1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kiến thức và thực hành về phòng tái phát bệnh của người bệnh sỏi tiết niệu tại Trung tâm y tế huyện Vụ Bản năm 2022

47 46 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (0)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (11)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (19)
      • 1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới (19)
      • 1.2.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam (20)
  • Chương 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN (0)
    • 2.1. Thực trạng kiến thức và thực hành về phòng tái phát bệnh của người bệnh sỏi tiết niệu tại Trung tâm y tế huyện Vụ Bản (22)
      • 2.1.1. Thông tin về Trung tâm y tế huyện Vụ Bản (22)
      • 2.1.2. Thực trạng kiến thức và thực hành về phòng tái phát bệnh của người bệnh sỏi tiết niệu (22)
    • 2.2. Nguyên nhân các việc đã thực hiện được và chưa thực hiện được (35)
      • 2.2.1. Nguyên nhân của các việc đã thực hiện được (35)
      • 2.2.2. Nguyên nhân của các việc chưa thực hiện được (35)
  • Chương 3: KHUYẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHẢ THI (0)
    • 3.1. Đối với TTYT (37)
    • 3.2. Đối với nhân viên y tế (37)
    • 3.3. Đối với người bệnh, gia đình người bệnh (38)
  • Chương 4: KẾT LUẬN (0)
    • 4.1. Thực trạng kiến thức về phòng tái phát bệnh của người bệnh sỏi tiết niệu tại (39)
    • 4.2. Thực trạng thực hành về phòng tái phát bệnh của người bệnh sỏi tiết niệu tại (39)

Nội dung

Microsoft Word NGUYá»—N QUá»’C TOÕN D16A2 (cuỂi) BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN QUỐC TOÀN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ PHÒNG TÁI PHÁT BỆNH CỦA NGƯỜI BỆNH SỎI TIẾT NIỆU TẠ[.]

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Cơ sở lý luận

1.1.1 Đại cương về sỏi tiết niệu

Sỏi tiết niệu là một bệnh thường gặp và hay tái phát do sự kết tủa tạo thành sỏi của một số thành phần trong nước tiểu, ở đường niệu trong những điều kiện lý hóa nhất định Sỏi có khả năng gây tắc đường tiết niệu, gây nhiễm khuẩn và suy thận, gây nguy hại cho sức khỏe và tính mạng con người [6]

- Sỏi tiết niệu là bệnh do sỏi được hình thành trong hệ tiết niệu Bao gồm sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang và sỏi niệu đạo

- Sỏi tiết niệu tái phát là sỏi xuất hiện trở lại trong hệ tiết niệu sau khi mổ hoặc nội soi một thời gian

1.1.1.2 Cơ chế hình thành sỏi tiết niệu [6], [7]

Sỏi gây tổn thương trên hệ tiết niệu theo 3 cơ chế cơ bản:

Cơ chế tắc nghẽn do sỏi thận là sự ứ đọng tại bể thận và niệu quản; tùy kích thước và hình thể sỏi, mức độ tắc nghẽn có thể hoàn toàn hoặc chỉ một phần, dẫn đến giãn dần nhu mô thận, tăng dung tích đài bể thận, rồi teo đét và xơ hoá nhu mô thận, khiến thận dần mất chức năng.

Nếu sỏi ở đài thận, gây nghẽn cục bộ tại thận, sẽ dẫn đến ứ niệu, giãn từng nhóm đài gây mất chức năng từng phần của thận

Niệu quản trên sỏi có thể bị giãn, mất nhu động và xơ hoá niệu quản Trong trường hợp sỏi ở hai bên hệ tiết niệu, người bệnh có thể bị suy thận cấp do sỏi.

Cơ chế cọ sát của sỏi thận và sỏi niệu quản, đặc biệt là các sỏi cứng, gai góc, có thể gây cọ xát làm rách niêm mạc đài bể thận và niệu quản, dẫn đến chảy máu trong hệ tiết niệu Những tổn thương này vừa tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn niệu phát triển, vừa kích hoạt quá trình xơ hoá ở nhu mô thận và ở thành ống dẫn niệu Kết quả cuối cùng là đường dẫn niệu bị hẹp dần, làm tăng tình trạng bế tắc và nguy cơ biến chứng liên quan đến đường tiết niệu.

Cơ chế nhiễm khuẩn bắt đầu từ sự tắc nghẽn đường niệu, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhiễm khuẩn niệu Quá trình này gây phù nề và loét niêm mạc đài bể thận, dần dẫn đến xơ hoá tổ chức khe thận và chèn ép mạch máu cùng ống thận Sản phẩm của quá trình viêm gồm xác vi khuẩn, xác bạch cầu và tế bào biểu mô đài bể thận kết tinh lại thành nhân sỏi Các yếu tố này giải thích tại sao viêm đường tiết niệu có thể đi kèm với hình thành sỏi và ảnh hưởng đến chức năng thận.

1.1.1.3 Nguyên nhân sỏi tiết niệu [7] Đa số các tác giả công nhận tăng nồng độ của một hay nhiều chất có khả năng kết tinh trong nước tiểu và các thói quen về ăn uống cũng được coi là những lý do chủ yếu đối với sỏi hệ tiết niệu Tuy nhiên, nguyên nhân của sỏi tiết niệu có thể rất khác nhau Ngoài các yếu tố do ăn uống, sỏi tiết niệu có thể xuất hiện do những rối loạn chuyến hóa, các bệnh tiết niệu, bệnh đường ruột, rối loạn chức năng tiểu cầu thận, bệnh thận dị dạng và các cơ chế thần kinh hoặc do điều trị

Tăng cô đặc nước tiểu do giảm bài niệu

Sự giảm bài niệu có thể do thói quen uống ít nước, mất nước do làm việc trong môi trường nóng hay do tiêu chảy kéo dài

Tăng calci niệu là khi lượng calci trong nước tiểu >300mg/24h ở nam và 250mg/24h ở nữ Một số nguyên nhân gây tăng calci niệu có thể là:

- Tăng calci niệu do hấp thụ: sự tăng hấp thụ calci tại ruột nguyên phát hoặc thứ phát do tăng 1,25 dihydrodroxy vitamin D3 hoặc do giảm nhẹ phosphor máu

Tăng calci niệu do thận là một tình trạng thứ phát sau khi ăn nhiều natri Nhiều tác giả cho rằng prostaglandin có thể làm tăng mức lọc cầu thận và tăng bài tiết calci ở ống thận, từ đó gây nên tình trạng tăng calci niệu.

Hiện tượng tăng calci niệu do tiêu hủy xương xảy ra khi quá trình phân hủy xương tăng lên và ruột hấp thu calci nhiều hơn bình thường, dẫn tới tăng calci bài tiết qua thận Tình trạng này có đặc điểm giống với hội chứng cường chức năng cận giáp.

Tăng calci niệu tự phát được Coefl và Bushinskg (1974) nhận thấy có 5–10% người bình thường và 50% số người bệnh bị sỏi thận có hiện tượng tăng calci niệu tự phát Bệnh có tính gia đình và hay gặp ở người bệnh mắc các bệnh ác tính như u lympho Các khối u này kích thích tiết ra prostaglandin E2, là yếu tố tăng calci niệu.

- Ngoài ra, các bệnh như cường chức năng tuyến giáp, bệnh u hạt (bệnh sarcoid), pheochromocytoma và giảm glucocorticoid cũng có thể là nguyên nhân gây tăng calci niệu

Các yếu tố ảnh hưởng tới nồng độ calci niệu

Chế độ ăn có nhiều calci làm tăng calci niệu, vì vậy khi đánh giá tác động của chế độ ăn giàu calci lên calci niệu, có bốn yếu tố quan trọng được cân nhắc: liều lượng calci đưa vào cơ thể, sinh khả dụng của calci từ thực phẩm (bioavailability), chức năng và khả năng hấp thu của ruột non Các thực phẩm khác nhau có sinh khả dụng đối với calci khác nhau; ví dụ rau bina chứa nhiều calci hơn rau cải, nhưng do khả năng hấp thu calci từ rau bina thấp hơn nên khả năng cung cấp calci thực tế của bina kém hơn rau cải.

Hấp thu canxi ở ruột non giảm khi liều canxi đưa vào tăng lên do sự bão hòa của quá trình hấp thu Lượng canxi được hấp thu thực tế dao động quanh mức khoảng 500 mg.

Việc bổ sung canxi vào cơ thể ở liều nhỏ và chia thành nhiều lần sẽ cho hiệu quả hấp thu tốt hơn so với một liều lớn Khi đưa liều canxi cao vào cơ thể trong thời gian dài, ruột non sẽ có tính thích nghi và làm giảm hấp thu ở liều cao, trong khi ở liều thấp ruột sẽ tăng hấp thu Tuy nhiên, sự hấp thu canxi của từng người còn phụ thuộc tình trạng lâm sàng như thiếu vitamin D, tiêu chảy, tăng tái hấp thu canxi niệu, do đó khó dựa vào lượng canxi niệu để xác định lượng canxi đưa vào Nói chung cứ mỗi 100 mg canxi từ thực phẩm sẽ làm tăng lượng canxi niệu thêm khoảng 8 mg/ngày ở người bình thường và tăng khoảng 20 mg/ngày ở người có tăng canxi niệu.

Thức ăn xơ: có tác dụng giữ calci trong ruột nên làm giảm calci niệu

Uống ít nước: uống đủ lượng nước cần thiết có thể ngăn chặn được sự tái phát của sỏi trong 5 năm Cách kiểm tra đơn giản nhất xem cơ thể có được cung cấp đủ nước hay không là quan sát màu của nước tiểu, nước tiểu không màu là cơ thể đã được cung cấp đủ nước, khi nước tiểu có màu vàng hoặc nâu là quá cô đặc Ăn ít protein: một chế độ ăn ít protein động vật ngăn chặn được tình trạng acid hóa nước tiểu do sự phá vỡ cầu nối sulfur trong các acid amin và làm cải thiện nồng độ calci trong thể dịch Ăn nhiều oxalate: nồng độ oxalate niệu chủ yếu do chế độ ăn calci quyết định nhưng việc cân nhắc liều lượng oxalate trong thức ăn cũng cần được quan tâm Ăn nhiều natri: khi lượng natri đưa vào quá nhiều (ăn mặn) sẽ gây tăng natri ở ống thận và điều này sẽ làm giảm sự tái hấp thu calci tại đó Cứ tăng 100 mmol natri trong chế độ ăn sẽ làm tăng bài tiết khoảng 25 mg calci trong nước tiểu Bởi vậy một chế độ ăn ít natri (khoảng 2-3 g/ngày hoặc 90 - 130 mmol/ngày) có thể được khuyến cáo với các đối tượng có tăng calci niệu Ăn không đủ kali: theo điều tra dịch tễ có sự tương quan giữa lượng kali đưa vào thấp (< 74 mmolMgày) với nguy cơ hình thành sỏi, điều này gây tăng Calci niệu và giảm tiết Citrate niệu Ăn nhiều acid béo cần thiết: các acid béo không no n-3 và n-6 ảnh hưởng tới hoạt động của protein vận chuyển màng tế bào Tuy nhiên, nhiều chế phẩm dầu cá có nồng độ calci và vitamin D liều cao, điều này có thể có tác động có hại đối với sự hình thành sỏi tiết niệu

Tăng hoạt động tuyến cận giáp: cường tuyến cận giáp có thể là tiên phát hoặc thứ phát, tình trạng này làm tăng tái hấp thu calci từ xương và tăng hấp thu calci từ ruột dẫn tới tăng calci niệu

Các bệnh đường ruột gây tiêu chảy mạn tính như viêm đại tràng và bệnh Crohn có thể dẫn tới tăng oxalate niệu có nguồn gốc từ ruột, từ đó làm tăng nguy cơ hình thành sỏi tiết niệu Sự gia tăng oxalate trong nước tiểu gây áp lực lên thận và làm tăng nguy cơ phát triển sỏi tiết niệu ở người mắc các rối loạn tiêu hóa này Việc kiểm soát tiêu chảy mạn tính và cân bằng chế độ ăn uống có thể giúp giảm oxalate niệu và ngăn ngừa biến chứng sỏi tiết niệu Theo dõi y tế và tư vấn dinh dưỡng cho bệnh nhân mắc các bệnh đường ruột là cần thiết để giảm thiểu nguy cơ sỏi tiết niệu liên quan đến rối loạn tiêu hóa.

Các ung thư di căn xương, nằm bất động lâu ngày: làm tăng calci máu do hiện tượng tiêu xương từ đó làm tăng calci niệu

Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về STN đã được tiến hành, có thể tổng hợp lại một số nghiên cứu như sau:

Nghiên cứu của Kalyani Pethiyagoda (2016) trên 290 người bệnh được tuyển ngẫu nhiên tại Bệnh viện Peradeniya, Sri Lanka cho thấy điểm kiến thức trung bình về phòng tái phát sỏi tiết niệu là 9,03 ± 2,14 Có 36,81% người bệnh nắm được các triệu chứng lâm sàng, 85,9% cho rằng nước cứng có thể gây sỏi hệ tiết niệu và 35,4% cho rằng thói quen ăn uống liên quan đến sự hình thành sỏi Về thực hành, 275 người bệnh đồng ý rằng uống nhiều nước sẽ phòng ngừa sỏi nhưng chỉ có 17,9% biết đúng lượng nước cần uống mỗi ngày Những người có tiền sử sỏi tiết niệu thực hành phòng ngừa tốt hơn (45,19%) so với những người chưa từng có sỏi (39,02%).

Trong nghiên cứu của Derek Bos (2014) về kiến thức, thái độ và thực hành của các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở miền Bắc Ontario về phòng ngừa tái phát sỏi thận, 75% đối tượng xác định đúng rằng lượng nước tiểu cao là yếu tố quan trọng trong việc ngăn ngừa tái phát, 70% nhận thức được các bệnh đi kèm liên quan làm tăng khả năng hình thành sỏi, 7% trả lời đúng loại sỏi hoặc tình trạng tái phát phổ biến nhất; hơn 50% có kiến thức đúng về chế độ ăn hạn chế muối Về thực hành, phần lớn sẵn sàng thay đổi lối sống; 69% cho rằng duy trì lượng canxi ở mức bình thường có vai trò trong phòng ngừa tái phát, 44% phủ nhận sự cần thiết của việc hạn chế lượng protein động vật và chỉ có 20% đồng ý với các hướng dẫn cung cấp lượng nước cần thiết hàng ngày Thái độ của phần lớn người được hỏi liên quan tới chế độ ăn giàu oxalate và chế độ ăn muối không phản ánh các bằng chứng hiện có Các thực phẩm giàu oxalate như rau, bia, socola và trà đóng vai trò trong hình thành sỏi canxi oxalate, do đó nên hạn chế tiêu thụ các thực phẩm này [13].

Nghiên cứu của tác giả Qaseem A (2014) tại Hoa Kỳ về chế độ ăn phòng tái phát sỏi tiết niệu cho kết quả cho thấy: có 20% người bệnh tái phát ở nhóm ăn với lượng canxi bình thường kết hợp hạn chế protein động vật và hạn chế muối; 38,3% người bệnh tái phát ở nhóm ăn chỉ kiểm soát lượng canxi; tỷ lệ tái phát sỏi canxi oxalate ở nhóm thực hiện chế độ ăn đa thành phần với lượng canxi bình thường (1200 mg/ngày) thấp hơn so với nhóm thực hiện chế độ ăn ít canxi (400 mg/ngày) [15] Các nghiên cứu tại Việt Nam được đề cập ở mục 1.2.2.

Nghiên cứu của Lê Thị Hương và cộng sự (2014) cho thấy nữ giới có nguy cơ mắc sỏi thận cao hơn nam giới 1,5 lần và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê; tuổi tác cũng tác động tới nguy cơ, người ở độ tuổi càng cao càng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn; những người không có kiến thức về phòng ngừa sỏi thận có nguy cơ cao hơn so với những người có kiến thức và sự khác biệt này cũng được thể hiện có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu của chúng tôi Kết quả cho thấy ngoài yếu tố kiến thức, thói quen hút thuốc và uống rượu bia cũng làm tăng nguy cơ mắc sỏi thận; người hút thuốc lá có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 1,5 lần, người uống rượu bia có nguy cơ cao hơn 3,5 lần so với những người không hút thuốc hay uống rượu bia Hút thuốc và rượu bia làm giảm lưu thông máu đến các cơ quan quan trọng như thận và làm trầm trọng thêm các vấn đề, từ đó làm gia tăng nguy cơ suy giảm chức năng thận Luyện tập thể lực hàng ngày và thói quen ăn rau củ quả có mối liên hệ chặt chẽ với nguy cơ mắc bệnh sỏi thận; những người ăn rau củ quả dưới 300 g/ngày có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 1,6 lần so với những người có chế độ ăn rau củ quả 300 g/ngày hoặc nhiều hơn.

300 gr/ngày Người dân không có thói quen luyện tập thể dục có nguy cơ mắc bệnh sỏi thận cao hơn 1,3 lần [5]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Ngọc được thực hiện năm 2016 tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc sỏi tiết niệu ở người trưởng thành tại 6 phường của quận là 9,69% Nhóm tuổi mắc sỏi tiết niệu cao nhất là từ 30 đến 59 tuổi, chiếm 26% Đa số các trường hợp sỏi tiết niệu không có triệu chứng lâm sàng, chiếm tới 73,2%.

26,8% trường hợp sỏi có triệu chứng Đối tượng có tiền sử sỏi tiết niệu có tỷ lệ mắc sỏi tiết niệu cao (35,96%), không có tiền sử có tỷ lệ sỏi chiếm 7,13% Tỷ lệ sỏi tiết niệu ở nhóm có tiền sử gia đình mắc sỏi tiết niệu chiếm 20,39%; không có tiền sử gia đình mắc sỏi có tỷ lệ sỏi tiết niệu chiếm 8,46% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 [9]

Theo tác giả Nguyễn Đức Nghiêm (2016), nghiên cứu tỷ lệ mắc sỏi tiết niệu và một số yếu tố nguy cơ ở người trưởng thành tại huyện Cam Lộ, Quảng Trị được thực hiện bằng hai phương pháp nghiên cứu cắt ngang và bệnh chứng, cho kết quả tỷ lệ hiện mắc sỏi tiết niệu là 8,48% Về tuổi, các nhóm tuổi khác nhau không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc sỏi tiết niệu, và về giới tính, nam và nữ có tỷ lệ mắc sỏi tiết niệu không khác nhau.

Vị trí có sỏi: thận (95,16%); niệu quản (6,45%); bàng quang (3,23%) [8]

Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Hằng (2020) cho thấy thực trạng kiến thức và thực hành về phòng tái phát bệnh của người bệnh sỏi tiết niệu còn thấp với 80,0% người bệnh có kiến thức không đạt và 56,7% người bệnh thực hành không đạt Kiến thức và thực hành về phòng tái phát bệnh của người bệnh sau can thiệp đã được cải thiện đáng kể Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của việc tư vấn, giáo dục sức khỏe, củng cố kiến thức thường xuyên với việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh [3].

LIÊN HỆ THỰC TIỄN

Thực trạng kiến thức và thực hành về phòng tái phát bệnh của người bệnh sỏi tiết niệu tại Trung tâm y tế huyện Vụ Bản

2.1.1 Thông tin về Trung tâm y tế huyện Vụ Bản

Kể từ năm 2018, theo Quyết định của UBND tỉnh Nam Định về sáp nhập Trung tâm Y tế huyện Vụ Bản và Bệnh viện đa khoa huyện Vụ Bản thành Trung tâm Y tế huyện Vụ Bản, trung tâm thực hiện hai chức năng chính là dự phòng và khám chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn huyện và các vùng lân cận Đây là Trung tâm Y tế hạng III, có 12 khoa phòng, 4 phòng chức năng và 17 trạm y tế xã/thị trấn, với đội ngũ hơn 200 cán bộ y tế bao gồm bác sĩ và điều dưỡng Theo quy hoạch tổng thể ngành Y tế Nam Định, đến nay Trung tâm Y tế huyện Vụ Bản đã nâng cấp lên 200 giường bệnh.

Khoa Ngoại - Răng hàm mặt - Mắt - Tai mũi họng - Phẫu thuật - Gây mê hồi sức của Trung tâm y tế huyện Vụ Bản có 10 cán bộ y tế, trong đó có 01 bác sĩ CKII, 02 bác sĩ đa khoa, 01 điều dưỡng trình độ Đại học, 05 điều dưỡng trình độ Cao đẳng và 01 y sĩ Trung cấp Theo thống kê của Phòng Kế hoạch tổng hợp, đội ngũ này thể hiện sự phân bổ chuyên môn phù hợp cho công tác khám chữa bệnh tại địa phương và đáp ứng nhu cầu phẫu thuật, gây mê hồi sức.

Trong 6 tháng đầu năm 2022, Trung tâm Y tế huyện Vụ Bản đã tiếp nhận khoảng 70 người bệnh đến khám và điều trị tại các khoa Ngoại, Răng Hàm Mặt, Mắt, Tai Mũi Họng, Phẫu thuật và Gây mê hồi sức.

2.1.2 Thực trạng kiến thức và thực hành về phòng tái phát bệnh của người bệnh sỏi tiết niệu

Người bệnh được chẩn đoán sỏi tiết niệu đang điều trị nội trú tại khoa Ngoại

- Răng hàm mặt - Mắt -Tai mũi họng - Phẫu thuật - Gây mê hồi sức Trung tâm y tế huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định trong thời gian từ tháng 7/2022 đến 9/2022

- Người bệnh từ đủ 18 tuổi trở lên

- Người bệnh đồng ý và tự nguyện tham gia nghiên cứu

- Người bệnh tỉnh táo, có khả năng giao tiếp, hiểu và trả lời các câu hỏi phỏng vấn bằng tiếng Việt

- Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Người bệnh không đủ sức khỏe tham gia phỏng vấn

- Người bệnh hạn chế khả năng giao tiếp như giảm thính lực, sa sút trí tuệ, bị các di chứng nặng ảnh hưởng đến trí nhớ (di chứng tai biến mạch não …)

 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

 Mẫu và phương pháp chọn mẫu:

- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu toàn bộ

- Trong thời gian từ tháng 7/2022 đến 9/2022, có 32 người bệnh điều trị nội trú tại khoa Ngoại - Răng hàm mặt - Mắt -Tai mũi họng - Phẫu thuật - Gây mê hồi sức Trung tâm y tế huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định đủ tiêu chuẩn lựa chọn

 Bộ công cụ và phương pháp thu thập số liệu:

Khoá luận này dùng công cụ thu thập số liệu do tác giả Phạm Thị Hằng biên soạn để tìm hiểu thực trạng kiến thức và thực hành của người bệnh sỏi tiết niệu về phòng tái phát bệnh Bộ công cụ này được áp dụng nhằm đo lường sự thay đổi kiến thức và thực hành sau can thiệp giáo dục đối với người bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020, nhằm đánh giá hiệu quả của giáo dục sức khỏe trong dự phòng tái phát sỏi tiết niệu.

Bộ công cụ gồm 4 phần:

+ Phần 1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

+ Phần 2: Kiến thức chung về sỏi tiết niệu

+ Phần 3: Kiến thức phòng tái phát sỏi tiết niệu

+ Phần 4: Thực hành phòng tái phát sỏi hệ tiết niệu

- Quy trình thu thập số liệu:

Bước 1: Lựa chọn các đối tượng đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu

Những đối tượng đủ điều kiện sẽ được thông báo rõ ràng về mục đích, nội dung, phương pháp và quyền lợi tham gia nghiên cứu; khi đồng ý tham gia, họ ký vào bản đồng thuận và được cung cấp các hình thức tham gia nghiên cứu cùng hướng dẫn cụ thể về cách trả lời các câu hỏi trong bộ câu hỏi Trước khi người bệnh ra viện 1 ngày, chúng tôi đánh giá kiến thức và thực hành của họ bằng phỏng vấn trực tiếp từng người dựa trên bộ câu hỏi (Phụ lục 1), với thời lượng phỏng vấn mỗi trường hợp khoảng 15–20 phút Ngay sau khi phỏng vấn, điều tra viên sẽ kiểm tra lại bộ câu hỏi để đảm bảo tất cả các thông tin liên quan không bị bỏ sót.

 Cách tính điểm cho bộ công cụ:

Đối tượng nghiên cứu tham gia trả lời phiếu điều tra; mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai hoặc không biết được 0 điểm Phiếu điều tra gồm 20 câu hỏi liên quan đến kiến thức của người bệnh và 12 câu hỏi liên quan đến thực hành của người bệnh Trong đó có 3 câu hỏi nhiều lựa chọn, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, tổng điểm của 3 câu hỏi nhiều lựa chọn là 12 điểm Tổng điểm kiến thức tối đa là 29 điểm và tổng điểm thực hành tối đa là 12 điểm.

- Áp dụng phân loại kiến thức trong nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Hằng

(2020), phân loại kiến thức của người bệnh gồm 2 mức: đạt và không đạt [3]

+ Kiến thức mức độ đạt khi người bệnh đạt ≥ 50% tổng số điểm (≥15 điểm) + Kiến thức mức độ không đạt khi người bệnh đạt < 50% tổng số điểm

- Phân loại thực hành: Áp dụng nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Hằng [3] + Thực hành mức độ đạt khi người bệnh đạt ≥ 50% tổng số điểm

+ Thực hành mức độ không đạt khi: khi người bệnh đạt

Ngày đăng: 11/11/2022, 11:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (2015). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh về thận, tiết niệu. Hà Nội, tr 55-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh về thận, tiết niệu
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2015
3. Phạm Thị Hằng (2020). Thay đổi trạng kiến thức và thực hành về phòng tái phát bệnh của người bệnh sỏi tiết niệu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020 sau can thiệp giáo dục. Luận văn Thạc sĩ Điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi trạng kiến thức và thực hành về phòng tái phát bệnh của người bệnh sỏi tiết niệu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020 sau can thiệp giáo dục
Tác giả: Phạm Thị Hằng
Nhà XB: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Năm: 2020
4. Trần Văn Hinh (2013). Các phương pháp chẩn đoán và đều trị bệnh sỏi hệ tiết niệu. NXB Y học, Hà Nội, tr.38-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp chẩn đoán và đều trị bệnh sỏi hệ tiết niệu
Tác giả: Trần Văn Hinh
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2013
9. Nguyễn Thị Ngọc (2016). Nghiên cứu tình hình mắc sỏi tiết niệu ở người trưởng thành tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016, Luận án chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y dược Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình mắc sỏi tiết niệu ở người trưởng thành tại quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2016
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc
Nhà XB: Trường Đại học Y dược Huế
Năm: 2016
12. Viện sốt rét ký sinh trùng côn trùng Quy Nhơn (2019). Phòng bệnh sỏi hệ tiết niệu,&lt;http://www.impeqn.org.vn/impeqn/vn/portal/InfoDetail.jsp?area=58&amp;cat=1220&amp;ID=10551&gt;, truy cập ngày 10/9/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng bệnh sỏi hệ tiết niệu
Tác giả: Viện sốt rét ký sinh trùng côn trùng Quy Nhơn
Năm: 2019
17. WHO (2010). Guidelines for the screening, care and treatment of persons with kindney stone, 280-289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidelines for the screening, care and treatment of persons with kindney stone
Tác giả: World Health Organization
Nhà XB: World Health Organization
Năm: 2010
2. Bộ y tế và Vụ Kế hoạch tài chính (2012). Báo cáo thống kê - Niên giám thống kê năm 2002 - 2011, tr.267-269 Khác
5. Lê Thị Hương (2014). Một số yếu tố liên quan đến bệnh sỏi thận của người dân tại 16 xã thuộc 8 vùng sinh thái của Việt Nam năm 2013 – 2014. Tạp chí nghiên cứu y học, 104 (6), tr.22-25 Khác
6. Hà Hoàng Kiệm (2010). Sỏi đường tiết niệu, Thần học lâm sàng. NXB Y học, tr.610-631 Khác
7. Huỳnh Văn Minh (2013). Bệnh học Nội khoa tập 2. NXB Y học, Hà Nội, tr.27-35 Khác
8. Nguyễn Đức Nghiêm (2016). Nghiên cứu tỷ lệ mắc sỏi tiết niệu và một số yếu tố nguy cơ ở người trưởng thành tại huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, Luận án chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Dược Huế Khác
11. Đặng Tiến Trường, Nguyễn Duy Bắc, Trần Văn Hinh (2013). Mối liên quan của chế độ ăn và thói quen sử dụng một số thuốc với nguy cơ bệnh sỏi hệ tiết niệu Khác
13. Bos D, Abara E, Parmar M.S (2014). Knowledge, attitudes, and practice patterns among healthcare providers in the prevention of recurrent kidney stones in Northern Ontario. Original Research, December/Volume 8/Issue 11-12 Khác
14. Kalyani Pethiyagoda (2016). Survey on knowledge, attitudes and practices on urinary tract stones among patients present at tertiary care unit in Sri Lanka.Advance Research journal of Multi - Disciplinary Discoveries, ISSN2456-1045, August/Vol.4.0/Issue-II Khác
15. Qaseem A, Dallas P, Forciea M.A and et al (2014). Dietary and pharmacologic management to prevent recurrent nephrolithiasis in adults: a clinical practice guideline from the American College of Physicians. Ann Intern Med, 161(9):659-67 Khác
16. Safarinejad R. M (2007). Adult urolithias is in a population-based study in Iran: prevalence, incidence, and associated risk factors. Urol Res, (35), 73-82 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w