1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Quy hoạch tổng thề phát triển kinh tế- xã hội ngành thủy sản thời kỳ 2000-2010 potx

80 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội ngành thủy sản thời kỳ 2000-2010
Trường học Học viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy Sản
Chuyên ngành Kinh tế thủy sản
Thể loại Báo cáo quy hoạch tổng thể
Năm xuất bản 2000
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 485,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng hiện nay ngành thủy sản đang đứng trước những thử thách lớn: Nguồn lợi hải sản ven bờ cạn kiệt, nguồn lợi xa bờ chưa nắm chắc, do phát triển ồ ạt diện tích nuôi thủy sản ở vùng bã

Trang 1

Bé thuû s¶n

viÖn kinh tÕ vµ qui ho¹ch thuû s¶n

tãm t¾t

qui ho¹ch tæng thÓ ph¸t triÓn kinh tÕ - x· héi ngµnh thñy s¶n

thêi kú 2000 - 2010

Hµ Néi, th¸ng 03 - 2000

Trang 2

Lời nói đầu

Trong một môi trường kinh doanh có tính cạnh tranh cao đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước, các ngành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như cộng đồng những người dân phải thực hiện tốt những hoạt động của mình theo định hướng chung nhằm duy trì và làm tăng hiệu quả của ngành phát huy những lợi thế so sánh cần thiết để cạnh tranh có hiệu quả trên các thị trường khu vực và thế giới Như vậy, mục đích chính của bản qui hoạch tổng thể này là kiến tạo những mục tiêu và đưa ra một tổng thể những hành động, những giải pháp nhằm định hướng cho những hoạt động nhằm hướng tới mục tiêu chung

Tuy nhiên, mọi sự cải cách, điều chỉnh, phát triển chỉ có thể thực hiện được nếu có sự tham gia tích cực và nhiệt tình của toàn thể ngư dân, cán bộ công nhân viên chức trong tất cả hệ thống và cơ cấu

tổ chức của ngành và những ngành, những bộ phận, những con người có liên quan đến sự phát triển của ngành từ trung ương đến địa phương

Hơn thế nữa, qui hoạch tổng thể có thể trở thành nơi hội tụ để huy động những nỗ lực và những hành động chung, kể cả của các tổ chức quốc tế, các quốc gia và cộng đồng quốc tế mong muốn giúp đỡ

và phối hợp với Việt Nam thực hiện những mục tiêu cho sự phát triển của đất nước Việt Nam : dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh

Thủy sản là một ngành kinh tế - kỹ thuật đặc thù gồm các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, chế biến, cơ khí hậu cần, dịch vụ, thương mại ; là một trong những ngành kinh tế biển quan trọng

Nghề cá của ta là nghề cá nhân dân gắn bó với cuộc sống của hàng triệu ngư dân với xây dựng và phát triển nông thôn nhất là vùng ven biển và hải đảo

Là một nước có bờ biển dài, vùng biển rộng, có nhiều thuận lợi

để giao lưu, hợp tác quốc tế; nhưng nhiều ngư trường của ta lại nằm trong vùng hết sức nhạy cảm về chủ quyền quốc gia Vì vậy kết hợp phát triển thủy sản với an ninh và quốc phòng là hết sức quan trọng

Trang 3

Trong những năm qua do nắm vững đặc điểm cơ bản của tự nhiên và xã hội trong tổ chức quản lý, ngành thủy sản đã đạt tốc độ tăng trưởng cao Nghị quyết đại hội TƯ Đảng lần thứ 5 khóa VII

đã xác định thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế của đất nước Nhưng hiện nay ngành thủy sản

đang đứng trước những thử thách lớn: Nguồn lợi hải sản ven bờ cạn kiệt, nguồn lợi xa bờ chưa nắm chắc, do phát triển ồ ạt diện tích nuôi thủy sản ở vùng bãi triều, cửa sông, ven biển đã thu hẹp diện tích rừng ngập mặn có tác động đến cân bằng môi trường sinh thái ; các cơ sở chế biến thủy sản tuy nhiều nhưng đại bộ phận công nghệ đã lạc hậu, sản phẩm kém sức cạnh tranh trên thị trường Cơ sở hạ tầng yếu kém và không đồng bộ

Để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần chuyển mạnh nghề cá tự do sang nghề cá được quản lý thống nhất bằng luật pháp

có sự phân cấp cụ thể từ Trung ương đến địa phương Chuyển đổi mạnh cơ cấu ngành theo hướng từ khai thác tài nguyên tự nhiên chủ yếu hiện nay sang khai thác lao động kỹ thuật, công nghệ tiên tiến

đáp ứng nhu cầu thủy sản ổn định lâu bền

Ngành thủy sản đang tập trung xây dựng các chiến lược và quy hoạch cho toàn ngành, từng lĩnh vực sản xuất, từng vùng lãnh thổ để hướng dẫn và tập trung nguồn lực vào mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội mà Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt nam lần thứ VIII đã đề ra

Trong nghiên cứu về định lượng, thực tế chưa có đầy đủ lượng thông tin và độ chính xác cần thiết, do vậy: Phương pháp quy hoạch là : lấy xây dựng mục tiêu cho tương lai làm căn cứ để hoạch

2 Phân tích, dự báo các điều kiện phát triển

3 Quan điểm, mục tiêu và các chiến lược cơ bản

4 Qui hoạch phân bố lực lượng sản xuất theo các lĩnh vực, không gian và thời gian

5 Các giải pháp thực hiện.

Trang 5

lưới thép, composite chiếm tỷ lệ không đáng kể

Trong giai đoạn 1991 - 2000 số lượng tầu thuyền máy tăng nhanh, ngược lại thuyền thủ công giảm dần: Năm 1991 tầu thuyền máy có 44.347 chiếc, chiếm 59,6%; thuyền thủ công 30.284 chiếc, chiếm 40,4%, đến cuối năm 1998 tổng số thuyền máy là 71.767 chiếc chiếm 82,4%, tổng số thuyền thủ công là 15.337 chiếc chiếm 17,6% tổng số tàu thuyền đánh cá Trong giai

đoạn 1991-1998 bình quân hàng năm tàu thuyền máy tăng 8,5% và thuyền thủ công giảm 7%/năm Những năm 1991, 1992, 1993 do số lượng tàu thuyền máy loại nhỏ tăng mạnh để khai thác các hải sản xuất khẩu như cá rạn đá, tôm, mực nên trong những năm này số lượng tàu thyền máy tăng 17

%/năm Sau đó tốc độ tăng số lượng tàu thuyền máy có có xu hướng chậm dần Năm 1997 do ảnh hưởng cơn bão số 5 (tháng XI năm 1997) số tàu thuyền máy so với năm 1995 giảm 160 chiếc

Tổng công suất tàu thuyền máy tăng nhanh hơn số lượng tầu Năm

1998 tổng công suất đạt 2.427.586 CV lớn gấp 3 lần so với năm 1991 Tốc độ tăng bình quân hàng năm 20,7% Công suất bình quân năm 1991 đạt 18CV/chiếc, đến năm 1998 đạt 34,2CV/chiếc; dự đoán đến cuối năm 2000

đạt trên 38 CV/chiếc (chi tiết số lượng và công suất tàu thuyền máy của từng tỉnh xem phụ lục 3-bảng 3)

Chủng loại tầu thuyền máy thay đổi theo chiều hướng giảm tỷ lệ tàu thuyền nhỏ, tăng tỷ lệ tầu thuyền lớn Thực tế nguồn lợi ven bờ giảm đã buộc ngư dân phải chuyển ra khai thác xa bờ Năm 1992 cơ cấu chủng loại tầu thuyền máy như sau:

Số lượng tầu thuyền lớn từ 76 CV trở lên phân bố theo các vùng địa lý không đồng đều, phần lớn tập trung ở các tỉnh Đông và Tây Nam bộ Đến cuối tháng 12 năm 1998 loại tầu máy có công suất từ 76 CV trở lên của cả nước là 5.007 chiếc và phân bố theo các vùng địa lý như sau :

Từ Quảng Ninh đến Ninh Bình : 186 chiếc chiếm

Trang 6

3,7%

Từ Thanh Hoá đến Thừa Thiên Huế : 229 chiếc, chiếm 4,6%

Từ Đà Nẵng đến Bình Thuận : 753 chiếc chiếm 15,0%

Từ Bà Rịa - Vũng Tầu đến Kiên Giang: 3.803 chiếc chiếm 76,0%

Quốc doanh trung ương và quân đội : 36 chiếc chiếm 0,8%

1.2 Cơ cấu nghề nghiệp khai thác

Nghề nghiệp khai thác hải sản ở nước ta rất đa dạng và phong phú về qui mô, cũng như tên gọi, theo thống kê chưa đầy đủ đã có trên 20 loại nghề khác nhau, được xếp vào 6 họ nghề chủ yếu; tỷ lệ các họ nghề như sau:

g) Họ lưới vây chiếm: 4,3%

Họ lưới kéo chiếm tỷ lệ cao nhất ở các tỉnh Nam bộ (38,1%) trong đó Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng chiếm tỷ lệ 47%, Kiên giang chiếm 41,5%, Bà Rịa-Vũng Tàu chiếm 38,5% Điều này phù hợp với nguồn lợi ở vùng biển

Đông Nam bộ (cá đáy chiếm 60% khả năng khai thác)

Họ lưới rê ở các tỉnh Bắc bộ chiếm 60% và ở các tỉnh Bắc Trung bộ chiếm 42% là phù hợp với nguồn lợi ở vịnh Bắc bộ (cá nổi chiếm 66,5% khả năng khai thác

Họ ngư cụ cố định trong đó chủ yếu là nghề đáy tập trung ở các tỉnh

có nhiều cửa sông Ví dụ : Hải Phòng 22%, Nam Định 17%, thành phố Hồ Chí Minh 27%, Trà Vinh 17%, Tiền Giang 16%, Cà Mau 10%

Tỷ lệ nghề đáy cao ở một số tỉnh là chưa phù hợp, gây tác động xấu

đến bảo vệ nguồn lợi vì nó đánh bắt các đàn cá chưa trưởng thành thường hay vào vùng cửa sông kiếm ăn

1.3 Lao động trong khai thác hải sản

Tổng số lao động đánh bắt thủy sản cả nước năm 1998 là 510.192 người, trong đó lực lượng lao động ngoài quốc doanh chiếm trên 99,6%

Hiện nay lực lượng lao động khai thác còn khá dư thừa, kể cả lực lượng lao động kĩ thuật và lực lượng lao động đến tuổi được bổ sung hàng năm ở vùng ven biển, nhiều nơi phải đi xen, đi ghép trên một phương tiện

đánh bắt Nhưng số thuyền trưởng và thuỷ thủ giỏi có khả năng đi tàu đánh bắt xa bờ ở nhiều nơi còn thiếu, đặc biệt là ở các tỉnh Bắc bộ và Nam bộ

Trang 7

1.4 Sản lượng và năng suất khai thác

Tổng sản lượng hải sản khai thác trong 10 năm gần đây tăng liên tục (khoảng 6,6%/năm) Riêng giai đoạn 1991 - 1995 tăng với tốc độ 7,5%/năm; giai đoạn 1996 - 2000 tăng bình quân 5,9%/năm Năm 1998 tổng sản lượng khai thác hải sản đạt trên 1.130.000 tấn Sản lượng tăng theo đầu tư và hạn chế bởi mức độ cạn kiệt (chi tiết sản lượng khai thác của từng tỉnh xem phụ lục 3 - bảng 4) Cơ cấu sản phẩm theo các vùng lãnh thổ được trình bày ở bảng dưới :

Trang 8

Cơ cấu sản phẩm khai thác hải sản theo vùng lãnh thổ năm 1998

1.5 Đánh giá chung về hiện trạng khai thác thủy sản

Trong giai đoạn 1991-2000 :

ư Số lượng tàu thuyền máy tăng 8,5%/năm, tổng công suất tăng 20,7%/năm, số lượng thuyền thủ công giảm 7%/năm

ư Lao động đánh cá biển tăng tình quân 9,4%/năm, thiếu lao

động tay nghề, thuỷ thủ giỏi

ư Tổng sản lượng khai thác hải sản tăng bình quân 6,6%/năm nhưng xu hướng tốc độ tăng giảm dần

Sản lượng khai thác gần bờ đã vượt quá mức độ cho phép Sản lượng mực và tôm vượt quá xa kết quả tính toán sản lượng cho phép khai thác

Những nhận định trên thể hiện rõ qua các đồ thị sau:

Sơ đồ 1: Tương quan giữa công suất và số lượng tàu thuyền

0 10000

Ư ớc 1999

D k iến 2000

0 500000 1000000 1500000 2000000 2500000 3000000

Trang 9

Sơ đồ 2: Tương quan giữa năng suất và sản lượng

Sơ đồ 3: Tương quan giữa năng suất và công suất tàu thuyền

0 200000

Năm 1992

Năm 1993

Năm 1994

Năm 1995

Năm 1997

Năm 1998

Ư ớc 1999

D.

k iến 2000

Trang 10

Sơ đồ 4: Tương quan giữa năng suất và số tàu thuyền

2 nuôi trồng thủy sản

Diện tích nuôi

Năm 1998, diện tích các loại mặt nước đã được sử dụng chiếm 37% tiềm năng, trong đó mặt nước ao hồ nhỏ và vùng triều đã sử dụng quá ngưỡng an toàn sinh thái, riêng phần diện tích ruộng trũng và mặt nước lớn

là có thể phát triển thêm vì hiện nay mới sử dụng được 27% Diện tích sử dụng mặt nước vùng triều đã đạt 44%, tại một số địa phương tỷ lệ này còn

đang tăng lên nữa

Diện tích các loại hình mặt nước nuôi trồng thủy sản năm 1998

Một số kết quả nuôi trồng thuỷ sản năm 1991-1998

1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 Sản lượng nước ngọt

(tấn)

277.910 275.598 304.472 313.168 370.128 348.649 342.622 359.000 Sản lượng mặn lợ (tấn) 70.000 73.000 70.000 84.000 89.820 92.351 166.378 178.870 Giá trị xuất khẩu (tr

USD)

0 10000

Năm 1992

Năm 1993

Năm 1994

Năm 1995

Năm 1997

Năm 1998

Ước 1999

D kiến 2000

0 0.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7 0.8 0.9 1

Trang 11

Thu hút lao động (người) 277.850 338.927 363.480 389.533 422.500 437.634 500.000 550.000

(Chi tiết sản lượng nuôi trồng thủy sản của các tỉnh xem phụ lục 3 - bảng 2)

Kim ngạch xuất khẩu từ nuôi trồng chiếm khoảng 50% kim ngạch xuất khẩu toàn ngành

Tổng diện tích ruộng trũng có thể đưa vào nuôi cá theo các mô hình cá - lúa khoảng 580.000 ha Năm 1998 diện tích đã nuôi cá khoảng 154.200

ha Năng suất và hiệu quả nuôi cá ruộng trũng khá lớn Đây là một hướng cho việc chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp, tăng thu nhập cho người lao

động, xoá đói giảm nghèo ở nông thôn

Nuôi các đối tượng đặc sản có giá trị kinh tế cao như : baba, cá bống tượng, tôm càng xanh, cá sấu, lươn, ếch được mở rộng, làm tăng giá trị kinh tế của các mô hình nuôi nước ngọt

Nuôi thuỷ sản nước lợ được phát triển rất mạnh thời kỳ qua, đã có bước chuyển từ sản xuất nhỏ tự túc, sang sản xuất hàng hoá, mang lại giá trị ngoại tệ cao cho nền kinh tế quốc dân và thu nhập đáng kể cho người lao

động

Những năm gần đây tôm được nuôi ở khắp các tỉnh ven biển trong cả nước, nhất là tôm sú Diện tích nuôi tôm năm 1998 khoảng 290.000 ha Để tạo giá trị xuất khẩu cao tôm là đối tượng chủ lực, gần đây cá ba sa và cá tra

đang ngày một trở thành đối tượng có giá trị hàng hoá lớn Ngoài ra các đối tượng khác đang còn trong tình trạng manh mún

Nhìn chung hình thức nuôi tôm hiện nay chủ yếu vẫn là nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến Diện tích nuôi bán thâm canh và thâm canh còn ít và năng suất thấp Đến năm 1998 diện tích nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh 11.000-13.000 ha, năng suất 1-2 tấn/ha

Nhiều nơi sử dụng diện tích vùng bãi triều, rừng ngập mặn, cửa sông chưa hợp lý, chưa thống nhất quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết cho từng tiểu vùng, đầu tư chưa đủ mức, chưa đồng bộ nên phát huy hiệu quả chưa tốt, có nơi sử dụng diện tích mặt nước nuôi quá mức, tác động tiêu cực tới sinh thái môi trường

Đến nay các nghề nuôi trai lấy ngọc, nuôi cá lồng, nuôi tôm hùm, nuôi thả nhuyễn thể hai mảnh vỏ, trồng rong sụn có nhiều triển vọng tốt Tuy nhiên, do khó khăn về vốn, hạn chế về kỹ thuật công nghệ, chưa chủ

động được nguồn giống nuôi, nên nghề nuôi thời gian qua còn bị lệ thuộc vào

tự nhiên, chưa thể phát triển mạnh

Trang 12

Số cơ sở sản xuất cá giống nhân tạo trên toàn quốc hiện nay là 354 cơ

sở, hàng năm sản xuất được khoảng trên 4 tỷ cá bột cung cấp cho nhu cầu nuôi trên cả nước

Hiện nay trên toàn quốc có 2.125 trại sản xuất tôm giống, hàng năm sản xuất được 5 tỷ tôm P15, bước đầu đã đáp ứng một phần nhu cầu tôm giống cho ngư dân

Theo thống kê hiện nay trên toàn quốc có khoảng 24 cơ sở sản xuất thức ăn nhân tạo với tổng công suất 47.640 tấn/năm thức ăn sản xuất ra nhìn chung chưa đáp ứng nhu cầu cả về số lượng và chất lượng Giá thành cao, do chi phí đầu vào chưa hợp lý ảnh hưởng đến sức tiêu thụ

3 Chế biến thủy sản

Năm 1998 đã có khoảng 400.000 tấn nguyên liệu được đưa vào chế biến xuất khẩu, chiếm 24,3% tổng sản lượng thuỷ sản và khoảng 41% nguyên liệu được chế biến cho tiêu dùng nội địa và như vậy chỉ còn khoảng 35% nguyên liệu được dùng dưới dạng tươi sống

Tổng cộng đến cuối năm 1998 toàn quốc có 196 nhà máy, 21 dây chuyền IQF, 14 máy đóng túi chân không, tổng công suất cấp đông là 1.000 tấn/ngày, công suất chế biến là 200.000 tấn/năm, trung bình 1.075 tấn/nhà máy/năm Phân chia theo vùng như sau : miền Bắc 6% , miền Trung 35%

và miền Nam 59%

Năng lực chế biến thuỷ sản đông lạnh hiện tại được đánh giá là dư thừa

so với nguồn nguyên liệu hiện có đó là một trong những nguyên nhân, dẫn

đến việc tranh mua nguyên liệu gay gắt giữa các doanh nghiệp, giá nguyên liệu ngày một bị đẩy lên cao làm cho giá thành các sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam vì thế cũng cao hơn giá thành sản xuất các sản phẩm tương ứng ở các nước trong khu vực làm cho lơị thế cạnh tranh bị suy giảm

Các sản phẩm chế biến trong các năm 1985, 1990, 1995, 1997

Trang 13

(Danh môc c¸c s¶n phÈm chÕ biÕn thuû s¶n ViÖt Nam xem phô lôc 10)

Trang 14

Những mặt hạn chế

a) Vai trò quản lý nhà nước còn yếu, thiếu sự phối hợp chặt chẽ trong

chỉ đạo xây dựng qui hoạch, kế hoạch phát triển giữa các địa phương và ngành

b) Mất cân đối giữa trình độ công nghệ hiện tại với nhu cầu chất lượng

và dạng sản phẩm đối với thị trường, mặt hàng chế biến đơn điệu, phần lớn là dạng bán chế phẩm vừa tiêu hao nhiều nguyên liệu vừa

cho giá xuất khẩu thấp, chất lượng sản phẩm chưa ổn định Chưa

tập trung cao cho công tác đầu tư nghiên cứu đổi mới công nghệ (phát triển công nghệ mới hoặc mua Patent)

c) Chưa tạo được liên kết có hiệu quả giữa các nhà máy xí nghiệp, giữa

doanh nghiệp và cơ sở sản xuất nguyên liệu ban đầu đã gây ra sự

cạnh tranh không lành mạnh nhất là đẩy giá nguyên liệu đầu vào ở trong nước lên quá cao làm yếu đi sức cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam ở thị trường ngoài nước

d) Mất cân đối giữa công suất thiết bị và khả năng cung cấp nguyên

liệu, nhu cầu thị trường

e) Chất lượng nguyên liệu đưa vào chế biến thấp, giá nguyên liệu cao,

giá đầu ra thấp, sản xuất ít có lãi là những khó khăn mà các doanh nghiệp chế biến đang gặp Công nghệ bảo quản nguyên liệu sau thu hoạch còn nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu đưa vào chế biến

4 Thương mại thủy sản

Thương mại thủy sản trong 10 năm qua (1990-1999) đã phát triển chiều rộng và từng bước đi vào chiều sâu, tạo được vị trí và thế đứng ở trong

và ngoài nước

Trang 15

Cơ cấu tiêu thụ nguyên liệu trên thị trường

0 200000

4.1 Thị trường ngoài nước

4.1.1 Tốc độ tăng trong 10 năm qua (1990-1999) là 4,63 lần; nếu tính 5 năm

(1991-1995) tăng 168,3%, năm 1998 đạt 858 triệu USD

4.1.2 Thị trường xuất khẩu

Thị trường xuất khẩu đã được mở rộng ra nhiều nước trên thế giới, bao gồm 5 châu lục (năm 1998 là 56 nước và vùng lãnh thổ) Trong đó thị trường Nhật vẫn là một thị trường lớn chiếm khoảng 50% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của thuỷ sản Việt Nam, tiếp đến là các thị trường Trung Quốc, châu Âu và Bắc Mỹ

4.1.3 Mặt hàng xuất khẩu thủy sản

Nói chung đã tăng cả về lượng, về trình độ công nghệ sản phẩm và về cơ cấu sản phẩm

Cơ cấu sản lượng các nhóm hàng sản phẩm thủy sản xuất khẩu như sau :

Trang 16

Thuỷ sản khác

(Giá trị sản xuất hàng thuỷ sản xuất khẩu 1991-1998 xem phụ lục bảng 5)

3-4.2 Thị trường tiêu thụ nội địa

Cơ cấu giữa sản phẩm ăn tươi và chế biến nội địa cũng đã có sự thay

đổi: Tỷ trọng ăn tươi năm 1990 chiếm 72%, năm 1995 còn 60,85%, năm

Trang 17

5 Cơ khí dịch vụ hậu cần cho khai thác hải sản

Cơ khí đóng sửa tàu thuyền

Số cơ sở đóng sửa tàu thuyền hiện có: 702 cơ sở với năng lực đóng mới khoảng 4.000 chiếc/năm cho các tàu thuyền vỏ gỗ từ 400CV trở xuống, riêng

vỏ sắt: từ 250CV trở xuống và khả năng sửa chữa 8.000chiếc/năm

Công nghệ đóng mới tầu thuyền dựa vào kinh nghiệm truyền thống là chủ yếu, nên việc tiếp thu công nghiệp mới bị hạn chế rất lớn

Trang thiết bị các cơ sở đóng sửa tầu thuyền vừa thô sơ, vừa lạc hậu

Các cơ sở đóng mới vừa manh mún, vừa phân tán

Cơ sở bến cảng cá

Việc xây dựng các bến cảng cá giai đoạn từ 1990 - 2000 đã có bước thay đổi lớn,tăng nhanh về số lượng, hình thành hai tuyến cầu cảng và bến cá dọc theo vùng ven biển và trên các hải đảo đáp ứng được cơ bản việc đi lại, trú đậu, bốc dỡ sản phẩm, trao đổi hàng hoá của các đội tàu trên từng khu vực và từng tỉnh nghề cá

Số bến cảng cá đã và đang xây dựng tính đến năm 2000:

Tổng số bến cảng cá đã và đang xây dựng: 70 cái bao gồm 54 cái thuộc vùng ven biển và 16 cái trên tuyến đảo, tổng chiều dài bến cảng là 4.146 m

Số bến cảng cá có xây dựng đã đưa vào sử dụng: 48 cái

Chưa tạo được các cụm cảng cá trung tâm cho từng vùng lãnh thổ, làm cơ sở cho việc hình thành các cụm công nghiệp nghề cá lớn của cả nước trong tương lai (biểu thống kê cơ sở hạ tầng nghề cá xem phụ lục số 7)

Trang 18

Chương II: kinh tế xã hội ngành thủy sản

Kết quả sản xuất thuỷ sản theo vùng kinh tế sinh thái

Dân số (1000 ng)

% so cả

nước

MDDS (ng/

km2)

Tổng SLTS (tấn)

% so cả

nước

SLKTHS (tấn)

SLNT và KTNĐ

(tấn)

BQTS/Ng (Kg/Ng)

KN XKTS (1000 USD)

% so toàn vùng Năm 1995

Về sản lượng thủy sản tốc độ tăng bình quân hàng năm giai đoạn 1991

- 1995 là 8,25%, giai đoạn 1995 - 1998: 4,3%, giai đoạn 1991 - 1998: 7,28%

Trang 19

Về giá trị xuất khẩu tăng bình quân hàng năm giai đoạn 1991 - 1995

là 28%, giai đoạn 1995 - 1998: 18,7%, giai đoạn 1991 - 1998: 22,57%

Tỷ trọng GDP của ngành thủy sản trong tổng GDP toàn quốc giai

đoạn 1990 - 1995 khoảng 3% Riêng GDP thủy sản trong tổng GDP các tỉnh duyên hải miền Trung là 7% và đồng bằng sông Cửu Long là 8% GDP toàn ngành thuỷ sản năm 1995 đạt 6.664 tỉ VNĐ, năm 1997 đạt 7.642 tỷ VNĐ

Tổng giá trị sản lượng thuỷ sản tăng bình quân hàng năm giai đoạn 1991-1995 là 13%, giai đoạn 1995-1998 : 7%, giai đoạn 1991-1998 : 10,6%

Thành tựu đã đạt được đang tạo ra những điều kiện cho ngành thủy sản phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Biểu đồ tương quan giữa tốc độ đầu tư vốn

và giá trị sản lượng của ngành khai thác hải sản

Biểu đồ tương quan giữa tốc độ đầu tư vốn

và giá trị sản lượng của ngành nuôi trồng thuỷ sản

Qua hai biểu đồ trên ta có thể nhận xét khái quát về mối tương quan

0 10000 20000 30000 40000

Trang 20

giữa tốc độ đầu tư vốn và giá trị sản lượng như sau :

Tốc độ đầu tư vốn tăng đã làm tăng liên tục tổng giá trị sản lượng thuỷ sản

Tốc độ đầu tư vốn tăng nhanh nhưng tốc độ tăng tổng giá trị sản lượng thuỷ sản chậm lại

Tốc độ đầu tư vốn cho ngành nuôi trồng thuỷ sản tăng chậm nhưng tốc độ tăng giá trị tổng sản lượng thuỷ sản nhanh hơn, ngược lại trong khai thác hải sản tốc độ vốn đầu tư tăng nhanh nhưng tốc độ tăng giá trị sản lượng hải sản chậm Như vậy có thể nói hiệu quả đầu tư trong ngành nuôi trồng thuỷ sản hiện nay cao hơn ngành khai thác hải sản

(Tính toán hiệu quả kinh tế cho một số mô hình nuôi tôm và một số nghề khai thác hải sản xa bờ 1998 xem phụ lục 11, 12)

Biểu đồ Sự tăng trưởng của GDP thủy sản

Tuy nhiên cần lưu ý rằng tốc độ tăng trưởng của ngành thuỷ sản thời

kỳ 1995-1998 đã chậm hơn so với 1991-1995, cần có sự chú ý thích đáng trong tăng đầu tư và điều chỉnh cơ cấu đầu tư, xác định các bước đi thích hợp để giữ được tốc độ tăng trưởng của ngành một cách bền vững

Tỉ lệ tăng dân số khu vực ven biển tăng cao hơn mức trung bình của cả nước (khoảng 2,0%)

Hộ gia đình thuỷ sản thường đông hơn, một phần do tập quán chung

là phải có con trai để nối dõi tông đường, phần khác là do yêu cầu nghề nghiệp phải có nhiều con trai thì mới có đủ lao động để đi biển và làm những công việc nặng nhọc khác của nghề thuỷ sản: đắp đập, đầm, kéo lưới, trông cá, (thống kê các làng cá ở Việt Nam xem phụ lục 4)

0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000 9000

Trang 21

Đông con + nguồn lợi giảm + không có việc làm đã làm cho họ chìm mãi trong cuộc sống nghèo khó Việc giảm tỉ lệ sinh đẻ của các hộ gia đình nghề cá cần được toàn xã hội quan tâm nhiều hơn nữa

Theo số liệu thống kê của ngành thủy sản các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến cung cấp việc làm thường xuyên cho khoảng 901.500 người trong năm 1995 Trong đó:

+ 420.000 người trong ngành khai thác thủy sản

+ 422.500 người trong ngành nuôi trồng thủy sản

+ 59.000 người trong ngành chế biến

Năm 1998 số lao động thường xuyên trong 3 lĩnh vực của ngành tăng thêm gần 250.000 người so với năm 1995, đưa tổng số lao động lên 1.150.000 người, trong đó :

+ 520.000 người trong ngành khai thác thủy sản

+ 550.000 người trong ngành nuôi trồng thủy sản

+ 80.000 người trong ngành chế biến

Trang 22

Phần thứ hai

Phân tích, dự báo các điều kiện phát triển

Chương I : điều kiện tự nhiên, nguồn lợi Và KHả NĂNG

KHAI THáC CáC NGUồN LợI Tự NHIÊN CủA NGàNH thủy sản

1 điều kiện tự nhiên

Bờ biển Việt Nam dài 3.260 km, với 112 cửa sông lạch, tính trung bình

cứ 100 km2 diện tích tự nhiên có 1 km bờ biển và gần 30 km bờ biển có 1 cửa sông lạch

Diện tích vùng biển Việt Nam bao gồm : nội thuỷ, lãnh hải 226.000 km2 và vùng đặc quyền kinh tế khoảng trên 1 triệu km2 Có thể chia vùng biển Việt Nam thành 4 vùng nhỏ :

Vịnh Bắc bộ : tính từ vĩ tuyến 17 0 N trở lên phía Bắc là 1 vịnh nông, đáy có hình lòng chảo, độ dốc đáy biển nhỏ, độ sâu trung bình 38,5 m, nơi sâu nhất ở cửa vịnh không quá 100 m

Vùng biển Trung bộ : giới hạn từ vĩ độ 11 0 30 N đến 17 0 N Đáy biển có độ dốc và độ sâu lớn Độ sâu thay đổi nhanh nhất ở khu vực từ Qui Nhơn đến Nha Trang, đường đẳng sâu 200 m nằm sát

bờ, cách bờ 30-35 hải lý đã sâu tới 1.000-2.000 m

Vùng biển Đông Nam bộ : giới hạn từ vĩ độ 6 0 N-11 0 30 N Đường

bờ biển khúc khuỷu lồi lõm, độ dốc đáy biển không lớn Đường

đẳng sâu 200 m chạy rất xa bờ Hệ thống sông Cửu Long với nhiều cửa đổ ra biển nên chế độ dòng chảy vùng gần bờ rất phức tạp

Vùng biển Tây Nam bộ (vịnh Thái Lan) : giới hạn từ vĩ độ 6 0 30 N

- 10 0 30 N, là một vịnh kín, đáy hình lòng chảo, nơi sâu nhất không quá 80 m

Vùng giữa biển Đông bao gồm khu vực phía tây quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa Đáy biển rất sâu, nhiều chỗ sâu 1.000-3.800 m Vùng ven các đảo có quần thể san hô Vùng biển này có thể khai thác cá ngừ đại dương, mực, cá nhám và cá rạn san hô

Trang 23

2 Các đặc điểm môi trường và tiềm năng nguồn lợi

thủy sản

2.1 Môi trường nước mặn xa bờ

Nguồn lợi hải sản của nước ta, kể cả các vùng gần bờ và xa bờ nhìn chung mang những đặc điểm lớn sau đây : nguồn lợi hải sản không giàu, mức phong phú trung bình, càng ra xa mật độ càng giảm, tài nguyên hải sản càng nghèo

Nguồn lợi đa loài, nhiều cá tạp không có chất lượng cao (thực tế

đánh bắt cho thấy ở miền Bắc lượng cá có thể xuất khẩu trong sản lượng khai thác ngoài khơi chỉ có thể đạt khoảng 5-15%, ở vùng miền Trung chỉ có một số loài cá nổi lớn và mực có thể xuất khẩu,

Đông và Tây Nam bộ lượng cá xuất khẩu được trong tổng sản lượng cũng chỉ có thể chiếm 20% Trong khi đó, lượng cá có thể dùng trực tiếp làm thực phẩm cho nhu cầu trong nước chỉ đạt khoảng 50% đối với vùng biển Bắc và Trung bộ và 40% đối với vùng biển Đông và Tây Nam bộ Lượng cá tạp trung bình thường chiếm khoảng 40%)

Nhìn chung nguồn lợi mang tính phân tán, quần tụ đàn nhỏ nên rất khó tổ chức khai thác công nghiệp cho hiệu quả kinh tế cao Thêm vào đó những điều kiện khí hậu thuỷ văn của vùng biển lại rất khắc nghiệt, nhiều dông bão làm cho quá trình khai thác mang nhiều sắc thái rủi ro và tăng thêm chi phí sản xuất (biểu phân bố nguồn lợi hải sản Việt Nam xem phụ lục 1)

2.2 Môi trường nước mặn gần bờ

Vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nam Bộ thuộc vùng sinh thái này có sản lượng khai thác cao nhất, có khả năng đạt 67% tổng lượng hải sản khai thác của Việt Nam

Vịnh Bắc Bộ với trên 3.000 hòn đảo tạo nên nhiều bãi triều quanh đảo

có thể nuôi các loài nhuyễn thể có giá trị như trai ngọc, vẹm xanh, vẹm nâu, hầu sông, hầu biển, bào ngư, sò huyết, sò lông, ngao dầu, ngao mật

Nguồn lợi hải sản Việt Nam có thể ước tính như sau: Tôm có 75 loài, mực 25 loài, bạch tuộc 7 loài, tảo biển 653 loài Rong kinh tế chiếm 14% (90 loài) San hô (loài san hô cứng) tạo rạn san hô có 298 loài thuộc 76 giống 16

họ và trên 10 loài san hô sừng Cá có trên 2.100 loài, trong đó hơn 100 loài

có giá trị kinh tế Vịnh Bắc Bộ có thành phần khu hệ cá nghèo nhưng có đến 10,7% số loài mang tính ôn đới, thích nước ấm

Đặc tính nguồn lợi này gây khó khăn cho các nhà khai thác khi phải chọn lựa các thông số kỹ thuật của ngư cụ sao cho vừa kinh tế vừa có tính chọn lọc cao - nghĩa là các ngư cụ có khả năng đánh bắt một cách lựa chọn loài thủy sản cần khai thác

Trang 24

Nghề đánh cá biển của Việt nam là một nghề khai thác đa loài và do kích cỡ cá cũng như kích cỡ quần đàn rất khác nhau nên cần có đội tàu đa dạng về kích cỡ và nghề nghiệp; trong nhiều trường hợp cần bố trí kiêm ghép nhiều nghề trên một đơn vị tàu thuyền

Đặc tính số lượng loài phong phú nhưng số lượng cá thể mỗi loài lại không nhiều cũng gây khó khăn cho các nhà chế biến, bởi vì mỗi mẻ lưới (nhất là đối với loại dã cào) được kéo lên lại phải rất mất công phân loại cá, tôm theo loài để còn xử lý bảo quản và chế biến sau này

Vùng nước gần bờ (vịnh Bắc bộ và Đông, Tây Nam bộ từ 30 mét nước sâu trở vào và Trung bộ 50 mét nước sâu trở vào là vùng khai thác chủ yếu của nghề cá Việt Nam

Mặc dù vùng nước có độ sâu dưới 30m chỉ chiếm một diện tích gần 17% tổng diện tích thềm lục địa nhưng đã phải chịu áp lực khai thác rất cao,lượng hải sản vùng ven bờ đã bị khai thác quá mức, sản phẩm khai thác

có cả các cá thể chưa trưởng thành hay cả những đàn đi đẻ (xem phụ lục 1 : biểu phân bố nguồn lợi hải sản Việt Nam)

Các vùng nước lợ ở nước ta, đặc biệt là các vùng rừng ngập mặn ven biển đã bị lạm dụng quá mức cho việc nuôi trồng thuỷ sản nhất là nuôi tôm (xem phụ lục 2 : tiềm năng mặt nước nuôi trồng thuỷ sản theo vùng và phụ lục 6 : danh mục đầm phá Việt Nam)

Trang 25

còn các mặt nước lớn tự nhiên và nhân tạo như các dòng sông, các hồ chức nước tự nhiên và nhân tạo, các vùng đất ngập nước, ruộng trũng mới được

sử dụng rất ít (xem phụ lục 2 : tiềm năng mặt nước nuôi trồng thuỷ sản theo

vùng và phụ lục 5 : danh mục các hồ chứa Việt Nam)

Trang 26

Chương II : Sự tác động của nghề cá thế giới và khu

vực và lợi thế cạnh tranh của nghề cá việt nam

1 Tình hình chung

Giá thực tế của sản phẩm thuỷ sản (loại có chất lượng cao và trung bình) trên thế giới đã gia tăng suốt trong khoảng từ 1980 trở lại đây chứng tỏ

sự gia tăng không ngừng nhu cầu về thuỷ sản trên thế giới (trừ trường hợp

đối với các loài cá nổi kích cỡ nhỏ, sản phẩm cá nước ngọt nuôi và đánh bắt

ở những vùng có thương mại chưa phát triển hoặc quá thưa dân)

Khu vực Đông Nam á và Nam á là một trong số những khu vực có nghề thuỷ sản lớn nhất của thế giới Tổng sản lượng thuỷ sản ở hai khu vực này năm 1994 đạt 19,5 triệu tấn chiếm 27,5% tổng sản lượng thuỷ sản toàn cầu ở khu vực này có khoảng 10 triệu người tham gia làm nghề cá và mức tiêu thụ cá trên đầu người cũng khá cao, nhất là đối với các nước vùng ven biển Đông Nam á

Sản phẩm thuỷ sản của các nước Đông Nam á đã tăng lên một cách nhanh chóng từ 8.576.000 tấn năm 1984 lên 13.357.000 tấn năm 1996 và chiếm khoảng 11% tổng sản lượng thuỷ sản của toàn thế giới, trong đó sản lượng khai thác chiếm 11.400.000 tấn và sản lượng nuôi trồng chiếm khoảng 1.200.000 tấn (1986) Khu vực này cũng là một khu vực xuất khẩu thuỷ sản rất mạnh năm 1996 đã đạt 7.703 triệu USD chiếm 14,7% giá trị thuỷ sản xuất khẩu thuỷ sản thế giới Bốn nước có sản lượng thủy sản lớn nhất khu vực là Inđônexia, Thái Lan, Philippin và Việt Nam ở khu vực này khác với khu vực khác trên thế giới các loại cá nổi nhỏ được khai thác và tiêu thụ khá mạnh để làm thực phẩm Nó chiếm tới gần 1/3 sản lượng cất bến của khu vực Tôm là sản phẩm khai thác biển có giá trị cao nhất và được coi trọng khai thác nhất ở khu vực này Mặc dầu chiếm chưa đầy 10% sản lượng khai thác nhưng đó là nhóm loài đem lại giá trị khai thác cao nhất Nhuyễn thể chân đầu (mực, bạch tuộc) cũng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng sản lượng khai thác, song do giá trị xuất khẩu cao nên 10 năm trở lại đây đã có tốc độ tăng trưởng rất nhanh tới 11%/năm

2 Xu hướng thay đổi trong cơ cấu nghề khai thác hải

sản thế giới

Sản lượng hải sản khai thác được của thế giới đã tăng từ 17 triệu tấn/năm (năm 1950) lên 81,7 triệu tấn/năm (năm 1996) Tuy nhiên, trong những năm qua sự tăng trưởng của sản lượng thuỷ sản đã có chiều hướng giảm xuống Nếu những năm 50 và 60 sản lượng hải sản thường tăng gấp đôi

Trang 27

sau một thập kỷ tức là trung bình khoảng 6%/năm (17 triệu tấn năm 1950; 34,9 triệu tấn năm 1961; 68,3 triệu tấn năm 1983) thì 10 năm tiếp theo năm

1983 trung bình hàng năm chỉ tăng 1,5% và năm 1996 chỉ tăng 0,6% so với năm 1995

60% sản lượng hải sản của thế giới được dùng vào làm thực phẩm cho con người còn 40% dùng để chế biến các sản phẩm kỹ thuật như : dầu cá, bột cá Trước tình hình đó, tăng mạnh nuôi, giảm thất thoát, tận dụng cá tạp

và các loài không truyền thống có ý nghĩa rất lớn đối với nghề cá thế giới

Nuôi trồng thuỷ sản cung cấp khoảng 20% tổng sản lượng thuỷ sản thế giới nhưng chiếm 29% sản lượng thuỷ sản dùng làm thực phẩm (1996) Phần lớn sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản (15,1 triệu tấn) có nguồn gốc từ các loài thuỷ sản nước ngọt 9,7 triệu tấn có nguồn gốc ở môi trường biển và 1,6 triệu tấn từ các môi trường nước lợ (không kể các loại thực vật thuỷ sinh

được trồng khoảng 7,7 triệu tấn năm 1996) Nước có nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh nhất trên thế giới là Trung Quốc Năm 1996 chỉ tính riêng nước này sản lượng thuỷ sản nuôi trồng được đã chiếm 67,8% sản phẩm nuôi trồng toàn thế giới Tuy nhiên, do phần lớn sản lượng là cá nước ngọt

và rong biển nên đóng góp về giá trị của sản phẩm thuỷ sản nuôi trồng Trung Quốc chỉ khoảng 45,4% so với tổng giá trị sản lượng thuỷ sản nuôi trồng thế giới Bên cạnh đó Nhật Bản mặc dù về mặt sản lượng chỉ chiếm 4% sản lượng nuôi trồng thuỷ sản thế giới nhưng đã chiếm 2 lần số đó về giá trị bởi vì nước này tập trung nuôi các loại hải sản có giá trị cao như các loại cá ngừ, sò và điệp

Do giá trị xuất khẩu rất cao, tôm sú được xếp vào hàng đầu các loài giáp xác được nuôi trồng trong những năm gần đây Gần như toàn bộ sản phẩm tôm sú nuôi trồng nằm trong các vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt

đới Các sản phẩm của chúng phần lớn được xuất sang các nước công nghiệp phát triển Hoạt động này đã đóng góp đáng kể vào việc tăng trưởng kinh tế

ở một số nước châu á và châu Mỹ là tinh

4 Xu thế thương mại quốc tế và khu vực trong lĩnh

vực thuỷ sản

4.1 Xu hướng tiêu thụ các mặt hàng thuỷ sản

Hàng thuỷ sản sống và tươi đang tăng nhanh từ 23,5% (trong tổng số) năm 1991 lên 29,6% năm 1995 với mức tăng trung bình là 1,5% năm Xu hướng thị trường thuỷ sản tươi sống đang gia tăng đặc biệt là ở khu vực

Đông á (Nhật, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông ) Các mặt hàng sống

đang có nhu cầu cao và tăng nhanh là : tôm hùm, cua biển, cá vược, cá mú, cá chình, cá chép, sò điệp Các mặt hàng tươi là : cá ngừ, cá hồi

Trang 28

Hàng thuỷ sản đông lạnh giảm nhanh từ 24,8% năm 1991 xuống 21,5% năm 1995 Mức giảm diễn ra nhanh ở thị trường Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản Xu hướng thuỷ sản đông lạnh còn tiếp tục giảm

Đồ hộp thuỷ sản (chủ yếu là cá hộp) giảm từ 14,7% năm 1991 xuống 10,5% năm 1995 Nhưng tôm hộp, thịt cua hộp, trứng cá hộp lại tăng nhanh Xu hướng chung là cá hộp sẽ tiếp tục giảm

Hàng thuỷ sản nấu chín, ăn liền giảm nhanh từ 10,6% năm 1991 xuống 7,2% năm 1995 Xu hướng sẽ tiếp tục giảm

Bột cá chăn nuôi biến động rất lớn, phụ thuộc chủ yếu vào sản lượng khai thác cá cơm và cá trích của Pêru và Chilê

4.2 Các thị trường chính

Nhật Bản sẽ tiếp tục là thị trường tiêu thụ thuỷ sản lớn nhất Nhập khẩu thuỷ sản của Nhật tăng rất nhanh, từ 12,5 tỷ USD năm 1991 lên 17,6 USD năm 1996 Nghề khai thác cá biển của Nhật đang xuống dốc nên xu hướng tăng nhanh nhập khẩu thuỷ sản sẽ còn diễn ra lâu dài Tôm đông, cá ngừ tươi, mực, bạch tuộc sẽ tiếp tục là các mặt hàng có nhu cầu lớn ở Nhật Thị trường thuỷ sản ở Mỹ rất lớn cả về nhập và xuất khẩu Nhiều mặt hàng thuỷ sản khác nhau được nhập vào để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước một phần và tái chế rồi lại xuất khẩu : tôm đông, tôm nguyên liệu, cá ngừ, cá ngừ hộp, cá rô phi sẽ là các mặt hàng có nhu cầu lớn Kinh tế

Mỹ đang tăng trưởng nên nhập khẩu thuỷ sản có khả năng cũng sẽ tăng trưởng theo

EU là thị trường lớn thứ hai thế giới ngang với thị trường Mỹ Từ năm 1996-1999 EU giảm 30% sản lượng thuỷ sản khai thác và sẽ tiếp tục giảm 5% vào các năm 1999-2002 Như vậy EU sẽ cần phải nhập khẩu nhiều hàng thuỷ sản từ bên ngoài khối Ba thị trường lớn nhất là : Tây Ban Nha, Pháp,

ý

4.3 Các thị trường mới

Trung Quốc sẽ là thị trường thuỷ sản lớn hàng đầu châu á với đặc

điểm vừa tiêu thụ vừa tái chế xuất khẩu Xuất khẩu đã vượt 3 tỷ USD năm, nhưng nhập khẩu tăng rất nhanh và vượt 2 tỷ USD (1996) Tôm hùm, tôm

sú, cá ngừ, mực, cá hồi, cua đang có nhu cầu tăng lên ở các thành phố lớn Trung Quốc đang tăng nhanh việc tái chế xuất khẩu, nên nhập nhiều nguyên liệu thô Hiện nay Trung Quốc là thị trường tiêu thụ bột cá lớn nhất (700.000 tấn) Các thị trường Hồng Kông, Singgapore đang mở rộng và có nhiều triển vọng

Trang 29

5 Vấn đề bảo vệ tài nguyên, môi trường và đa dạng

sinh học trong nghề cá thế giới

Các hội nghị quốc tế về sự đóng góp bền vững của nghề cá vào sản xuất thực phẩm (hội nghị Kyoto 1992) và hội nghị các Bộ trưởng Thuỷ sản, (Rô Ma 1999) đã nhấn mạnh sự cần thiết quản lý tốt khai thác thuỷ sản để

đạt sản lượng bền vững, sử dụng tốt nhất sản lượng cá hiện có, giảm thất thoát sau thu hoạch của các nghề thuỷ sản; phát triển nuôi trồng thuỷ sản

Nuôi trồng thuỷ sản gắn liền với bảo vệ môi trường là phương hướng rất quan trọng đang được sự quan tâm lớn của các quốc gia

và các tổ chức bảo vệ môi trường Vấn đề bảo vệ các vùng nước khỏi bị ô nhiễm, bảo vệ các vùng rừng ngập mặn đang được xem xét gắn liền với nuôi trồng thuỷ sản Hiệu quả và tính bền vững của nuôi trồng thuỷ sản luôn đi liền với các vấn đề trên

Thế giới hiện nay cũng rất quan tâm hạn chế làm suy thoái môi trường từ các chất phế thải và các chất thải khí từ các nhà máy công nghiệp (trong đó có các nhà máy chế biến thuỷ sản)

Việc phá rừng ngập mặn để nuôi tôm, huỷ hoại các bãi san hô đã

có thời kỳ đe doạ rất lớn đến suy thoái tài nguyên biển

Theo các dự báo khả quan thì năm 2010 sản lượng thuỷ sản khai thác

tự nhiên dùng làm thực phẩm có thể tăng lên khoảng 20% so với năm

1991-1993 Tuy nhiên chỉ có nuôi trồng mới được mở rộng đáng kể Các hệ thống nuôi trồng thuỷ sản từ nuôi đa canh đến nuôi chuyên canh từ nước ngọt nước lợ đến nước mặn sẽ phát triển mạnh Nhờ những tiến bộ kỹ thuật kể cả việc di truyền và chọn giống cũng như cải tiến thức ăn và quản lý dịch bệnh cũng như môi trường, nuôi trồng sẽ được phát triển mạnh mẽ và do vậy nguồn thực phẩm từ thuỷ sản cung cấp cho con người sẽ được gia tăng

Việc quản lý môi trường và dịch bệnh tốt hơn làm cho cơ hội sản xuất tôm trên thế giới ngày càng có nhiều triển vọng và đa dạng

Nuôi nhuyễn thể cũng sẽ ngày càng gia tăng vì hai lý do: công nghệ chế biến ngày càng hoàn thiện; thị trường ngày càng mở rộng và ngoài ra ở nhiều vùng nhuyễn thể còn được coi là phương tiện để làm sạch môi trường

và nâng cao chất lượng của nước

Dự báo về nuôi trồng thuỷ sản vào năm 2010 được trình bày trong bảng sau

Dự báo về nuôi trồng thuỷ sản vào năm 2010

Trang 30

61 7 2 6 24

Nguồn: FAO, 1995

Nhìn chung, nuôi trồng thuỷ sản trong tương lai vừa có mức gia tăng mạnh về sản lượng vừa hứa hẹn về hiệu quả kinh tế cao, chất lượng sản phẩm nuôi cũng không ngừng được cải thiện nhờ áp dụng những công nghệ mới trong lĩnh vực sản xuất giống, thức ăn, nuôi dưỡng cá bố, mẹ, các công nghệ cho đẻ, lai tạo, chữa bệnh và vận chuyển cá thương phẩm

ở châu á các trang trại nuôi và sản xuất nhỏ vẫn là những quy mô chủ yếu áp dụng trong nuôi trồng thuỷ sản và hình thức này sẽ tiếp tục phát triển trong nhiều năm tới

7.1 Những thuận lợi

Có 5 thuận lợi cơ bản:

1 Đảng và Nhà nước rất quan tâm, các tầng lớp nhân dân nhận thức rất rõ tầm quan trọng của bước đi đầu tiên là công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn:

Coi ngành thuỷ sản là mũi nhọn

Coi công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn là bước đi ban

đầu quan trọng nhất

2 Ngành Thủy sản đã có một thời gian khá dài chuyển sang cơ chế kinh tế mới (khoảng 20 năm) của nền kinh tế hướng theo thị trường có sự quản lý của nhà nước: đã có sự cọ sát với kinh tế thị trường và đã tạo ra được một nguồn nhân lực khá dồi dào trong tất cả mọi lĩnh vực từ khai thác, chế biến, nuôi trồng đến thương mại Trình độ nghiên cứu và áp dụng thực tiễn cũng đã tăng đáng

điều kiện tiếp cận dễ dàng với mọi thị trường trên thế giới và khu

Trang 31

vực

5 Nhìn chung có thể phát triển thủy sản khắp các nơi trên toàn đất nước ở mỗi vùng có những tiềm năng, đặc thù và sản vật đặc sắc riêng

7.2 Những lợi thế cạnh tranh

1 Việt Nam chưa phát triển nuôi trồng thuỷ sản công nghiệp nên còn nhiều tiềm năng đất đai để phát triển nuôi, chúng ta còn nhiều tiềm năng các vùng biển để nuôi mà không ảnh hưởng tới môi trường sinh thái

2 Người Việt Nam cũng là người có khả năng thích ứng nhanh với thị trường - đổi mới

3 Chúng ta có mối quan hệ truyền thống rộng và sự chú ý của các thị trường mới

7.3 Những thách thức lớn

1 Quá dư thừa lao động ở các vùng ven biển, nguồn nhân lực còn ít

được đào tạo, cuộc sống vật chất thiếu thốn là sức ép rất lớn cả về kinh tế xã hội và môi trường sinh thái đối với nghề cá

Trang 32

2 Cơ sở hạ tầng yếu, chưa đồng bộ cùng với trình độ công nghệ lạc hậu trong khai thác, nuôi trồng, chế biến dẫn đến năng suất và hiệu quả kinh tế thấp

3 Công nghệ sản xuất thuỷ sản của Việt Nam nhìn chung còn rất lạc hậu so với các nước cạnh tranh với ta

4 Những đòi hỏi rất cao và càng ngày chặt chẽ về yêu cầu vệ sinh và chất lượng của các nước nhập khẩu

5 Sự hội nhậo quốc tế với sự dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt ngay trên thị trường Việt Nam với các nước khác

Trang 33

điểm cơ bản sau đây :

1 Nước ta có nhiều lợi thế và tiềm năng phát triển kinh tế thuỷ sản, phải coi đây là một trong những hướng đi chủ đạo của kinh tế biển

và ven biển nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống của cư dân và thay đổi bộ mặt của nông thôn ven biển theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, tăng cường tiềm lực an ninh quốc phòng

2 Để ngành kinh tế thuỷ sản phát triển mạnh có hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao cần đảm bảo sự phát triển bền vững trên cơ

sở thực thi các chính sách đầu tư và quản lý đúng đắn phù hợp với các điều kiện và tính chất đặc thù của ngành đồng thời phát huy mạnh mẽ hiệu lực quản lý của Nhà nước kết hợp với tính tích cực

và sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân, mọi thành phần kinh tế tham gia vào ngành thuỷ sản

3 Để ngành kinh tế thuỷ sản phát triển mạnh có hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao cần đảm bảo sự phát triển bền vững trên cơ

sở thực thi các chính sách đầu tư và quản lý đúng đắn phù hợp với các điều kiện và tính chất đặc thù của ngành đồng thời phát huy mạnh mẽ tích cực và sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân, mọi thành phần kinh tế tham gia vào ngành thuỷ sản

4 Trên cơ sở phát huy nội lực của nghề cá nhân dân, thu hút mọi thành phần kinh tế lấy kinh tế Nhà nước và hợp tác là bà đỡ cho qui trình phát triển nhằm tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho ngư dân và cho nền kinh tế quốc dân góp phần vào công cuộc xoá

đói giảm nghèo của đất nước

5 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nghề cá trong mọi lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, dịch vụ mạnh hơn nữa theo định hướng hướng mạnh vào xuất khẩu và công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 34

6 Để tiến đến một nghề cá hiện đại cần phát triển kinh tế thuỷ sản Việt Nam theo định hướng kết hợp kế hoạch hoá với thị trường, kết hợp giữa sự phát triển phù hợp với đặc thù sinh thái và kinh tế xã hội của các vùng các địa phương với phát triển trên cơ sở lợi ích toàn cục trong các chương trình thống nhất

2 Những mục tiêu chiến lược

Mục tiêu chiến lược vĩ mô quan trọng nhất là huy động tổng hợp mọi tiềm năng để có thể phát triển ngành thuỷ sản nhằm đóng góp có hiệu quả vào nền kinh tế quốc dân và nâng cao các điều kiện kinh tế xã hội của ngư dân Cụ thể là :

Không ngừng tăng phần đóng góp của ngành thủy sản vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội đất nước bằng việc tăng cường xuất khẩu gia tăng thu nhập ngoại tệ và nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, giải quyết được nhiều công ăn việc làm và nâng cao thu nhập, mức sống của các cộng đồng dân cư sống dựa vào nghề cá Trên cơ sở phát triển kinh tế biển và các vùng ven biển, hải đảo góp phần tích cực và thiết thực vào sự nghiệp bảo vệ

an ninh và chủ quyền của Tổ quốc

Đóng góp tích cực vào đảm bảo an ninh thực phẩm quốc gia, nâng cao mức dinh dưỡng của nhân dân bằng cách góp phần tăng mức cung cấp sản phẩm thủy sản cho các thị trường trong nước và tạo

điều kiện thuận lợi để người dân ven biển có thể tiếp cận được với mọi loại thực phẩm

Đưa ngành thuỷ sản trở thành một ngành kinh tế được công nghiệp hoá và hiện đại hoá có luận cứ khoa học chắc chắn cho phát triển và áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại, tiên tiến nhằm không những tạo ra hiệu quả kinh tế cao, phát huy những lợi thế

so sánh mà còn góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Xây dựng một ngành thuỷ sản được quản lý tốt nhằm đạt được sự phát triển ổn định, bền vững cho hiện nay và trong tương lai

Các chỉ tiêu qui hoạch phát triển chung

Phương án 1

Đề mục Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 I- Tổng sản lượng (tấn) 1.900.000 2.200.000 2.580.000 Trong đó :

Trang 35

- Sản phẩm khác 40.000 50.000 100.000

2 Sản lượng khai thác (tấn) 1.200.000 1.200.000 1.200.000

- Khai thác gần bờ 870.000 800.000 700.000

- Khai thác xa bờ 330.000 400.000 500.000 Bao gồm :

II- Giá trị kim ngạch xuất

khẩu (triệu USD)

Phương án 2

I- Tổng sản lượng (tấn) 1.900.000 2.400.000 3.070.000 Trong đó :

II- Giá trị kim ngạch xuất

khẩu (triệu USD)

Phương án 3

I- Tổng sản lượng (tấn) 1.900.000 2.450.000 3.400.000 Trong đó :

1 Sản lượng nuôi (tấn) 700.000 1.150.000 2.000.000

- Cá nước ngọt 410.000 600.000 870.000

Trang 36

II- Giá trị kim ngạch xuất

khẩu (triệu USD)

Không tăng sản lượng khai thác nhiều trong thời kỳ 2000-2010 giữ mức từ 1.200.000-1.400.000 tấn/năm (trong đó, khai thác cá, tôm, mức khoảng 1,3 triệu tấn, nhuyễn thể 100.000 tấn) Tăng nhanh sản lượng nuôi trồng thuỷ sản từ 10-13%/năm

Kim ngạch xuất khẩu tăng với tốc độ trung bình từ 15-20%/ năm, trong đó giai đoạn 2000 - 2005 tăng 20-25%, 2005-2010 là 13- 20%/năm Giá trị xuất khẩu tương ứng là 1,1 tỷ USD năm 2000; 1,8 - 2,0 tỷ USD năm 2005 và 3-3,5 tỷ USD năm 2010

Số lao động trực tiếp và phục vụ cho nghề cá tăng trung bình 2,65%/ năm; 3.400.000 lao động (2000), 3.900.000 lao động (2005)

và 4.400.000 lao động (2010) Trong đó lao động nuôi trồng thủy sản và lao động chế biến thủy sản tăng gấp 2 lần

3 Các định hướng và các hành động

1 Để duy trì và phát triển ngày càng nhiều sản phẩm từ thuỷ hải sản có

giá trị kinh tế cao trong các thị trường trong nước và quốc tế để chống lại sự giảm sút của nguồn lợi biển, tăng khả năng phục hồi tự nhiên của cac nguồn lợi biển nhưng vẫn duy trì được tốc độ phát triển cao cần phải có những hành động sau đây:

1.1 Trong khai thác hải sản

Phân định rõ ràng các ngư trường, khu vực và mùa vụ khai thác, quy hoạch quy mô khai thác cho từng địa phương Quản lý chặt chẽ các ngư trường, nơi sinh sống, môi trường và các giống loài thủy hải sản

Đi đôi với cơ cấu lại lực lượng khai thác ven bờ 1 cách hợp lý, cần phải chuyển dần sang canh tác trên vùng biển ven bờ: vừa khai thác, vừa nuôi, nuôi để khai thác

Trang 37

Khuyến khích và hỗ trợ các cộng đồng ngư dân nuôi biển bằng mọi hình thức, giao cho các cộng đồng nhất định quyền khai thác và nghĩa vụ quản lý, bảo vệ từng vùng ven bờ nhất định Đồng quản lý ở vùng biển từ bờ biển ra đến 6 hải lý

Đối với nghề cá xa bờ cần phải phát triển một cách thận trọng, hợp lý trên cơ sở lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo

1.2 Trong nuôi trồng thủy sản

Lấy phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản, trong đó đặc biệt là nuôi biển, nước lợ phục vụ xuất khẩu làm định hướng chiến lược cơ bản nhất cho thời kỳ 2000-2010

1.3 Trong chế biến và thương mại thủy sản

Mở rộng mặt hàng và thị trường nhằm đa dạng hoá các mặt hàng chế biến cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, lấy đa dạng mặt hàng chế biến, kích thích lại tính đa dạng của sản xuất nguyên liệu và tận dụng sản phẩm của khai thác, lấy chế biến làm cơ sở cho việc nâng cao giá trị các sản phẩm thủy sản

2 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành thủy sản đi theo hướng tạo

được nhiều chỗ làm việc, thu hút nhiều nhân lực

3 Tạo ra một lực lượng chất xám đông đảo trong ngành thủy sản đủ sức

giải quyết các yêu cầu phát triển ngành và có đủ năng lực tham gia vào phân công quốc tế

4 Dựa trên cơ sở đạt tới hiệu quả cao để nâng cao thu nhập cho người

làm nghề cá và tăng sức hấp dẫn của nghề cá

5 Nhanh chóng đưa ngành kinh tế thủy sản từ 1 ngành còn mang nặng

tính chất công nghiệp khai thác nguyên liệu và nông nghiệp sang 1 ngành công nghiệp chế biến, chế tác có trình độ chuyên môn hoá, hợp tác hoá, liên hợp hoá ở trình độ cao

6 Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững cần phải quản lý mọi môi

trường (mặn, lợ, ngọt) và quản lý sự phát triển sao cho các môi trường phát triển một cách ổn định và bền vững

7 Trên cơ sở quy hoạch, sắp xếp bố trí lại các tụ điểm nghề cá theo

hướng đô thị hoá

Trang 38

Khái niệm vùng biển xa bờ trong qui hoạch này là vùng biển tính từ

đường đẳng sâu 30 m trở ra đối với vịnh Bắc bộ, vùng biển Đông, Tây Nam

bộ và đường đẳng sâu 50 m nước trở ra đối với vùng biển Trung bộ

1.1 Chiến lược hành động phát triển nghề khai thác hải sản

Tiến hành qui hoạch và quản lý phát triển nghề khai thác hải sản theo khu vực và địa phương một cách hợp lý trên cơ sở bền vững của nguồn lợi và hiệu quả kinh tế

Tiến hành sắp xếp lại nghề cá ven bờ một cách hợp lý, phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản biển và các ngành nghề khác trong các cộng đồng ngư dân để chuyển một phần lao động đánh cá sang hoạt động ở các lĩnh vực khác

Tiến hành xây dựng hệ thống và qui trình quản lý nghề cá với sự tham gia trực tiếp của ngư dân và các cộng đồng

Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại phục vụ cho nghề khơi, tăng cường sự hỗ trợ của Nhà nước cho nghề cá thương mại

Tăng cường các hệ thống dự báo, cảnh báo, cứu nạn, bảo hiểm 1.2 Các phương án qui hoạch

1.2.1 Phương án I

Cơ cấu phân bố sản lượng khai thác hải sản theo tuyến :

Tổng sản lượng khai thác : 1.200.000 tấn

ư Khai thác gần bờ : 700.000 tấn

ư Khai thác xa bờ : 500.000 tấn

Trong đó :

Cá : Tổng sản lượng : 1.050.000 tấn

ư Khai thác gần bờ : 600.000 tấn

ư Khai thác xa bờ : 450.000 tấn

Mực : Sản lượng khai thác : 70.000 tấn

ư Khai thác gần bờ : 30.000 tấn

ư Khai thác xa bờ : 40.000 tấn

Trang 39

Tôm : Sản lượng khai thác : 30.000 tấn

ư Khai thác gần bờ : 20.000 tấn

ư Khai thác xa bờ : 10.000 tấn

Hải sản khác : 50.000 tấn

ư Khai thác gần bờ : 50.000 tấn

Sản lượng cá nổi và cá đáy theo tuyến :

Sản lượng khai thác vùng gần bờ : 600.000 tấn

ư Sản lượng cá nổi đại dương : 100.000 tấn

Chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp

Giảm số lượng các nghề kéo tôm, rớ, đăng đáy ở cửa sông để giảm sản lượng khai thác hải sản ven bờ Tăng thêm các nghề lưới kéo cá đôi, lưới kéo cá đơn, lưới vây, câu khơi và rê thu ngừ để nâng sản lượng khai thác xa bờ 20.000 tấn/năm, đồng thời giảm sản lượng khai thác hải sản gần bờ 20.000 tấn/năm

1.2.2 Phương án II

Cơ cấu phân bố sản lượng khai thác hải sản theo tuyến

Tổng sản lượng khai thác : 1.400.000 tấn

ư Khai thác gần bờ : 700.000 tấn

ư Khai thác xa bờ : 700.000 tấn

Trong đó :

Cá : Sản lượng khai thác : 1.185.000 tấn

ư Khai thác gần bờ : 600.000 tấn

ư Khai thác xa bờ : 585.000 tấn

Mực : Sản lượng khai thác : 115.000 tấn

Trang 40

Khai th¸c gÇn bê : 30.000 tÊn

Khai th¸c xa bê : 85.000 tÊn

Ngày đăng: 18/03/2014, 04:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Tương quan giữa công suất và số lượng tàu thuyền - Quy hoạch tổng thề phát triển kinh tế- xã hội ngành thủy sản thời kỳ 2000-2010 potx
Sơ đồ 1 Tương quan giữa công suất và số lượng tàu thuyền (Trang 8)
Sơ đồ 4: Tương quan giữa năng suất và số tàu thuyền - Quy hoạch tổng thề phát triển kinh tế- xã hội ngành thủy sản thời kỳ 2000-2010 potx
Sơ đồ 4 Tương quan giữa năng suất và số tàu thuyền (Trang 10)
Hình thức nuôi thủy sản chủ yếu ở các nặt n−ớc lớn sẽ là nuôi lồng bè. - Quy hoạch tổng thề phát triển kinh tế- xã hội ngành thủy sản thời kỳ 2000-2010 potx
Hình th ức nuôi thủy sản chủ yếu ở các nặt n−ớc lớn sẽ là nuôi lồng bè (Trang 54)
Hình thức nuôi: nuôi trong lồng Vănà nuôi ở các đầm phá, áng, vịnh. - Quy hoạch tổng thề phát triển kinh tế- xã hội ngành thủy sản thời kỳ 2000-2010 potx
Hình th ức nuôi: nuôi trong lồng Vănà nuôi ở các đầm phá, áng, vịnh (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w