở dạng biệt thự hoặc chung cư, cũng có thể là những tuyến phố nhà ở là chủ đạo chỉ có một vài công trình công cộng nhỏ

Khi xây dựng khu phố ở bờ Nam sông Hương, người Pháp tạo nên các ô phố xinh xắn, nhiều cây xanh, chiều cao công trình, mật độ xây dựng vừa phải Điển hình là tuyến đường Lê Lợi với một bên là kiến trúc xây dựng đứt quãng và một bên

là triền sông Hương, hầu như mở thoáng liên hoàn Những phố nhỏ hơn, vuông góc với đường Lê Lợi, như đường Trần Thúc Nhẫn, đường Phan Bội Châu, đường Nguyễn Trường Tộ, đường Lê Lai, đường Phạm Hồng Thái…Chúng là những con đường nách hầu như không có nhà quay ra, chỉ che phủ bởi những rặng cây Hầu hết các công trình lớn, quan trọng đều tọa lạc trên các trục đường rộng lớn, chiều cao của công trình tỷ lệ thuận với chiều rộng của đường phố Điểm kết ở một số ngã

ba, ngã tư, ngã năm, ngã sáu là những tiểu viên mà ngày nay những vườn hoa này vẫn còn

Ngày đăng: 11/11/2022, 13:44

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w