1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Diễn đàn Khoa học Công nghệ Khai thác tài nguyên biển sâu PGS.TSKH Nguyễn Tác An Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Biển Việt Nam

3 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 712,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Diễn đàn Khoa học và Công nghệMối quan tâm của nhiều quốc gia Từ những năm 60 của thế kỷ XX, thế giới đã “nóng lên” với thông tin những vùng biển, đại dương sâu hơn 200 m không gian ngoà

Trang 1

Diễn đàn Khoa học và Công nghệ

Mối quan tâm của nhiều quốc gia

Từ những năm 60 của thế kỷ

XX, thế giới đã “nóng lên” với

thông tin những vùng biển, đại

dương sâu hơn 200 m (không

gian ngoài khu vực kinh tế độc

quyền - EEZs của các quốc gia)

chứa đầy những tài nguyên quý

giá mà đất liền đang cạn kiệt Các

cường quốc biển như Nga, Mỹ,

Đức, Anh, Pháp, Nhật Bản “đua

nhau” xây dựng những sách lược

tìm kiếm, khai thác và thương mại

hóa các nguồn tài nguyên quý

hiếm của vùng biển sâu

60 năm đã qua, với những

khoản đầu tư không hề nhỏ và

rất nhiều công sức, trí tuệ, trải

nghiệm, con người cũng chỉ mới

có thể bàn luận một số vấn đề

“sát sườn” đang được quan tâm

nhiều nhất Đó là những vấn

đề “chắc chắn” và “không chắc

chắn” liên quan đến khai thác, sử

dụng, thương mại hóa đại dương,

biển sâu có hiệu quả và an toàn

hơn1

Cũng như nhiều quốc gia

có biển khác, Việt Nam đã phê

chuẩn Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 (năm 2007), Luật Biển Việt Nam (2012) và Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 (Nghị quyết

số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018)

Việt Nam đã khẩn trương tổ chức

và triển khai các hoạt động khai thác, bảo vệ biển, đảo, nhất là vùng biển nông ven bờ, vùng thềm lục địa, vùng thềm lục địa kéo dài, vùng đặc quyền kinh tế

và các hải đảo ngoài khơi Trường

Sa, Hoàng Sa và thu được những kết quả bước đầu Đáng kể nhất

là những bài học tiếp cận và trải nghiệm thực tế Qua các nguồn tài liệu và kinh nghiệm triển khai của nhiều quốc gia, chúng ta đã hình dung khá rõ nội hàm của việc tổ chức khai thác, phát triển biển, nhất là vùng biển sâu ở Biển Đông, trong thời đại của khoa học

và công nghệ, trong bối cảnh địa chính trị phức tạp hiện nay2 Bài học rõ nhất là khai thác biển, đảo phải có sự chuẩn bị chu đáo3,

phải gắn liền với trí tuệ, tiềm lực khoa học, thực tiễn và bảo vệ chủ quyền Về nhận thức, đây là quá trình xây dựng Việt Nam thành một quốc gia biển mạnh4, muốn vậy phải thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, thương mại hóa khai thác, sử dụng, bảo vệ hiệu quả các tài nguyên không gian địa lý ở Biển Đông Đây là một quá trình lâu dài, phụ thuộc vào sức mạnh chính trị, kinh tế, ngoại giao và quốc phòng

Kho báu dưới lòng biển sâu Biển sâu là vùng biển bắt đầu nơi thềm lục địa kết thúc, từ độ sâu lớn hơn 200 m, ngoài vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển Diện tích các vùng biển sâu ở đại dương rộng hơn

326 triệu km2, chiếm khoảng 90% tổng diện tích đại dương thế giới Cho đến nay, mới chỉ có khoảng 0,01% diện tích biển sâu được nghiên cứu, khảo sát Khoa

khai thác tài nguyên biển sâu

PGS.TSKH Nguyễn Tác An

phó Chủ tịch Hội Khoa học và Kỹ thuật Biển Việt nam

Thông qua bài báo, tác giả trao đổi một số nội dung đang được quan tâm trong việc khai thác và bảo

vệ tài nguyên vùng biển sâu, như: cơ sở khoa học và công nghệ, kinh tế, môi trường, pháp lý, thương mại và chia sẻ lợi ích nhằm tăng cường nhận thức để nâng cao vai trò và trách nhiệm của Việt Nam trong quản trị và phát triển Biển Đông, đặc biệt là vùng biển sâu, phù hợp với xu thế thời đại.

1 Koen Rademaekers, Oscar Widerberg,

Ka-tarina Svatikova, Roel van der Veen (2015),

Tackling economic, environmental and

soci-etal challenges, 92p

2 https://pure.diis.dk/ws/files/56292/

WP2010_07_South_China_Sea_web.pdf

3 Chuẩn bị khai thác biển, nhất là biển sâu

là một quá trình công phu, phức tạp và tốn kém Trước hết phải thăm dò, sau đó đánh giá và lập kế hoạch tài nguyên, phải xác định được tính khả thi tổng thể khi bước vào giai đoạn lập dự án khai thác.

4 Nghị quyết đưa ra mục tiêu: tới 2030, đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt

cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng

Trang 2

Diễn đàn khoa học và công nghệ

học khẳng định, biển sâu đang

là vùng mà loài người ít hiểu biết

nhất trên trái đất về mặt sinh thái

học, nhất là những mối quan hệ

biện chứng giữa khai thác, bảo vệ

và phát triển Có lẽ, đây là một

trong những “rào cản” lớn nhất

cho quá trình tổ chức khai thác,

thương mại hóa không gian to lớn

và đầy những tài nguyên quý giá

này

Tuy điều tra, khảo sát chưa

nhiều, nhưng một số kết quả thăm

dò khoa học thu được đã cung cấp

cho con người những kiến thức, tư

liệu5 vô cùng quan trọng về biển

sâu, nhất là tài nguyên khoáng

sản và sinh vật, được hình thành

qua hàng triệu triệu năm bởi các

quá trình sinh địa hóa, với vai trò

không nhỏ của các loài vi khuẩn

oxy hoá6 Không chỉ cung cấp

cho con người những thông tin,

kiến thức cơ bản về các loại tài

nguyên, trữ lượng khai thác, các

điều tra, khảo sát còn cho biết

về vùng phân bố và những vấn

đề “có thể” và “không thể” trong

khai thác hay phát triển các loại

tài nguyên biển sâu Các dạng tài

nguyên ở biển sâu phân bố chủ

yếu phụ thuộc vào đặc điểm trầm

tích và cấu trúc địa chất, thường

tập trung ở các đồng bằng vực

thẳm rộng lớn, các mạch thủy

nhiệt, các rãnh sâu liên thông các

dãy núi ngầm giữa đại dương

Có ba nguồn quặng đa kim loại

chính, có giá trị thương mại là: 1)

các kết hạch mangan (MN)7 tại

các đồng bằng sâu thẳm Hạch mangan còn chứa dấu vết của nhiều kim loại thương mại khác, như bạch kim, Tellurium (là thành phần quan trọng công nghiệp công nghệ cao như tế bào quang điện và xúc tác); 2) các vỉa đồng, kẽm, chì, bari và bạc; 3) lớp vỏ đa kim loại (ferromanganese) chứa mangan, sắt và một loạt các kim loại vi lượng (coban, niken, bạch kim ) Tài nguyên đất hiếm8, dầu khí và khí hydrat metan dưới đáy biển sâu cũng có giá trị thương mại rất lớn Bên cạnh đó, biển sâu còn có nguồn tài nguyên đa dạng sinh học phong phú, cung cấp các hoạt chất quý hiếm dùng

để điều chế các loại thuốc mới hay mỹ phẩm cao cấp

những thách thức đặt ra Mặc dù đến nay đã có 27 giấy phép được Cơ quan Quản

lý đáy biển quốc tế (ISA) cấp cho 20 quốc gia, cho phép thăm

dò, khai thác vùng biển sâu có không gian rộng đến 1,4 triệu

km2, nhưng trên thực tế vẫn chưa

có nhiều hoạt động thương mại thành công9 Tài nguyên biển sâu

có nhiều chủng loại cần thiết cho nhu cầu hiện đại hóa của con người và có trữ lượng thỏa mãn thị trường, nhưng vẫn còn không

ít những khó khăn và thách thức

để có thể khai thác và thương mại hóa trong tương lai gần

Rào cản lớn nhất có lẽ là sự hiểu biết về biển sâu còn chưa đầy đủ, đặc biệt là kiến thức về sinh thái học Chính vì vậy, chưa thể đảm bảo sự an toàn và toàn vẹn cho hệ sinh thái khi khai thác thương mại Các phân tích, đánh giá tác động trước mắt và lâu dài

về khả năng phục hồi sau khai thác vẫn khiến các nhà quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng khoa học chưa yên tâm Một điều chắc chắn là vùng biển bị xáo trộn sau thăm dò, khai thác có thể phải cần đến hàng thập kỷ, thậm chí

là hàng thiên niên kỷ mới có thể phục hồi hoàn toàn Năm 1989, Đại học Hamburg (Đức) đã khai thác thử nghiệm các kết hạch mangan ở độ sâu dưới 5.000 m, trên diện tích 11 km2 ở đông nam Thái Bình Dương 29 năm sau, các nhà khoa học đã kiểm tra khu vực khai thác và thật đáng lo ngại khi “không có gì khác xưa, tất

5 Kathryn A Miller, Kirsten F

Thomp-son, Paul Johnston and David Santillo

(2018) “An overview of seabed mining

including the current state of

develop-ment”, Environmental Impacts, https://doi.

org/10.3389/fmars.2017.00418

6 https://doi.org/10.3389/fmars.2017.00418

7 Hàm lượng mangan: 28%, niken: 1,3%, đồng: 1,1%, coban: 0,2%, molypden:

0,059%, kim loại đất hiếm: 0,081%.

8 Đất hiếm là kim loại “quý hơn vàng”, gồm

17 nguyên tố, chia làm hai nhóm: nhóm nặng có 10 nguyên tố, nhóm nhẹ 7 nguyên

tố Hàng năm thế giới thương mại hóa khoảng 80-90 triệu tấn.

9 Dự án thương mại đầu tiên, nhằm mục tiêu khai thác khoáng chất quý hiếm ở vùng nước sâu 1.500 đến 2.000 m trên thềm lục địa Papua New Guinea ( bắt đầu từ năm 2019).

vi khuẩn từ bọt biển sâu có thể là một bước đột phá trong cuộc chiến chống lại siêu vi khuẩn (nguồn: theguardian.com).

Trang 3

Diễn đàn Khoa học và Công nghệ

cả chỉ còn lại dấu ấn của sự tàn

phá” Đáng ngạc nhiên là ngay

cả các vi sinh vật cũng chưa hồi

phục hoàn toàn

Còn vô số những tác động

khác liên quan đến khai thác

biển sâu Thực tế trong khoảng

10 năm trở lại đây, những vấn đề

“nhạy cảm”, “nóng” đã xuất hiện

nhiều hơn, bên cạnh tính an toàn

sinh thái môi trường, hiệu quả

kinh tế khi đầu tư thăm dò, khai

khác, còn có vấn đề chia sẻ lợi

ích trong bối cảnh địa chính trị

và chủ nghĩa bá quyền ngày một

phức tạp10 Cũng cần phải lưu ý,

trong 100 năm qua (1911-2011),

rất nhiều khía cạnh quan trọng

của luật pháp quản lý các vùng

biển chung, các đại dương đã

thay đổi đáng kể, khi mà tiến bộ

kỹ thuật ngày một phát triển và

sức ép lên các nguồn lợi tự nhiên

ngày một quá tải Sau hơn 100

năm phát triển, biển đã biến đổi

từ một không gian rộng lớn không

được quản lý thành một khu vực

mà hơn 40% diện tích của nó

trở thành đối tượng để thể hiện

quyền lực quốc gia

Trước đây, vào năm 1911, chỉ

có 3 dạng không gian đại dương

là: nội thủy, lãnh hải (chỉ rộng 3

hải lý) và biển cả - thì ngày nay,

có một loạt các quyền tài phán

trên biển, bao gồm các khu vực

tiếp giáp, các vùng nước thuộc

quần đảo và thềm lục địa mở

rộng Muôn vàn khó khăn và trở

ngại, thách thức cho khai thác

biển sâu Nhất là những vùng

biển có các lợi thế “trời cho” về địa chiến lược, chính trị, kinh tế, như Biển Đông

Hiện nay, quốc tế đang quản trị các đại dương theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) Công ước này cũng

là nền tảng an ninh biển quan trọng nhất để áp dụng với Biển Đông11; giúp xác định các giới hạn chủ quyền và tài phán trên biển của các quốc gia ven biển, đồng thời cân bằng các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia này với các quyền và nghĩa vụ quốc tế

Vấn đề Biển Đông đang có nhiều phức tạp khác, nhất là khi quốc gia lớn theo chủ nghĩa “bá quyền”

đang thách thức các quyền cơ bản của UNCLOS bằng yêu sách

“mở rộng” và “toàn diện” đối với Biển Đông Chính sách “cường quyền” này đang thách thức các nước ở khu vực biển Đông, cũng như tất cả các quốc gia biển khác

Quản trị và điều phối các vấn

đề dưới đáy biển sâu, các tài nguyên khoáng sản, sinh học, do

ISA đảm trách Cơ quan này cũng

đang trong quá trình phát triển khung pháp lý để quản trị khai thác biển sâu Theo giới khoa học, một số chi tiết trong khung quản lý môi trường biển sâu của ISA vẫn chưa thật rõ ràng theo nguyên tắc của UNCLOS Trong

đó, đáng chú ý là Điều 145: “Bảo

vệ môi trường biển một cách chủ động” Hiện nay, đang “nóng”

lên ý kiến của các tổ chức môi trường và không ít những nhà

khoa học cho rằng khai thác biển sâu sẽ gây nguy hại lớn đối với môi trường và các hệ sinh thái biển; đồng thời kêu gọi ISA phải

có những quy định nghiêm ngặt, dựa trên nguyên tắc phòng ngừa

và các tài liệu đánh giá tác động môi trường chuẩn mực Nhất là phải đánh giá kỹ lưỡng về chất thải khai thác, khả năng hoàn trả sau khai thác, chỉ thị môi trường sống và vấn đề chia sẻ lợi ích Khung pháp lý ở trong vùng biển quốc tế cần phải được hoàn thiện hơn nữa

Khai thác và bảo vệ Biển Đông

là nhiệm vụ nhất quán trong sách lược xây dựng Việt Nam thành quốc gia biển mạnh Từ những bài học và kinh nghiệm của thế giới, Việt Nam đang tổ chức khai thác các nguồn tài nguyên ven biển, đảo ở Biển Đông và đang tiến hành chuẩn bị, tổ chức hợp tác thăm dò các nguồn tài nguyên biển sâu12 Trước mắt Việt Nam cần phải khẩn trương chuẩn bị những chính sách hợp lý trong phát triển và quản trị biển, đảo, đặc biệt là tập trung xây dựng tiềm lực tài chính, khoa học

và công nghệ, quân sự và ngoại giao13; đồng thời tuân thủ nghiêm túc UNCLOS ?

10David Criekemans (2017), Towards a

so-lution for the increasing tensionsin the Biển

Đông (South China Sea)? Model United

Na-tions - Flanders, 38p.

11 Nguyễn Hồng Thao (2020), “Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển UNCLOS

và 25 năm thực thi công ước ở Việt Nam”,

Nghiên cứu Biển Đông, 2.

12 Năm 2006 , đã tiến hành “Nghiên cứu cấu trúc địa chất vùng biển nước sâu (trên 200 m) Nam Việt Nam làm cơ sở khoa học để tìm kiếm tài nguyên khoáng sản liên quan” Năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chương trình nghiên cứu, điều tra cơ bản về tiềm năng khí hydrate ở các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam”.

13 Nguyễn Tác An, Phan Minh Thụ, Nguyễn Thanh Vân, Tống Phước Hoàng Sơn (2017),

Quản trị và phát triển kinh tế ở Biển Đông,

NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, 260 tr.

Ngày đăng: 11/11/2022, 12:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm