Một trong những vấn đề đó là việc phát triển và quản trị tài sản vô hình, cùng với loại hình đặc biệt của nó là quấn sở hữu nghệ vào các ngành kỹ thuật công nghệ cao cũng như vào các
Trang 2DOAN VĂN TRƯỜNG
CÁC PHƯƠNG PHÁP
THẤM ĐỊNH GIÁ
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
HÀ NỘI
Vv 20
Trang 3Chịu trách nhiệm xuất bản : PGS.TS Tô Đăng Hải
Biên tập : ThS Vũ Thị Minh Luận
Trình bày bìa : Huong Lan
NHA XUAT BAN KHOA HOC VA KY THUAT
70 - Trần Hưng Dao, Ha Nội
In 400 cuốn, khổ 14,5 x:20.5cm tai Cong ty TNHH Bao bì & In Hải Nam Quyết định xuất bản số: 75- 2007/CXB/45I-02/KHKT In xong và nộp lưu chiểu tháng
10 nam 2007
Trang 4Lời nói đầu
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại hình đặc biệt của tài sản
vô hình Do tình trạng đặc biệt của chúng, quyển sở hữu trí tuệ được hưởng sự công nhận và sự bảo vệ đặc biệt của pháp luật Các tài sản vô hình thường được tạo ra trong tiến trình thông thường của các hoạt động kinh doanh Còn quyền sở hữu trí tuệ được tạo ra bởi trí tuệ hoặc những hoạt động gây cảm hứng của
con người, những hoạt động như vậy là riêng biệt và có ý thức sáng tạo
"Trong xu hướng phát triển của kinh tế thị trường thế giới hiện nay, có nhiều vấn để mới mang ý nghĩa kinh tế ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh đoanh của doanh nghiệp cũng như sự tăng trưởng của các quốc gia Một trong những vấn đề đó là việc phát triển và quản trị tài sản
vô hình, cùng với loại hình đặc biệt của nó là quấn sở hữu
nghệ vào các ngành kỹ thuật công nghệ cao cũng như vào các
ngành sản xuất truyền thống Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức, hàm lượng chất xám trong mỗi một
Trang 5sản phẩm ngày một gia tăng, trở thành cấu phần quan trọng quyết định giá trị của sản phẩm Điều này thúc đẩy các nước, các công ty xuyên quốc gia tích cực đầu tư cải tiến công nghệ nhằm nâng cao hàm lượng trị thức trong mỗi sản phẩm của
mình
Ngày nay, các công ty quản lý tốt tài sản vô hình và quyền
sở hữu trí tuệ sẽ chiếm được vị trí lãnh đạo về quyển lực kinh
tế Thế giới kinh doanh dang phân chia thành hai loại công ty:
có quyền sở hữu trí tuệ và không có quyền sở hữu trí tuệ Nếu không có quyền sở hữu trí tuệ độc quyển, một công ty phải sản xuất khối lượng lớn hàng hóa hoặc chế tạo cho người khác như
là người đi làm thuê, hoặc là chỉ có được sự tăng trưởng chậm chạp và lợi nhuận thấp Chỉ có quyền sở hữu một kỹ thuật tiên tiến hoặc một nhãn hiệu nổi tiếng mới có thể cứu công ty khối địa vị thấp kém
Ngày nay, các doanh nghiệp Việt Nam chỉ bằng cách thay
đổi tư duy nhận thức, biết tận dụng các lợi thế mà quyền sở hữu
trí tuệ có khả năng mang lại cho doanh nghiệp, mới có thể đi
trên con đường phát triển hiệu quả nhất và ngắn nhất cho phép Việt Nam hòa nhập với nhịp sống chung của kinh tế khu vực, kinh tế thế giới, mở rộng xuất khẩu, được hưởng các quy chế tối huệ quốc, và không bị phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại quốc tế
Trong một vài năm gần dây, vấn để phát triển và quản trị tài sản vô hình, cũng như thực thi quyển sở hữu trí tuệ đã được
sự quan tâm đặc biệt của pháp luật Việt Nam Luật sở hữu trí tuệ đã được Quốc hội nước ta thông qua ngày 29-11-2005 và có
hiệu lực từ ngày 01-07-2006 Do đó nghiên cứu về thẩm định giá
quyền sở hữu trí tuệ là một việc làm rất cần thiết đối với nước
ta trong giai đoạn hiện nay Sau khi đã xuất bản các cuốn sách 4
Trang 6về thẩm định giá trị tài sản bao gồm: “Các phương pháp thẩm định giá trị tài sản” năm 1997; “Các phương pháp thẩm định giá trị bất động sản” năm 2000; “Các phương pháp thẩm định giá trị máy móc thiết bị” năm 2003; “Các phương pháp xác định giá trị tài sản vô hình” năm 2005; và “Tuyển tập các phương
pháp thẩm định giá trị tài sản” năm 2007, chúng tôi tiếp tục
cho ra mắt bạn đọc cuốn sách “Các phương pháp thẩm định giá
quyển sở hữu trí tuệ” nhằm cung cấp cho bạn đọc kiến thức chuyên môn về kỹ thuật thẩm định giá quyển sở hữu
trí tuệ
Do chưa có nhiều về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam nên chắc chắn còn một số vấn đề cần phải thảo luận, phát triển để hoàn thiện nội dung của cuốn sách Tác giả rất mong được bạn đọc góp nhiều ý kiến xây dựng
Thư từ góp ý xin gửi về Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 70 Trần Hưng Đạo — Hà Nội
Tác giả
Trang 7Chuong I
NGHIEN CUU LY LUAN CHUNG
VỀ TÀI SẢN VÔ HÌNH
Tài sản cố định vô hình là những tài sẵn có giá trị lớn, thời
gian hữu ích lâu dài, có hình thái biểu hiện rất đa dạng Nền
kinh tế thị trường càng phát triển thì chủng loại của tài sản cố
định vô hình càng phong phú
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại hình đặc biệt của tài sản
vô hình Do đó, trước tiên chúng ta cần nghiên cứu một số lý luận chung về tài sản vô hình để có cơ sở đi sâu vào nghiên cứu
về quyền sở hữu trí tuệ
I NHỮNG TIÊU CHÍ ĐỂ NHẬN DẠNG MỘT TÀI SẢN VÔ HÌNH Giá trị vô hình của các doanh nghiệp là một đại lượng có thật, có thể tính toán được và trong nhiều trường hợp nó có giá
trị rất lớn, thậm chí lớn hơn rất nhiều giá trị hữu hình của doanh nghiệp Ngày nay, khái niệm tài sản vô hình đã trở thành một thực tế khách quan, tổn tại và hiện hữu trong kế toán thương mại; và chỉ có các công ty biết xây dựng một chiến lược tốt để phát triển và quản trị tài sản vô hình thì mới có thể
7
Trang 8tốn tại và phát triển Chính vì vậy việc biết cách nhận đạng một tài sản vô hình và xác định được giá trị của nó là điều rất cần thiết đối với các doanh nghiệp
1 Những hiện tượng kinh tế có đủ tư cách là tài sản vô hình Đối với một tài sản vô hình, để tổn tại, nó cần phải có một
số đặc tính hoặc tính chất cần thiết sau:
(1) Có được sự nhận đạng cụ thể và sự miêu tả có thể chấp
nhận được
(2) Có sự tổn tại pháp lý và sự bảo vệ
(3) Có quyền sở hữu tư nhân, và sở hữu tư nhân đó có thể
chuyển giao được
(4) Có một số chứng cứ hữu hình chứng tỏ sự tổn tại của
tài sản vô hình (Thí dụ: hợp đồng, giấy phép, tài liệu đăng ký,
danh sách khách hàng, tập hợp các công bố tài chính, )
(6) Phải được tạo ra hoặc tên tại ở một thời gian có thể nhận biết được hoặc như là kết quả của một sự kiện có thể nhận biết được
(6) Phải bị phá hủy hoặc kết thúc tôn tại ở một thời điểm
có thể nhận biết được hoặc như là kết quả của một sự kiện có
thể nhận biết được
Trước tiên, một tài sản vô hình nên có quyển sở hữu, khi có quyền sở hữu nó sẽ trở nên có khả năng để nhận dạng Với một tài sản vô hình, cần có một sự miêu tả chắc chắn và rõ ràng
rằng sẽ nhận dạng tài sản vô hình cụ thể như một tài sản duy
nhất Tất nhiên, các tài sản vô hình không thể dễ dàng lượng hóa được.
Trang 9Nếu một tài sản không thé nhận dạng và miêu tả cụ thể, thì tài sản đó không đủ tiêu chuẩn là một tài sản vô hình Tài sản đó có thể là một ý nghĩ hoặc khái niệm; nó có thể trở thành một tính chất, một đặc tính, hoặc một bộ phận của tài sẵn; nhưng tự nó không có đủ tiêu chuẩn như một tài sản
vô hình
Đối với một tài sản vô hình, để có đủ tiêu chuẩn quyền sở hữu, nó cần chiếm hữu các quyển pháp lý của quyền sở hữu Nó cần hưởng tất cả các quyền pháp lý, các lợi ích và các đặc quyền của quyền sở hữu Trong số các quyền đó là quyển của chủ sở hữu để khiếu nại về quyển sở hữu và để bảo vệ các quyền đó trước tòa án Thí dụ, chủ sở bữu của một tài sản vô hình, giống như chủ sở hữu của các loại quyền sở hữu khác, cần có khả năng yêu cầu tòa án xét sử sự phá hủy tài sẵn do hành động của bên khác gây ra Chủ sở hữu tài sản vô hình cũng có khả năng tìm kiếm sự bảo vệ tài sẵn từ các hành động phạm pháp của
bên khác (thí dụ như là bị người khác đánh cắp)
Tương tự, chủ sở hữu của một tài sẵn vô hình phải chịu trách nhiệm giống như bất kỳ chủ sở hữu quyển tài sản nào khác Thí dụ, chủ sở hữu của một tài sản vô hình có thể chịu thuế và các quyền khác của Chính phủ Hơn nữa, chủ sở hữu tài sản vô hình phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với việc phá hủy tài sản của bên khác gây ra bởi tài sản vô hình
Một trong các quyển cơ bản nhất của tài sản là quyền sở hữu tư nhân và sở hữu đó có thể chuyển giao được Tính chất đó cũng áp dụng đối với các tài sản vô hình, tài sản vô hình nên thuộc sở hữu tư nhân và sở hữu tư nhân nên có khả năng chuyển giao tới chủ sở hữu mới Cũng lưu ý rằng điều kiện đó không có nghĩa là tất cả các tài sản vô hình phải được chuyển
9
Trang 10giao riêng biệt và độc lập khỏi tất cả các quyền sở hữu khác Trong thực tế, một số tài sản vô hình là loại chuyển giao riêng biệt và độc lập với quyển sở hữu khác, và một số khác là loại chuyển giao như một bộ phận của quyền sở hữu (nghĩa là, hai
hoặc nhiều hơn tài sản vô hình chuyển giao tập thể hoặc các tài
sản vô hình chuyển giao với tài sản hữu hình) Tuy nhiên, không chú ý đến dạng hoặc cơ cấu chuyển giao, chủ sở hữu pháp
lý của tài sản vô hình có thể thực hiện việc chuyển giao tài sản tới người khác
Đặc tính tiếp theo của tài sẵn vô hình là sự tổn tại không
trực tiếp rõ ràng Đó là, có một số chứng cứ hữu hình cho sự tồn
tại của một tài sản vô hình
Đặc biệt, tất cả các quyển sở hữu là vô hình (nhưng không thể nói rằng tất cả các quyển sở hữu là tài sản vô hình) Tuy nhiên, để có khả năng bắt buộc thực hiện, các quyền sở hữu nên
có một số tài liệu hữu hình Những cái đó có thể là hỗ sơ, danh
sách, bản vẽ, sơ đổ, hợp đồng, giấy phép, tài liệu, bức thư, đĩa
máy tính, bản in máy tính, hoặc một số chứng cứ có thể sờ mó được chứng minh rằng tài sản vô hình có tồn tại
Thí dụ, tài sản vô hình các mối liên hệ khách hàng có thể
hàng mua lịch sử, v.v Giấy phép nhượng quyển, giấy phép, và các quyền hợp đồng khác được chứng minh bởi một hợp đồng
hoặc một thỏa thuận bằng văn bản khác Nhãn hiệu, bằng sáng
chế và bản quyền có chứng cứ bởi các tài liệu có đăng ký bằng văn bản Tài sản vô hình lực lượng lao động có chứng cứ bởi danh sách người lao động, các hồ sơ cá nhân Tài sản vô hình quyền sở hữu kỹ thuật (còn được gọi đơn giản là “bí quyết”) được chứng minh bởi bản vẽ, bản in, biểu đổ, sổ ghi chép, hoặc các
Trang 11bản ghi nhớ Tài sản vô hình uy tín và tài sản vô hình giá trị
đang kinh doanh phát đạt có thể được chứng minh bởi các báo cáo tài chính và tài liệu công ty
Một tài sản vô hình nên có một ngày sinh Giống như bất
kỳ loại tài sản nào khác, một tài sản vô hình bắt đâu tên tại ở một thời điểm nhất định Giống như nhiều loại tài sản khác,
một tài sản vô hình có thể được tạo ra hoặc phát triển trên một
giai đoạn thai nghén lâu dài Và, cũng giống như nhiều loại tài sản khác, một tài sản vô hình có thể phát triển hoặc thay đổi theo thời gian Tuy nhiên, tất cả các tài sản vô hình phải tồn tại
ở một thời điểm cụ thể
Thông thường, ngày thực sự tạo ra tài sản vô hình (hoặc
ngày sinh) là quan trọng đối với phân tích thời gian ngắn Trong trường hợp đó, một phương pháp hữu ích cho việc thiết lập ngày
tạo ra tài sản vô hình là ngày có được tài liệu hữu hình về sự tôn tại của tài sản vô hình thường cung cấp một chỉ dẫn hữu ích của ngày tạo ra tài sản vô hình
Nếu một tài sản vô hình bất đầu tên tại ở một thời điểm cụ thể, thì nó phải thoát khỏi sự tên tại ở một thời điểm cụ thể
Điều đó không phải để nói rằng người chủ sở hữu tài sản vô hình cần có kế hoạch cho sự chết của tài sản vô hình Người chủ
sở hữu tài sản vô hình có thể hy vọng rằng tài sản vô hình có
thể tổn tại không hạn định Tương tự như người chủ sở hữu một
ngôi nhà có thể hy vọng rằng tài sản cố định sẽ tồn tại không hạn định Người chủ sở hữu tài sản vô hình không thể biết trước khi nào tài sản vô hình sẽ chết, và người chủ sở hữu của ngôi nhà cũng không thể biết trước khi nào bất động sản sẽ chết Tuy nhiên, cả hai loại tài sản, tài sản vô hình và bất động sản, sẽ chấm đứt sự tổn tại ở một thời điểm trong tương lai
11
Trang 12Cũng như đối với các loại tài sản khác, một số lượng bất kỳ các sự kiện có thể gây ra hoặc ảnh hưởng đến việc không tổn tại của một tài sản vô hình Danh sách không cạn kiệt của các sự kiện chứng minh bao gồm: sự hết hạn của một hợp đồng, của một giấy phép nhượng quyền hoặc của một nhãn hiệu hoặc giai đoạn đăng ký phát minh; sự thay thế một tài sản vô hình với
một tài sản vô hình mới hơn; các hành động của cơ quan Chính
phủ hoặc tòa án; hoặc sự chấm dứt của các hoạt động kinh doanh Trong bất kỳ trường hợp nào, tất cả các nguyên nhân gây ra sự mất đi của một tài sản vô hình có thể gắn liền với một
,sự kiện có thể nhận dạng được
2 Những hiện tượng kinh tế không đủ tư cách là tài sản vô hình Những hiện tượng kinh tế không đáp ứng những miêu tả
trong phần trên thì không đủ tiêu chuẩn để nhận dạng là tài
sản vô hình Điều đó không có nghĩa rằng các hiện tượng kinh
tế đó không tồn tại Nó đơn giản có nghĩa rằng hiện tượng kinh
tế đó không phải là tài sản vô hình
Nhiều hiện tượng kinh tế chỉ miêu tả hoặc tổn tại trong tự
nhiên Các hiện tượng kinh tế đó có thể miêu tả các điều kiện đóng góp đối với sự tôn tại và giá trị của việc nhận dạng các tài
sản vô hình Các yếu tố hoặc các điều kiện đó có thể đóng góp quan trọng đối với sự tổn tại và đối với giá trị của hoạt động
kinh doanh nào đó
Tuy vậy, nhiều phân tích đã nhầm lẫn lịch sử tai san vô hình với “các yếu tố”, “các bộ phận”, “các ảnh hưởng”, hoặc “các điều kiện” vô hình Tương tự, trong một số trường hợp người ta
đã không phân biệt giữa tài sản vô hình và các ảnh hưởng hoặc các yếu tố vô hình Thực tế, các ảnh hưởng và các yếu tố vô hình
Trang 13(2) Khả năng sinh lãi cao
(3) Không có sự điều tiết
(42 Vị trí điều hành (hoặc được bảo vệ)
(5) Vị trí độc quyền (hoặc có các hàng rào lối vào) (6) Tiểm năng thị trường
Œ7) Sự quyến rũ rộng rãi
(8) Không khí thần bí
(9) Tài sản thừa kế hoặc trường thọ
(10) Cạnh tranh thuận lợi
(11) Tình trạng chu kỳ sống
(12) Độc đáo
(13) Giá chiết khấu
(14) lau lượng tiền mặt (hoặc không có tiền mặt) (15) Kiểm soát sở hữu (hoặc thiếu sự kiểm soát) Các yếu tố hoặc các ảnh hưởng vô hình đó không đủ chất lượng để được coi là tài sản vô bình bởi vì chúng thiếu một hoặc nhiều yêu cầu Thí dụ, các yếu tố hoặc các ảnh hưởng đó có thể
không thể chuyển giao được; hoặc chúng có thể không có quyền
sở hữu tư nhân; hoặc chúng không thể được công nhận pháp lý hoặc có sự bảo vệ pháp lý; hoặc có thể không có chứng cứ vô
hình của sự tổn tại của chúng
13
Trang 14Tuy nhiên, trong lúc các điều kiện hoặc các ảnh hưởng đó không đủ chất lượng để được coi như tài sản vô hình, chúng có thể chỉ ra rằng các tài sản vô hình tổn tại có giá trị kinh tế đáng
kể Thí dụ, các điểu kiện và các ảnh hưởng đó có thể chỉ ra sự tôn tại của — và sự đóng góp lớn lao đối với giá trị của — uy tín Trong bất kỳ trường hợp nào, các yếu tố hoặc các ảnh hưởng vô hình có thể trở nên rất quan trọng đóng góp cho giá trị của tài sản vô hình Chúng có thể nâng cao giá trị của tài sản vô hình hoặc bản thân chúng có thể có giá trị Thí dụ, khả năng sinh lãi cao có giá trị (so với khả năng sinh lãi thấp); tiểm năng thị trường có giá trị (so với không có tiểm năng thị trường); và lưu lượng tiền mặt cô giá trị (so với không có tiền mặt)
3 Những hiện tượng kinh tế chỉ ra giá trị cua tai san v6 hình
Có khả năng một tài sản vô hình tên tại và không có các đóng góp cần thiết để có giá trị kinh tế Đối với một tài sản vô
hình có giá trị có thể xác định số lượng từ phân tích kinh tế hoặc đánh giá triển vọng, nó nên chiếm hữu một số đóng góp
hoặc đặc tính bổ sung chỉ ra sự tổn tại pháp lý của vô hình Một
số các đóng góp cộng thêm hoặc các đặc tính mà chỉ ra giá trị
kinh tế to lớn như được miêu tả trong phần sau
Thứ nhất, để một tài sẵn vô hình có giá trị kinh tế, nó cần tạo ra một số lượng có thể đo được về lợi ích kinh tế đối với chủ
sở hữu của nó Lợi ích kinh tế đối với chủ sở hữu có thể dưới
dạng một thu nhập tăng lên hoặc chi phí giảm đi Lợi ích kinh
tế đôi khi được đo bằng sự so sánh giữa tổng thu nhập được tạo
ra bởi tài sản vô hình mục tiêu đối với tổng thu nhập có khả năng sử dụng khác đối với chủ sở hữu nếu tài sản vô hình mục
tiêu không tổn tại Lợi ích kinh tế có thể gồm thu nhập thực
Trang 15H MỐI LIÊN HỆ GIỮA TÀI SẢN VÔ HÌNH VÀ TÀI SẢN HỮU HÌNH
1 Sự khác nhau giữa tài sản vô hình và tài sản hữu hình
Rõ ràng, một tài sản vô hình không phải là tài sản hữu hình Tài sẵn hữu hình có tất cả các quyền và đặc quyền của tài sản Thí dụ, nó có khả năng sở hữu tư nhân và sự bảo vệ pháp
lý Chủ sở hữu của tài sản hữu hình có khả năng chuyển giao hợp pháp Các quyển của tài sản hữu hình có thể được bảo vệ
trong tòa án pháp luật
Thêm vào đó, tài sản hữu hình còn có những đặc điểm nổi bật sau:
(U Một tài sẵn hữu hình cần có sự tổn tại vật lý và có kiểu
lỗ
Trang 16Cho đến nay, sự phân biệt giữa tài sản vô hình và tài sản hữu hình là không đứt khoát, bởi vì một trong những điều kiện cho sự tổn tại của tài sản vô hình là một số chứng cứ hữu hình của tài sản vô hình Vậy cái gì là sự khác nhau cuối cùng giữa tài sản vô hình và tài sản hữu hình ? Chắc chắn đấy không phải
là sự khác nhau về vật lý Mọi người biết chắc rằng có thể sờ mó
và nhìn thấy máy móc thiết bị, xe tải và xe ô tô, đất đai và nhà cửa, tất cả các cái đó là tài sản hữu hình Người ta cũng chắc chắn rằng có thể sờ mó và nhìn thấy một hợp đồng, một giấy phép, một hiệp định nhượng quyền, một bản vẽ thiết kế, một
danh sách mật mã máy tính, một chương trình của máy tính, một đăng ký nhãn hiệu, một số tay ghi chép phòng thí
nghiệm, và tất cả các cái đó cũng là tài sản hữu hình? Rõ
ràng, chúng ta có thể nhìn thấy những biểu lộ hữu hình của các tài sản vô hình đó: Các biểu lộ đó là có thể sờ mó được, vật chất
và có thể nhìn thấy được Các biểu lộ đó là bộ phận quan trọng trong việc tạo ra giá trị của tài sản vô hình bởi vì nếu không có các biểu lộ hữu hình, các tài sản vô hình không tổn tại, mà chúng ta đã biết, một tài sản không tổn tại thì không có giá trị
Sự khác nhau quan trọng giữa tài sản vô hình và tài sản
Trang 17vô hình
Thứ hai, giá trị của các tài sản vô hình tạo ra từ các yếu tố
vô hình hoặc các ảnh hưởng đã thảo luận ở phần trước Các yếu
tố và ảnh hưởng như là bí mật, lôi cuốn rộng rãi, duy nhất và đóng góp thúc đẩy cạnh tranh đối với giá trị của tài sản vô hình Một số yếu tố hoặc ảnh hưởng tiêu biểu tác động đến tài sản vô
hình, như là khả năng sinh lãi cao, thị phần lớn, và sự thừa kế
hoặc sự trường thọ
Tóm lại, giá trị của tài sản vô hình không đến từ, và không tích lũy đối với tài liệu mà nó được in ra Tài liệu (hoặc bản vẽ hoặc phần mềm máy tính) có thể được copy và tái sản xuất Hơn nữa, giá trị của một tài sản vô hình đến từ các quyền sở hữu
gắn liền với giá trị vô hình và các yếu tố vô hình tác động đến
nó và các ảnh hưởng vô hình mà bị nó tác động
2 Mối liên hệ giữa tài sẵn vô hình và tải sản hữu hình
Các tài sản hữu hình thường được yêu cầu để thấy rõ đầy
đủ giá trị (hoặc khả năng sản xuất — thu nhập) của các tài sản
vô hình Thí dụ, bạn phải có phần cứng của máy tính (một tài sản hữu hình) để khai thác có hiệu quả những tác động tích cực của phần mềm máy tính (một tài sản vô hình) Vốn công tác (và các tài sản tiền tệ khác) và máy móc thiết bị thường là cần thiết
_Phuban
Trang 18cho tính thương mại của các tài sản vô hình (thí dụ như bằng phát minh, nhãn hiệu, bản quyền, uy tín )
Điều đó không nói lên rằng các tài sản vô hình không có giá trị riêng biệt và tách rời khỏi giá trị của các tài sản hữu
hình Làm thế nào các tai sản vô hình có thể chiếm hữu một giá
trị bởi bản thân chúng, và vẫn còn yêu cầu sử dụng các tài sản hữu hình hoặc các tài sản tài chính để nhận được đầy đủ giá trị của chúng ? Câu trả lời là các chủ sở hữu tài sản vô hình không cần thiết sở hữu các tài sản hữu hình mà được sử dụng để khai thác giá trị vô hình Trong thực tế, chủ sở hữu tài sản vô hình không cần sở hữu bất kỳ tài sản nào — ngoại trừ tài sản vô hình Thí dụ, chủ sở hữu của nhà máy và thiết bị có thể cấp phép
sử dụng tài sản vô hình mục tiêu (như là nhãn hiệu, bằng phát
minh, phan mém ) Chủ sở hữu tài sản vô hình nhận được thu nhập bản quyền Điều đó tạo ra giá trị cho chủ sở hữu tài sản vô hình Trong trường hợp đó, chủ sở hữu tài sản vô hình không cần sở hữu bất kỳ tài sản hữu hình nào Tương tự, chủ sở hữu của các tài sản hữu hình có thể khai thác giá trị của (nghĩa là đầu tư vào) các tài sản hữu hình qua sử dụng (qua giấy phép) của tài sản vô hình mục tiêu Trong thực tế, qua sự tổ hợp của các tài sản hữu hình (như nhà máy và thiết bị) và các tài sản vô hình (như giấy phép phát minh hoặc công thức sản xuất), chủ
sở hữu tài sản hữu hình có thể phát triển một tài sản vô hình mới (như là các hợp đồng khách hàng hoặc các mối liên hệ, giá
trị nhãn hiệu, uy tín, )
Tất nhiên, chủ sở hữu tài sản vô hình có thể nhận thấy giá trị của tài sản vô hình mục tiêu trực tiếp (đối nghịch với gián tiếp qua hiệp định giấy phép) không phải thực hiện đầu tư quan trọng trong tài sản hữu hình Thí dụ, chủ sở hữu vô hình có thể thuê nhà máy và thiết bị yêu cầu (như chủ sở hữu tài sản hữu
Trang 19
hình có thể thuê tài sản vô hình yêu cầu) Vấn để là chủ sở hữu tài sản vô hình có thể nhận được giá trị của vô hình mục tiêu qua sử dụng các tài sản hữu hình, không cần sở hữu các tài sản
thiết bị sản xuất) Bên C có thể có giấy phép vô hình từ bên A
và thuê máy móc thiết bị từ bên B Trong trường hợp đó, tài sản
vô hình có giá trị tiêu biểu bởi đòng thu nhập cấp phép bản quyền Các tài sản hữu hình có giá trị tiêu biểu bởi dòng thu nhập cho thuê Chủ sở hữu của tài sản vô hình mục tiêu (bên A) nhận được giá trị không cần sở hữu bất kỳ tài sản hữu hình
nào Bên C đã tạo ra một tổ chức kinh doanh (và có lẽ đã tạo ra
các tài sẵn vô hình bổ sung) mà không có việc sở hữu tài sản vô hình hoặc các tài sản hữu hình nào Trong điều khoản về kinh
tế, bên C đã phối hợp thêm vào (như là quân lý hoặc điều hành chuyên môn) mà không có vốn (như là các tài sản hữu hình hoặc các tài sản tài chính) đối với công việc kinh doanh giả thiết đó
Tóm lại, các tài sản vô hình có giá trị riêng biệt và tách
khỏi các tài sản hữu hình, ngay cả khi tài sẵn vô hình có thể (ở một số điểm trong tiến trình thương mại) đòi hỏi sử dụng các tài sản hữu hình để nhận được đầy đủ giá trị của nó Tương tự, các tài sản hữu hình có giá trị riêng biệt và tách rời khỏi các tài sản
vô hình và các tài sản hữu hình khác Đó là sự thực ngay cả mặc dầu các tài sản hữu hình có thể đòi hỏi sử dụng các tài sản
vô hình hoặc các tài sản hữu hình khác để nhận được đầy đủ giá
trị của chúng Thí dụ, phần cứng máy tính (một tài sản hữu
19
Trang 20hình) cần đến phần mềm máy tính (một tài sản vô hình) để nhận được giá trị đầy đủ
Các tài sản vô hình có thể chiếm hữu giá trị riêng biệt của bản thân, và cũng có thể nâng cao giá trị của các tài sản hữu hình mà chúng gắn kết Điều đó không phải nói rằng toàn bộ giá trị của tài sản vô hình sẽ phát xuất từ tài sản hữu hình, cũng không phải toàn bộ giá trị của tài sản hữu hình sẽ phát xuất từ tài sản vô hình
Thí dụ, một mảnh đất có giá trị lớn hơn nếu có một ngôi nhà trên nó Điều đó không có nghĩa rằng toàn bộ giá trị của ngôi nhà sẽ phát xuất từ đất hoặc toàn bộ giá trị của đất sẽ phát xuất từ ngôi nhà Cả hai tài sản đóng góp một phần giá trị, đối với cái khác Đó là, cả hai tài sản đã một phần nâng cao giá trị của cái khác Mối liên hệ giống nhau tổn tại với các tài sản hữu hình và tài sản vô hình
Giá trị tăng thêm đóng góp bởi các tài sản vô hình đối với tài sản hữu hình gắn kết đôi khi được gọi là giớ trị trong sử
dung (in-use value) hoặc giá trị đang làm ăn phát đạt (going — concern value) cia gia tri tai san hitu hình Giá trị tăng thêm đó
đôi khi là thước đo sự khác nhau giữa giá trị trong sử dụng của
các tài sản hữu hình và giá trị trong trao đổi của các tài sản hữu hình
Giá trị đóng góp của các tài sản vô hình nhận thấy được đối với các tài sản hữu hình liên kết đôi khi được gọi là sự nâng cao Đó là, các tài sản vô hình thường nâng cao giá trị của các tài sản hữu hình mà chúng liên kết Tương tự, các tài sản hữu hình thường nâng cao giá trị của các tài sản vô hình mà chúng liên kết
Trang 213 Phân loại chung tài sản vô hình
Các nhà kinh tế và các nhà định giá phân loại tài sản vô hình thành một số loại riêng biệt Sự phân loại tài sản vô hình
đó được làm với mục đích chung để nhận dạng và phân loại tài
sản Các tài sản vô hình thường được nhóm trong một số loại khi các phương pháp thẩm định giá giống nhau là có khả năng
áp dụng cụ thể đối với nhóm tài sản đó
Sự phân loại chung của tài sản vô hình như sau:
(1) Các tài sản vô hình liên quan đến marketing (như
thương hiệu, tên kinh doanh, nhãn hàng, lôgô)
(2) Cac tài sản vô hình liên quan đến kỹ thuật (như là
phương thức phát minh, sự áp dụng phát minh, tài liệu kỹ
thuật, số ghi chép của phòng thí nghiệm, bí quyết kỹ thuật) (3) Các tài sản vô hình liên quan đến mỹ thuật (như các tác phẩm văn hóa và bản quyền, sáng tác âm nhạc, bản quyền, bản dé, ban khắc)
(4) Các tài sản vô hình liên quan đến xử lý đữ liệu (như phần mềm máy tính độc quyền, bản quyền phần mềm, dự trữ số
liệu trong máy tính tự động hóa)
(5) Các tài sản vô hình liên quan đến ngành kỹ thuật ứng đụng công nghệ (như thiết kế công nghiệp, phát minh sản phẩm, bí mật thương mại, bắn vẽ và các kế hoạch kỹ thuật ứng dụng công nghệ, bản đồ chỉ tiết, tư liệu độc quyền)
(6) Các tài sản vô hình liên quan đến khách hàng (như
danh sách khách hàng, hợp đồng khách hàng, đơn mua hàng
md)
21
Trang 22(7) Các tài sản vô hình liên quan đến hợp đồng (như hợp đồng nhà cung cấp ưa chuộng, hiệp định cho thuê, hiệp định
nhượng quyền, thỏa thuận không cạnh tranh)
(8) Các tài sản vô hình liên quan đến vốn con người (như
tập hợp lực lượng lao động được huấn luyện, hiệp định lao động,
hợp đồng liên kết)
(9) Các tài sản vô hình liên quan đến địa điểm (như các quyền lợi của hợp đồng cho thuê, quyền khai thác khoáng sản, quyền sử dụng đất, quyền đối với không khí, quyền đối với nước) (10) Các tài sản vô hình hên quan đến uy tín (như uy tín của tổ chức, uy tín thực tiễn nghề nghiệp, uy tín cá nhân của một nhà chuyên môn, uy tín của người nổi tiếng, giá trị của
doanh nghiệp đang kinh doanh có lãi)
Cũng có khả năng một tài sản vô hình riêng được bao gồm
trong nhiều hơn một loại Thí dụ, một phân tích phân loại phát
minh nhu là một tài sản vô hình liên quan đến kỹ thuật, trong
lúc một phân tích khác lại phân loại phát mình giống nhau như
là tài sân vô hình liên quan đến ngành kỹ thuật ứng dụng công
nghệ Tương tự, một phân tích có thể phân loại một hiệp định
lao động như là một tài sản vô hình liên quan đến hợp đồng,
trong lúc phân tích khác có thể phân loại hiệp định giống nhau
như là tài sản vô hình liên quan đến vốn con người Cần lưu ý rằng đây chỉ là sự phân loại chung
Cũng cần lưu ý rằng một số loại tài sản vô hình có thể bao gồm loại tài sản vô hình đặc biệt là quyển sở hữu trí tuệ được trình bầy riêng trong chương Ï1
Trang 23Chuong II
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
I KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Sở hữu trí tuệ là tài sản đặc biệt do trí óc con người tạo ra,
là sản phẩm của trí tuệ con người Các tài sản này liên quan đến những thông tin mà có thể được thể hiện bằng các vật thể hữu hình với số lượng bản sao không hạn chế, ở cùng một thời
điểm, và ở các địa điểm khác nhau trên thế giới Quyển sổ hữu
trong trường hợp này không phải là quyền sở hữu bản thân các bản sao, mà chính là những thông tin chứa đựng trong bản sao
đó Quyển sở hữu đối với các tài sản này gọi là quyển sở hữu
trí tuệ
Luật sở hữu trí tuệ quy định về: “quyền sở hữu công nghiệp”,
“quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả ”, “quyên đối với
giống cây trồng” và việc bảo hộ các quyền đó
23
Trang 241.1 Sở hữu công nghiệp
Lãnh vực sở hữu công nghiệp bao gồm các đối tượng sau: Sáng chế
Sáng chế là giải pháp kỹ thuật đưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn để xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên (Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam,
ban hành 12-12-2008)
Có thể hiểu chung sáng chế là một ý tưởng của tác giả cho phép giải quyết trên thực tế một vấn đề cụ thể trong lĩnh vực công nghệ Sáng chế thường liên quan đến sản phẩm (cơ cấu, chất) và quy trình (phương pháp)
Sáng chế được bảo hộ bởi patent (ở nước ta gọi là bằng độc quyển sáng chế) Patent được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, trên cơ sở đơn do người có sáng chế đó nộp cho cơ quan có thẩm quyển, nếu sáng chế đã được tạo ra đáp ứng các yêu cầu của pháp luật Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp bằng độc quyển sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;
- Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các
hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh
doanh, chương trình máy tính;
- Cách thức thể hiện thông tin;
Trang 25- Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;
- Giống thực vật, giống động vật;
- Quy trình sẵn xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản
chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh;
- Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho
người và động vật
Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày
nộp đơn đăng ký sáng chế, hoặc trước ngày ưu tiên trong trường
hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên
Sáng chế được col là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào
các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai dưới hình thức
sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc
trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp
đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên Sáng chế đó được coi là có bước tiến sáng tạo, nếu nó không thể được tạo ra một cách đễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh
sở hữu công nghiệp Theo Công ước Pari, nếu một sáng chế đã
25
Trang 26được nộp đơn ở một nước thành viên của Công ước này và sau
đó, trong vòng 12 tháng tính từ ngày nộp đơn đầu tiên, được chính người nộp đơn này (hoặc người thừa kế hợp pháp) nộp sáng chế đó ở nước thành viên khác, sẽ có quyền ưu tiên so với tất cả các đơn của người nộp đơn khác nộp cho chính sáng chế này ở nước thành viên đó
Một khi patent đã được cấp, bất kỳ ai muốn khai thác sáng chế dù rằng người đó tạo ra sáng chế này một cách độc lập, không sao chép hoặc không biết đến nó vẫn phải xin phép người
đã được cấp patent hay “chủ patent” Néu không, hành vi d6 bi coi là hành vị vi phạm pháp luật Gọi là “bảo hộ” vì người chủ patent được bảo vệ chống lại việc khai thác sáng chế khi người
đó chưa cho phép
Sự bảo hộ như vậy được giới hạn theo lãnh thổ và theo thời gian Sự bảo hộ theo lãnh thổ có nghĩa là patent chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ quốc gia mà patent đó được cấp Sự bảo hộ theo thời gian có nghĩa là thời gian bảo hộ có giới hạn, theo quy định của luật pháp, cụ thể là theo Hiệp định về những khía cạnh liên quan đến thương mại của quyển sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIP®), thời gian bảo hộ là 20 năm tính từ ngày nộp đơn
Cũng như đối với các tài sẵn khác, có ba quyển đối với tài sản trí tuệ nói chung và sáng chế nói riêng, đó là quyển chiếm hữu, quyển định đoạt và quyển sử dụng Ngoài ra, chủ sở hữu sáng chế còn có các quyển được quy định trong Luật sở hữu trí
tuệ, thường được gọi là “độc quyền khai thác”, với nội dung như
sau:
Đối với các patent cấp cho sáng chế là sản phẩm: quyển ngăn cấm người thứ ba sẵn xuất, sử dụng, chào bán, bán hoặc nhập khẩu sản phẩm chứa sáng chế; và
Trang 27Đối với các patent cấp cho sáng chế là quy trình: quyền
ngăn cấm người thứ ba sử dụng quy trình này; và ngăn cấm
người thứ ba sử dụng, chào bán, bán hoặc nhập khẩu các sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ bởi patent
đã cấp
Tuy nhiên có một số ngoại lệ, đó là:
- Quyển sử dụng trước, theo đó người đã sử dụng sáng chế trước ngày chủ patent nộp đơn tiếp tục được sử dụng sáng chế
đó nhưng không được mở rộng khối lượng, phạm vi áp dụng và
không được chuyển giao quyền sử dụng cho người khác
- Sử dụng sáng chế không nhằm mục đích kinh doanh, như
nhằm mục đích nghiên cứu và giảng dậy;
- Sử dụng sáng chế đã được cấp patent trên phương tiện vận tải quá cảnh chỉ nhằm mục đích duy trì sự hoạt động của
các phương tiện đó;
- Sử dụng vì lợi ích cộng đồng do Nhà nước hoặc người thay mặt cho Nhà nước thực hiện trên cơ sơ của một lixăng không tự nguyện Lï - xăng này được cấp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong các trường hợp: chủ patent không sử dụng hoặc sử dụng sáng chế không đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội mà không có lý do chính đáng; hoặc người có
nhu cầu sử dụng sáng chế đã được cấp patent đã cố gắng hết
sức nhưng chủ patent khăng khăng từ chối ký hợp đồng chuyển
giao quyển sử dụng (¡ - xăng); hoặc sử dụng sáng chế đã được cấp patent nhằm đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh quốc gia, y tế v.v
- Sử dụng sản phẩm do chủ patent, người được chuyển giao quyền sử dụng, người được cấp lixăng không tự nguyện, người
27
Trang 28có quyền sử dụng trước đưa ra thị trường, kể ca thị trường nước
ngoài
bị Giải pháp hữu ích (mẫu hữu ích)
Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp “Bằng độc quyền giải pháp hữu ích” nếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, đối với mẫu hữu ích, tiêu chuẩn bảo hộ thấp
hơn: không có quy định về tiêu chuẩn trình độ sáng tạo hoặc
yêu cầu về trình độ sáng tạo thấp hơn
Thứ hai, thời hạn bảo hộ ngắn hơn;
Thứ ba, lệ phí xác lập quyền và duy trì hiệu lực patent
thường thấp hơn
Ngoài ra, ở một số nước còn có sự khác biệt đáng kể trong thủ tục xác lập quyền; thời hạn xét duyệt ngắn hon và thủ tục đơn giản hơn
c/ Kiểu dáng công nghiệp
Kiéu đáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sẵn phẩm được thể hiện bằng các đặc điểm thẩm mỹ như đường nét, hình khối, mầu sắc hoặc sự kết hợp các yếu tố đó và phải có khả năng được tái tạo bằng phương tiện công nghiệp
Trang 29
Cần lưu ý là sức lôi cuốn ban đầu đối với người tiêu dùng
chính là hình dáng bên ngoài và tính cạnh tranh của kiểu dáng liên quan tới sản phẩm nhờ các đặc điểm thẩm mỹ trực quan rõ rệt, sự tiện dụng, tính năng ưu việt do áp dụng công nghệ Điều này đặc biệt đúng đối với hàng hoá tiêu dùng khi mua hàng Do
đó, muốn hàng hoá cùng chức năng bán chạy các công ty phải tạo ra kiểu dáng đặc thù cho sản phẩm của mình, và phải tiến hành yêu cầu bảo hộ để giữ vững vị trí của mình trên thị trường
Kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ nếu đáp ứng các điều
kiện sau đây:
- Có tính mới;
- Có tính sáng tạo;
- Có khả năng áp dụng công nghiệp
Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa
kiểu dang công nghiệp:
- Hình dáng bên ngoài của sản phẩm do đặc tính kỹ thuật
của sản phẩm bắt buộc phải có;
- Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp;
- Hình dáng của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dựng sản phẩm
Kiểu đáng công nghiệp được coi là có tính mới nếu kiểu dang công nghiệp đó khác biệt đáng kể với những kiểu dáng công nghiệp đã bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô
tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước
hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên
29
Trang 30nếu đơn đăng ký kiểu đáng công nghiệp được hưởng quyền
ưu tiên
Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính sáng tạo nếu căn
cứ vào các kiểu dáng công nghiệp đã được bộc lộ công khai dưới
hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn
hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đang ký kiểu đáng công nghiệp
trong trường hợp đơn được hưởng quyển ưu tiên, kiểu dáng công nghiệp đó không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người
có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng
Kiểu dáng công nghiệp được coi là có khả năng áp dụng
nếu có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt sản phẩm có
hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp đó bằng phương
pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp
Thời hạn bảo hộ theo TRIPS ít nhất là 10 năm, theo luật
pháp Việt Nam thời hạn này là 5 năm tính từ ngày cấp bằng độc quyển kiểu dáng công nghiệp, và có thể được gia hạn liên
tiếp 9 lần, mỗi lần 5 năm
d[ Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (Thiết bế bố trỌ Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết giữa các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn Mạch tích hợp đồng nghĩa với
“TC”, “chip”, và “mạch vi điện tử”
Thiết kế bố trí là sản phẩm sáng tạo của con người Hiện đang có nhu cầu rất lớn về thiết kế bố trí mới có kích thước nhổ gọn, có nhiều chức năng để sử dụng trong các sản phẩm gia dụng như đồng hồ, vô tuyến, điện thoại di động v.v cũng như trong các thiết bị xử lý dữ liệu phức tạp Để tạo ra chúng đòi hỏi
Trang 31phải đầu tư rất lớn về chuyên gia cao cấp và tài chính, trong khi việc sao chép chúng chỉ tốn rất ít tiền nên việc bảo hộ đối tượng này là rất cần thiết
Để được bảo hộ, người có thiết kế bố trí phải nộp đơn cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thiết kế bố trí phải đáp ứng
các tiêu chuẩn sau:
- Có tính nguyên gốc;
- ó tính mới thương mại
Thiết kế bế trí được coi là tính nguyên gốc nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Là kết quả lao động sáng tạo của chính tác giả;
- Chưa được những người sáng tạo thiết kế bố trí và những nhà sản xuất mạch tích hợp bán dẫn biết đến một cách rộng rãi tại thời điểm tạo ra thiết kế bố trí đó
Thiết kế bố trí là sự kết hợp các phần tử, các mối liên kết thông thường chỉ được coi có tính nguyên gốc nếu toàn bộ sự kết
hợp đó có tính nguyên gốc như quy định trong muc (a) va (b)
ở trên
"Thiết kế bố trí được coi là có tính mới thương mại nếu chưa
được khai thác thương mại tại bất kỳ nơi nào trên thế giới trước ngày nộp đơn đăng ký
Văn bằng bảo hộ đối tượng này được gọi là “Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí bị giới hạn theo lãnh thổ và thời
gian (ít nhất là 10 năm)
Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa
thiết kế bố trí:
31
Trang 32- Nguyên lý, quy trình, hệ thống, phương pháp được thực hiện bởi mạch tích hợp bán dẫn;
- Thông tin, phần mềm chứa trong mạch tích hợp bán dẫn Những hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyển của chủ
sở hữu:
- Sao chép, dù bằng cách thể hiện trong một mạch tích hợp
hoặc bằng cách khác, một phần hoặc toàn bộ thiết kế bố trí ngoại trừ hành vi sao chép phần bất kỳ không có tính nguyên gốc;
- Nhập khẩu, bán hoặc các cách phân phối khác nhằm mục đích thương mại
Việc sử dụng thiết kế bố trí đã được đăng ký để đánh giá,
phân tích, nghiên cứu hoặc giảng dậy; hoặc sao chép để tạo ra
một thiết kế bố trí thứ hai, cũng như việc sử dụng thiết kế bố trí
đã được tạo ra một cách độc lập không bị coi là hành vi xâm
phạm quyền của chủ sở hữu
đJ Nhãn hiệu hàng hoá
Nhãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau
Dấu hiệu này được sử dụng trên sản phẩm, tức trên chính sản phẩm đó hoặc trên bao bì chứa sản phẩm khi bán, hoặc được sử dụng, kết hợp với việc tiếp thị sản phẩm, tức là sự xuất hiện dấu hiệu trên quảng cáo (báo chí, truyền hình v.v ) hoặc trong các cửa hiệu nơi bán sản phẩm
Nhãn hiệu liên quan đến dịch vụ được gọi là nhãn hiệu
dịch vụ, đó là các nhãn hiệu được các nhà hàng, khách sạn, các
hãng hàng không, công ty du lịch v.v sử dụng
Trang 33Nói chung, nhãn hiệu hàng hoá có bốn chức năng chính:
phân biệt, chỉ nguồn gốc, chất lượng và khuyến mãi hàng hoá, dịch vụ trên thị trường
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau:
(a) Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ,
hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu
tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
(b) Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ của chủ thể
khác
Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo
thành từ một hoặc một số yếu tố đễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc
từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi
nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ
quan tổ chức đó cho phép;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam và của nước ngoài;
33
Trang 34- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc
tế mà tổ chức đó yêu câu không được sử dụng, trừ trường hop
chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;
- Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng
hoá, dịch vụ
Muốn được bảo hộ, cơ sở sản xuất, kinh doanh có nhãn hiệu phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Sự bảo
hộ mà luật pháp dành cho một nhãn hiệu chủ yếu là việc quy
kết người bất kỳ không phải là người chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu này, hoặc một dấu hiệu tương tự là bất hợp pháp, ít nhất là sử dụng với những sản phẩm mà nhãn hiệu đó
đã đăng ký hoặc với những sản phẩm tương tự với những sản
phẩm này
e/ Chỉ dẫn địa lý
Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu được sử dụng trên sản phẩm mà
có nguồn gốc địa lý đặc biệt và có chất lượng hoặc uy tín do chính nguồn gốc địa lý đó; tức là dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia
cụ thể
Chỉ dẫn địa lý thường bao gồm tên của địa phương sản xuất hàng hoá Các nông sản thường có chất lượng do địa phương sản xuất mang lại, và chất lượng này là do các yếu tố
địa lý đặc biệt quy định như khí hậu và thổ nhưỡng Chỉ dẫn địa lý còn có thể được ghi trên các sẵn phẩm có chất lượng phụ
Trang 35thuộc vào kỹ năng sản xuất và truyền thống, thí dụ như đồng
hồ Thụy Sỹ chằng hạn
Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau
đây:
(a) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ
khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ
đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật
hoặc chuyên gia với phương pháp kiểm tra phù hợp
Các điều kiện địa lý liên quan đến chỉ dẫn địa lý là những yếu tố tự nhiên, yếu tố về con người quyết định danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó Yếu tố tự nhiên bao gồm yếu tố về khí hậu, thuỷ văn, địa chất, địa hình,
hệ sinh thái và các điều kiện tự nhiên khác Yếu tố về con người bao gồm kỹ năng, kỹ xảo của người sản xuất, quy trình sản xuất truyền thống của địa phương
35
Trang 36Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý có ranh giới được xác
- Chỉ dẫn địa lý của nước ngoài mà tại nước đó chỉ dẫn địa
lý không được bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn
được sử dụng;
Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo hộ, nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm;
Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó
fl Tén goi xudt xit
Tên gọi xuất xứ là một dạng đặc biệt của chỉ dẫn địa lý được sử dụng cho sản phẩm có chất lượng đặc biệt hoàn toàn hoặc chủ yếu do môi trường địa lý mang lại, thí dụ như nước mắm Phú Quốc
g/ Tên thương mại
Là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh
doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gợi đó với chủ
thể kinh đoanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có
danh tiếng
Trang 37Tiên thương mại hoặc tên kinh doanh -— là hai thuật ngữ có cùng một nghĩa ~ là tên hoặc tên gọi xác định cơ sở kinh doanh
Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt
chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh
Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng;
Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh
vực và khu vực kinh doanh;
- Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ
trước ngày tên thương mại đó được sử dụng
Những đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại bao gồm: tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội-nghề nghiệp hoặc chủ thể khác không liên quan đến hoạt
động kinh doanh thì không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại
Nói chung, tên thương mại được bảo hộ mà không bắt buộc phải nộp đơn hoặc đăng ký với một cơ quan nhà nước Việc bảo
hộ nói chung có ý nghĩa là cơ sở kinh doanh khác không được sử dụng tên thương mại của một cơ sở kinh đoanh làm tên thương mại hay làm nhãn hiệu hàng hoá/dịch vụ nhằm gây ra sự nhầm
lẫn trong công chúng
h/ Bí mật kính doanh (hay bí mật thương mại)
37
Trang 38Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu
tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng
trong kinh doanh
Đối tượng của bí mật kinh doanh là thành quả đầu tư về
tài chính hoặc trí tuệ dưới đạng thông tin như thông tin công
nghệ, bí quyết kỹ thuật, bí mật liên quan đến kinh doanh, tức là
những thông tin bất kỳ có giá trị kinh doanh (giá trị thương
mại) trong thời gian hiện tại hoặc trong tương lai đối với chủ sở
hữu mà công chúng không biết hoặc cũng không đễ dàng tìm hiểu được
Các bí mật kinh doanh có thể là:
- Lién quan đến kinh doanh: Kế hoạch và chiến lược kinh
doanh, mô hình hoạt động được lựa chọn, kế hoạch tiếp thị, danh sách khách hàng, thông tin tài chính, hồ sơ nhân sự, các phương pháp, các quy trình và thời gian biểu vận hành công việc;
- Liên quan đến kỹ thuật:
+ Kế hoạch và chiến lược nghiên cứu phát triển, tài liệu hướng dẫn, thiết kế, công thức, bí quyết sản xuất sản phẩm; + Quy trình sản xuất hoặc sửa chữa, kỹ thuật và nguyên liệu thô và bản mô tả kỹ thuật;
+ Bản vẽ, mô hình, vật mẫu, bản thiết kế và sơ đồ;
+ Các thuật toán và phương pháp được thực hiện trong
chương trình máy tính và kể cả các chương trình máy tính, bản
vẽ kiến trúc, sưu tập đữ liệu, các cơ sở dữ liệu độc quyền, phương pháp hướng dẫn, phương pháp tìm tài liệu
Trang 39Để bảo hộ bí mật kinh doanh, các tổ chức và các doanh nghiệp nên cố gắng bảo mật thông tin bằng cách thực hiện các
phương pháp và hệ thống thống nhất để bảo vệ, sử dụng và quần lý chung
Chủ sở hữu bí mật kinh doanh được bảo hộ nhằm:
- Không cho người khác tiết lộ và sử dụng bí mật kinh
doanh trái phép;
- Không cho người khác có được bí mật kinh doanh bằng các biện pháp bất chính như ăn cắp, hối lộ, xuyên tạc, vi phạm hoặc bị xúi dục vi phạm trách nhiệm bảo mật, hoặc do thám tin
tức bằng phương tiện điện tử hoặc các phương tiện khác
Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện
sau đây:
Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng
có được;
Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm
giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó;
Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để
bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không đễ dàng tiếp cận được
Các thông tin bí mật sau đây không được bảo hộ với danh
nghĩa bí mật kinh doanh:
Bi mat vé nhan thân;
Bi mat vé quan ly nha nuéc;
Bi mat vé quốc phòng, an ninh;
39
Trang 40Những thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh
Nói chung, hành vì vi phạm bí mật kinh doanh là hành vi
dẫn đến việc người vi phạm thu lợi từ hành vì đó
của loài người về thế giới đó Phát minh không tạo ra bất kỳ một thứ mới nào cho thế giới và không trực tiếp làm thay đổi
thế giới tự nhiên
Trong thực tế, trên thế giới không có bất kỳ điều luật quốc gia hay điều luật quốc tế nào dành quyền sở hữu cho các phát
mình khoa học
l/ Tri thite truyén théng (Traditional Knowledge)
Đây là một đối tượng mới, liên quan đến các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là thuốc đông y, bài thuốc gia truyền, v.v đang