1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài QUÁ TRÌNH HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG lối CÁCH MẠNG dân tộc dân CHỦ NHÂN dân từ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ đầu TIÊN đến CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

51 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 351,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ của đề tài: Một là, làm rõ được đặc điểm kinh tế, xã hội Việt Nam dưới chính sách thống trị, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

-o0o -Bài tập lớn LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Đề tài: QUÁ TRÌNH HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG

DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN TỪ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN

ĐẾN CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

LỚP: L12 - NHÓM: 14 GVHD:TS Đào Thị Bích Hồng

TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10 NĂM 2022

Trang 2

BÁO CÁO PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI CỦA TỪNG THÀNH VIÊN NHÓM 14

ST

3 Nguyễn Minh Nghĩa 2010446 Chương 2+ Phần mở đầu+Tổng hợp

4 Lê Trung Nguyên 201019 Chương 2+ Phần tổng kết

NHÓM TRƯỞNG

(ghi rõ họ tên, ký tên)

Nguyễn Minh Nghĩa

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1 7

BỐI CẢNH LỊCH SỰ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, 7

KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ 7

CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG 7

1.1 Bối cảnh lịch sử trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời 7

1.1.1 Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp 7

1.1.2 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tư sản từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930 8

1.1.3 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản và những yêu cầu đặt ra đối với cách mạng Việt Nam 15

1.2 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên 17

1.2.1 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam 17

1.2.2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên 20

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 22

Chương 2 24

LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ VÀ SỰ HOÀN CHỈNH 24

ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1930 - 1945) 24

2.1 Luận cương chính trị: 24

2.1.1 Bối cảnh ra đời Luận cương chính trị: 24

2.1.2 Nội dung của Luận cương chính trị 25

Trang 4

2.2 Sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1939 đến năm

1945 30

2.2.1 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939 30

2.2.2 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1940 33

2.2.3 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 05/1941 34

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 36

Chương 3 38

CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ SỰ HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN 38

3.1 Bối cảnh lịch sử và nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam 38

3.1.1 Bối cảnh lịch sử 38

3.1.2 Nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam 41

3.2 Sự bổ sung, hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân 43

3.2.1 Nội dung bổ sung, hoàn chỉnh 43

3.2.2 Giá trị thực tiễn 47

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 48

PHẦN KẾT LUẬN 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 5

Sự lãnh đạo của Đảng ta đối với xã hội trước hết là bằng cương lĩnh, đường lối chính trị, mà theo nguyên tắc hoạt động của đảng cộng sản thì cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng phải do Đại hội – cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng quyết định Tuy nhiên, trong thời kỳ 1930 – 1945, do hoàn cảnh phải hoạt động bí mật, liên tục bị chính quyền thực dân đàn áp, khủng bố, Đảng ta chỉ tiến hành duy nhất Đại hội lần thứ I vào tháng 3-

1935 Mặt khác, từ năm 1946-1951, Đảng có được sự đồng lòng của toàn dân với Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh, giúp cho tình hình nước dễ thở hơn Trong

hoàn cảnh đó, Ban chấp hành Trung ương có trọng trách vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng vào thực tiễn để hình thành, phát triển hoàn thiện đường lối chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc Từ đó dẫn đến Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản (1/1930); Luận cương chính trị do Trần Phú dự thảo và được thông qua vào 10/1930; Ba Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng vào tháng 11/1939, tháng 11/1940, tháng 05/1941 và Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (2/1951) Để làm rõ hơn quá trình Đảng hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân

từ đó khẳng định con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam,

Trang 6

ĐẠT ĐƯỢC, THẮNG LỢI CHO CÁCH MẠNG ???

HẠN CHẾ…

LỰC LƯỢNG THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG…

Với những lý do trên, nhóm chúng em chọn đề tài: “Quá trình hoàn chỉnh đường lối

cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên đền Chính cương Đảng Lao động Việt Nam” làm bài tập lớn để kết thúc môn học Lịch sử Đảng

Cộng sản Việt Nam

Nhiệm vụ của đề tài:

Một là, làm rõ được đặc điểm kinh tế, xã hội Việt Nam dưới chính sách thống trị, khai

thác thuộc địa của thực dân Pháp và nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng;

Hai là, phân tích được nội dung của Luận cương chính trị với những ưu điểm và hạn

chế và quá trình khắc phục hạn chế về đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng;

Ba là, làm rõ nội dung của Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và sự hoàn chỉnh

đường lối cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng

Bốn là, làm rõ giá trị của việc hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ

Nhân dân đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam

Trang 7

Chương 1

BỐI CẢNH LỊCH SỰ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ,

KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG

1.1 Bối cảnh lịch sử trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời

1.1.1 Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và từng bước thiết lập bộ máy thống

trị, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc

nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác” Chính sách thống trị của thực

dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi

Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực

đối nội, đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, đó là một chính sách chuyênchế điển hình, chúng đàn áp đẫm máu các phong trào và hành động yêu nước của ngườiViệt Nam, mọi quyền tự do bị cấm Chúng chia rẽ ba nước Đông Dương, chia Việt Namthành ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng

Về kinh tế, thực dân Pháp cấu kết với giai cấp địa chủ để thực hiện chính sách bóc

lột tàn bạo, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; ra sức vơ vét tài nguyên, cùng nhiều hìnhthức thuế khóa nặng nề, vô lý; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giaothông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa

Về văn hóa, thực dân Pháp tiến hành chính sách ngu dân, chúng bưng bít, ngăn cản

ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ trên thế giới, khuyến khích văn hóa độc hại, xuyên tạc lịch

sử, giá trị văn hóa Việt Nam và dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu

Sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn xã hội diễn ra ngày càng gay gắt

Phần lớn giai cấp địa chủ cấu kết với thực dân Pháp ra sức bóc lột nông dân; một bộ phậnđịa chủ có lòng yêu nước, đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức

độ khác nhau Các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Việt Nam đều mang thân phận

Trang 8

người dân mất nước và đều bị thực dân áp bức, bóc lột, chèn ép nên đều căm phẫn thựcdân Pháp Do đó, mẫu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc này, không chỉ là mâuthuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, mà đã nảysinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Phápxâm lược.

\bbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbb

1.1.2 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tư sản từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930

Phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng chính trị phong kiến.

Ngay từ cuối thế kỷ XIX, khi triều đình nhà Nguyễn lần lượt ký các hiẹp ước Măng năm (1883) và Patơnốt năm (1884) đầu hàng thực dân Pháp song phong trào chốngthực dân Pháp vẫn diễn ra mạnh mẽ tiêu biểu nhất là phong trào Cần Vương năm (1885-1896) một phong trào đấu tranh vũ trang do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phátđộng, phong trào chia làm hai giai đoạn:

ác-Giai đoạn một: Năm (1885-1888) đây là giai đoạn phong trào Cần Vương đặtdưới sự chỉ huy tương đối thống nhất của triều đình Mở đầu là các cuộc nổi dậy của VănThân Nghệ An và Hà Tĩnh và sau đó liên tục các cuộc nổi dậy ở Quảng Bình, Quảng Trị,Thanh Hoá, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Thái Bình, Nam Định… nênthời kỳ này phong trào nổ ra rầm rộ tại các tỉnh Bắc vsf Trung Bộ Khi vua Hàm Nghi bịbắt ngày 1/11/1888, phong trào vẫn tiếp tục kéo dài đến thế kỷ XIX và có xu hướng ngàycàng đi vào chiều sâu

Giai đoạn hai: Năm (1888-1896) phong trào Cần Vương không còn đặt dưới sựlãnh đạo của triều đìnhkháng chiến nữa, nhưng vẫn tiếp tục được duy trì và quy tụ xungquanh những cuộc khởi nghĩa lớn như: Khởi nghĩa Ba Đình năm (1881- 1887) do Đốc

Trang 9

học Phạm Bành và Đinh Công Tráng lãnh đạo, dựa vào địa thế của ba làng Mởu Thịnh,ThươngThọ, Mã Khê, nghĩa quân đã xây dựng Ba Đình thành một cứ điểm kháng Phápkiên cố Nghĩa quân Ba Đình với tinh thần chiến đấu quả cảm, quyết tâm cao và sự giúp

đỡ của nhân dân đã đánh lui nhiều đợt tấn công của địch, tiêu diệt hàng trăm tên Khởinghĩa Bãi Sậy (1882-1893) do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, địa bàn là vùng lau lách umtùm thuọc các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Mỹ Hào (Hưng Yên) Ngày 11/11/1888nghĩa quân tổ chức đánh úp đội quân địch ở Liêu Trung (Mĩ Hào, Hưng Yên) diệt bamươi mốt tên trong đó có tên chỉ huy, gây tiếng vang lớn, làm nức lòng nhân dân để đốiphó với nghĩa quân thực dân Pháp đã tập trung binh lực và sử dụng các tên tay sai nhưNguyễn Trọng Hợp, Hoàng Cao Khải mở cuộc càn quét lớn nhằm vào xung quanh BãiSậy, rồi bao vây chặt nghĩa quân Nghĩa quân chiến đấu anh dũng song cuối cùng khởinghĩa đã hoàn tàon thất bại, những người lãnh đạo đều hy sinh

Khởi nghĩa Hùng Lĩnh năm (1887-1892) do Tống Duy Tân và Cao Điển lãnh đạocăn cứ chính là Hùng Lĩnh, ngoài ra nghĩa quân còn mở rộng hoạt động đến các vùng tảhữu ngọn sông Mã, phối hợp với Đề Kiều, Đốc Ngữ chống phá ở vùng hạ lưu sông Đà,với Phan Đình Phùng ở Hưng Khê Về tổ chức, nghĩa quân Hùng Lĩnh lập ra các cơ sở(khoảng 200 người) lấy tên huyện đặt tên cho đơn vị như Tống Thanh Cơ, Nông ThanhCơ… trong những năm 1889, 1890, nghĩa quân đã tổ chức những trận đánh lớn, gây chođịch nhiều tổn hại Sau các cuộc càn quét của địch, nghĩa quân phải ở dần lên vùngTâyBắc của Thanh Hoá Tại đây họ được bổ sung thêm lực lượng và đẩy mạnh hoạt động3/1980, thựcdân Pháp liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, địa bàn hoạt động củanghĩa quân bị thu hẹp nhiều và cuối cùng cũng bị thất bại

Khởi nghĩa Hương Khê: Năm (1885-1888) do Phan Đình Phùng lãnhđạo.Cuộc hởi nghĩa phát triển qua hai giai đoạn: Thời kỳ xây dựng lực lượng năm (1885-1896)và thời kỳ chiến đấu của nghĩa quân năm (1888-1896) trên cơ sở của một loạt cáccuộc nổi dậy hưởng ứng chiếu cần vương nổ ra từ năm 1885, trong đó cps các cuộc khởinghĩa của Lê Ninh (La Sơn) Cao Thắng(Hương Sơn), Nguyễn Thạch, Ngô Quảng, HàVăn Mĩ (Nghi Xuân)… Phan Đình Phùng đã tập hợp và phát triển thành một phong trào

Trang 10

chống Pháp có quy mô lớn bao gồm bốn tỉnh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Người trợthủ đắc lực nhất của Phan Đình Phùng là và cũng là một chỉ huy xuất sắc của khởi nghĩaHương Khê là Cao Thắng Điểm nổi bật của khởi nghĩa Hương Khê là một tổ chức tươngđối chặt chẽ và quy mô rộng lớn và họt động dai dẳng của nó Nghĩa quân Hương Khêđược tổ chức thành mười lăm quân quân thứ các quân thứ này mang tên địa phương làcon thứ (Huyện Cam Lộ), Hương Thứ (Huyện Hương Sơn) …

Trong cuộc chiến đấu ác liệt dể bảo vệ căn cứ, chủ tướng Phan Đình Phùng bịthương nặng và hi sinh Đến đây thì khởi nghĩa Hương Khê chấm dứt Khởi nghĩa thấtbại song là cuọc khởi nghĩa lớn nhất trong phong trào Cần Vương chông Pháp cuối thế kỷXIX Cuộc khởi nghĩa này đã đựoực duy trì suốt mười năm, hoạt động trên một địa bànrộng lớn và được ủng hộ của quần chúng nhaan dân Sau khởi nghĩa Hương Khê, phongtrào Cần Vương về cơ bản đã chấm dứt nhưng nhiều nhà yêu nước vẫn nổi dậy chốngPháp Một số theo khuynh hướng mới, một số tham gia vào các hoạt động của khởi nghĩaYên Thế của Hoàng Hoa Thám lãnh đạo năm (1884-1913) Cùng thời gian này còn cócuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo là cuộc khởi nghĩa lớn nhất, bền

bỉ nhất tiêu biểu cho tinh thần bất khuất của nhân dân trong phong trào chống phá cuốithế kỷ XIX khởi nghĩa diễn ra âu rộng thu hút dông đảo nhân dân tham gia, dưới nhiềuhình thức đấu tranh khác nhau đã làm cho thực dân Pháp trước sức mạnh của nhân dân vàlàm tiêu hao nhiều sinh lực của địch Cuộc khởi nghĩa diễn ra bốn giai đoạn song nghĩaquân đều rất anh dũng, sẵn sàng hi sinh, lại được sự ủng hộ đông đảo của nhân dân nênngày một lớn mạnh Tuy nhiên thực dân Pháp đã tập trung lực lượng lớn càn quét, bắngiết trước sự chênh lệch lớn về lực lượng khởi nghĩa đã thất bại Tuy vậy khởi nghĩa YênThế là phong trào đấu tranh lớn nhất của nhân dân trong nhưng năm cuối thế kỷ XIX Sựtồn tại bền bỉ dẻo dai của phong trào đã phản ánh sức mạnh to lớn tiềm tàng của nhân dânnước ta Ngoài ra còn một loạt cuộc nổi dậy của nhân dân ta đã nổ ra tiêu biểu là các cuộcnổi dậy của đồng bào dân tộc Stiêng, Mơnông ở nam bộ, của đông bào Mường …

Trang 11

Tóm lại: Thất bại của phong trào cần vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởngphong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ dành độc lập cho lịch sử đặt ra và từ đâyphong trào cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới.

bbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbb

b, Phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng dân chủ tư sản

Đầu thế kỷ XIX, châu Á thức tỉnh: Phong trào cách mạng dân chủ tư sản ở cácnước thuộc địa và nửa thuộc địa như Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, ấn Độ… mangmột nội dung mới đấu tranh yêu nước giải phóng dân tộc kêt hợp với đấu tranh dànhquyền dân chủ ở nước ta vào những năm đầu thế kỷ XX, trước những yêu cầu mới củalịch sử, những phần tử ưu tú trong trong hàng ngũ trí thức phong kiến đã nhận thấy “quanniệm trung quân ái quốc” thời kỳ Cần Vương không có tác dụng tập hợp nhân dân nữađúng lúc đó, các tân thư, tân báo của Trung Quốc dội vào nước ta, đáng kể nhất là các tácphẩm, ẩm băng Thất, Trung Quốc hồn, Mậu Tuất chính biến, Tân dần tuần báo… củaLương Khải Siêu và Khang Hữu Vi cũng giới thiệu những tư tưởng dân chủ tư sản củaphương tây, dưới lăng kính của tư tưởng lập hiến các trào lưu tư tưởng đó đã cổ vũ,hướng họ theo lý tưởng của cuộc cách mạng Pháp năm (1789), cuộc vận động Duy Tânnăm (1898) và cuộc cách mạng Tân Hợi năm (1911) ở Trung Quốc, giúp họ đoạn tuyệtnhững tư tưởng quân chủ lập hiến chuyển sang tư tưởng cộng hoà Mặt khác công cuộcxây dựng đất nước thành công của tư bản Nhật càng củng cố niềm tin của các sỹ phu yêunước vào con đường cách mạng tư sản Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các phongtrào:

Phan bội châu và phong trào Đông Du

Với quan điểm “nợ máu chỉ có thể trả bằng máu”, ngay từ đầu Phan Bội Châu đãkiên trì giành độc lập bằng con đường bạo lực vì vậy ngay từ đầu thế kỷ XX ông đãchuẩn bị công cuộc bạo động đánh Pháp Tuy nhiên như ông nói: “ Là một nghười trongtay không có một miếng sắt, trên mặt đất không có lấy một chỗ đứng chân, chẳng qua chỉ

Trang 12

là một thằng tay không chân trắng , tài hèn sức yếu, mà lại đòi vật lộn với hùm beo cónanh dài vuốt nhọn”và: “ Đến nỗi này tôi không thể nào không sang con đường bạo động.Vẫn biết bạo động với tự sát đều là việc làm của những kẻ kiến thức hẹp hòi, không biết

lo xa, nhưng nếu tình thế buộc phải tự sát thì thà rằng xoay ra bạo động, thà chết còn hơn.Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản, để đánhPháp dành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến củaNhật vào tháng 5/1904, Phan Bội Châu, Cường Để và trên hai mươi đồng chí họp tại nhàriêng của ông

Nguyễn Hàm bí mật lập ra Duy Tân hội, mục đích của hội là “cốt sao khôi phụcđược nước Việt Nam, ngoài ra chưa có chủ trương gì khác” Ông tổ chức phong tràoĐông Du (1906-1908), tức phong trào đi du học ở phương tây và ông cho rằng nên cầuviện Nhật Bản là nước đồng Văn, đồng chủng Những người du học sinh được đào tạo vềvăn hoá và quân sự cần thiết cho công cuộc đánh Pháp cứu nước và kiến thiết đất nước.Phong trào đông du ngày càng lớn mạnh, thực dân Pháp một mặt tiến hành khủng bố, mặtkhác tiến hành cấu kết với Nhật trục xuất những người yêu nước Việt Nam ra khỏi nướcNhật trong đó có cả Phan Bội Châu Phan Bội Châu nhận thấy được bản chất của chủnghĩa thực dân chúng đầu như nhau đầu đàn áp các phong trào cách mạng của nhân dân.Chủ trương dựa vào Nhật đánh Pháp không thành ông về Xiêm nằm chờ thời cơ Giữalúc đó cách mạng Tân Hợi bùng nổ và thắng lợi (1911) Ông về Trung Quốc lập ra ViệtNam quang phục hội (1912) với ý định tập hợp lực lượng rồi kéo quân về nước võ trangbạo động đánh Pháp, giải phóng dân tộc nhưng cuối cùng cũng thất bại

Phong tào Duy Tân (1906-1908) Trong lúc phong trào Đông Du những hoạt độngcủa Duy Tân Hội diễn ra sôi nổi thì Phan Chu Trương và một số sĩ phu yêu nước chủtrương tiến hành một phong trào Duy Tân

Để thực hiện mục tiêu trên, Phan Chu Trinh chủ trương tạm thời dựa vào Pháp đểđánh đổ phong kiến, dành lại quyền lực cho nhân dân, sau đó sẽ đánh đổ đế quốc, dànhđộc lập dân tộc Phan Châu Trinh đã phản đối biện pháp đấu tranh bạo động, xem bạođộng là chết (bất bạo động, bạo động tắc tử) và cũng không tán thành việc cầu viện bên

Trang 13

ngoài, xem đó là điều ngu xuẩn (bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu) Trong những nămđầu thế kỷ XX, phong trào Duy Tân đã phát triển mạnh mẽ, ở Bắc Kỳ có việc mở trườnghọc, giảng giạy và học tập thao những nội dung và phương pháp mới để dạy chữ quốcngữ mở mang dân trí Ngoài những môn khoa học thưởng thức, lịch sử, địa lý, vệ sinh,nhà trường còn dạy học sinh tập hát, tập thể dục thể thao, tiêu biểu là trường Đông KinhNghĩa Thục Hà Nội thành lập năm 1907 Về hoạt động kinh tế, Phan Chu Trinh và nhữngngười trong phong trào Duy Tân đã tiến hành cổ động chấn hưng thực nghiệp mở hiệubuôn, lập thương hội, các ngành tiêu biểu thủ công nghiệp được khuyến khích phát triển,

ở trung kỳ có cuộc vận động Duy Tân, hô hào thay đổi phong tục, nếp sống, phong tràocòn sôi động hơn khi phái Duy Tân mở cuộc vận động cắt tóc ngắn, để răng trắng, theolối sống mới Phong trào phát triển mạnh thực dân Pháp gọi chung phong trào này vàphong trào chống sưu thuế ở trung kỳ năm 1908 là “phong trào cắt tóc ngắn”

Phong trào Đông Du và phong trào Duy Tân đều có nhiều ý nghĩa kích động lòngyêu nước đòi độc lập dân tộc, xu hướng cải cách không tách rời xu hướng bạo động Tuynhiên do những hoàn cảnh về lịch sử, về giai cấp nên các phong trào yêu nước đầu thế kỷ

XX đều không tìm được đường lối cứu nước đúng đắn để đấu tranh giải phóng dân tộcnên chỉ sau một thời kỳ phát triển đã bị kẻ thù dập tắt Sau chiến tranh thế giới thứ nhấtmặc dù còn nhiều hạn chế về số lượng, về thế lực kinh tế và chính trị, nhưng với tinh thầndân tộc, dân chủ, giai cấp tư sản Việt Nam đã hăng hái bước lên vũ đài chính trị với mộtphong trào yêu nước sôi nổi, rộng lớn, thu hút đông đảo quần chúng tham gia với nhữnghìng thức đấu tranh phong phú

Từ năm 1919-1923 phong trào quốc gia cải lương của bộ phận tư sản và địa chủlớp trên đã diễn ra bằng việc vận động chấn hưng nội háo bài trừ ngoại hoá năm (1919),chống độc quyền thương cảng Sài Gòn năm (1923), cuộc vận động đồi hưởng nghị định

về thể lệ nhân công năm (1924), chống độc quyền nước mắm năm (1920-1926), chốngtrục xuất người miền trung, miền bắc ra khỏi Nam Kỳ năm (1925)

Năm 1923 xuất hiện đảng lập hiến của Bùi Quang Chiêu ở Sài Gòn, tập hợp tư sản

và địa chủ lớp trên Về tổ chức, Đảng chưa cấu tạo thành hệ thống, hình thức đấu tranh

Trang 14

chủ yếu là trên diễn đàn báo chí hoặc trong các kỳ tranh cử vào hội đồng thuộc địa, hộiđồng thành phố Họ đòi Pháp ban hành một số cải cách về quyền tự do dân chủ và ban bốmột số quyền lợi kinh tế Nhưng khi bị thực dân Pháp đàn áp trong nhân nhượng cho một

số quyền lợi thì họ lại đi vào con đường đầu hàng thảo hiệp cộng tác chặt chẽ với Pháp để

ra sức chống phá cách mạng Từ năm 1925-1926 đã diễn ra phong trào yêu nước dân chủcông khai của tiểu tư sản thành thị và tư sản lớp dưới

Phong trào cách mạng quốc gia tư sản năm (1927-1930) gắn liền với sự ra đời vàhoạt động của Việt Nam Quốc Dân Đảng (25/12/1927) Được thành lập trên cơ sở mộtnhóm trí thức tư sản, tiểu tư sản tập hợp trong “Nam Đồng Thư Xã” ở Hà Nội lãnh tụ làNguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính Trong bảnđiều lệ có ghi một cách chung chung: “Trước làm dân tộc cách mạng, sau làm thế giớicách mạng” dần đường lối dó được bổ sung, nhưng là sự tiếp thu đường lối Tam Dân củaTôn Trung Sơn Đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất của khuynh hướng tư sản ở ViệtNam tập hợp các thành phần tư sản, tiểu tư sản, địa chủ và cả hạ sĩ quan Việt Nam trongquân đội Pháp Về chính trị, đảng chủ trương đánh đuổi đế quôc Pháp, xoá bỏ chế độ vuaquan, thành lập dân quyền, nhưng chưa bao giờ có một đường lối cụ thể, rõ ràng Về tổchức, đảng chủ trương xây dựng các cấp từ trung ương đến cơ sở, nhưng chưa bao giờ cómột hệ thôngs tổ chức thống nhất Hoạt động của đảng còn manh động, nghiêng về khủng

bố cá nhân Đặc biệt vụ ám sát Ba Danh là trùm mộ phu đồn điền cao su của thực dânPháp (9/2/1929) đã gây chấn động sau đó kẻ thù mở cuộc khủng bố dữ dội, hàng loạt cán

bộ đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng sa vào lưới giặc

Nhìn chung, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở ViệtNam đã diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hìnhthức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần chống đế quốc của giai cấp

tư sản ở Việt Nam nhưng cuối cùng đều thất bại vì giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu

cả về kinh tế và chính trị nên không đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự nghiệp giảiphóng dân tộc, chưa có đường lối chính trị rõ ràng và một hình thức tổ chức chặt chẽ.Mặc dù thất bại nhưng các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã

Trang 15

góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, bồi đắp thêm chủ nghĩa yêunước ở Việt Nam, đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niêntrí thức tiên tiến chọn lựa một con đường mới, một giải pháp cứu nước, giải phóng dântộc theo xu thế của thời đại và nhu cầu mới của nhân dân Việt Nam Từ đây, ngọn cờ lãnhđạo cách mạng chuyển sang giai cấp vô sản Cách mạng Việt Nam bắt đầu một quá trìnhphát triển mới về chất.

bbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbbb

1.1.3 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản và những yêu cầu đặt ra đối với cách mạng Việt Nam

Một là, Nguyễn Ái Quốc lữa chọn con đường cách mạng vô sản

Hai là, sự chuẩn bị về trt, chính trị và tổ chức cho thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam

Ba là, sự phát triển của phong trào cách mạng theo khuynh hướng vô sản

Bốn là, sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam

Cuối năm 1924, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu, Trung Quốc

để tìm hiểu về tình hình hoạt động của những người yêu nước Việt nam sinh sống tại đây,đặc biệt người tiếp xúc với các thanh niên trong tổ chức “Tâm tâm xã” Từ đó, lựa chọn một số thanh niên tích cực để tuyên truyền giác ngộ và thành lập Cộng sản đoàn

Tháng 2/1925 “Cộng sản đoàn” được thành lập với số lượng 9 người Dựa trên nhóm này, người lại đứng ra thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6/1925) – một tổ chức có tính chất cách mạng và quần chúng rộng rãi Ngay từ khi ra đời Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã chủ trương thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc rồi tiến lên làm cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, thành lập chính phủ công – nông – binh, phát triển sản xuất, xóa bỏ tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam và trên thế giới

Với những hoạt động tích cực sau khi thành lập, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã truyền bá Chủ nghĩa Mac – Lenin, luận giải phóng dân tộc và tổ chức, vận động

Trang 16

nhân dân đấu tranh đã dấy lên một phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là phong trào công nhân.

Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX thường có quy mô nhỏ hẹp do sự yếu thế của giai cấp công nhân và chưa có chủ trương cách mạng đúng đắn

Phong trào công nhân giai đoạn này vẫn còn nhiều hạn chế như quy mô nhỏ hẹp trong các nhà máy, xí nghiệp, đồn điền Mục đích chủ yếu tập trung vào nội dung kinh tế

và hầu hết các phong trào đều diễn ra tự phát, chỉ có duy nhất 1/25 cuộc đấu tranh là có lãnh đạo, tổ chức chặt chẽ, ví dụ như cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son 8/1925

Giai đoạn tự giác (sau 1925)

Từ năm 1925 trở đi, nhờ những điều kiện thuận lợi đã thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam nói chung và phong trào công nhân nói riêng

Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V đã ban hành các nghị quyết quan trọng góp phần lớn trong các phong trào cách mạng dân tộc

Ở trong nước, nhờ vào tổ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (06/1925), báo Thanh Niên, tác phẩm “Đường Kách Mệnh” và phong trào “Vô sản hóa” (1925-1929), lý luận cách mạng Chủ nghĩa Mác Lê nin đã được truyền bá rộng rãi ở nước ta

Các phong trào yêu nước chống pháp theo khuynh hướng vô sản như:

Trong năm 1926, hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân đã nổ ra mạnh mẽ Có thể kể tên các phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản ở giai đoạn này như: cuộc bãi công của công nhân ở nhà máy sợi Nam Định, xi măng Hải Phòng, … đặc biệt là 2 cuộc đấu tranh với quy mô lớn như các đồn điền Cam Tiêm, Phú Riềng ở phía Nam

Trang 17

Năm 1927, phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản nở rộ khắp cả nước

Số lượng các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân từ 1926-1927 là 27 cuộc

Năm 1928-1929 là giai đoạn đỉnh cao của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản Với hơn 40 cuộc đấu tranh có quy mô và chất lượng đã đem đến một kết quả là ba tổ chức cộng sản đầu tiên của Việt nam ra đời trong năm 1929: Đông Dương Cộng sản Đảng (6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (07/1929), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (9/1929)

Hình thức đấu tranh ở giai đoạn này chủ yếu là bãi công, mục đích đấu tranh về cả kinh tế và chính trị chứ không đơn thuần vì lợi ích kinh tế như giai đoạn trước Quy mô rộng khắp cả nước, có sự lãnh đạo và đoàn kết của quần chúng nhân dân Từ đó, sức mạnh của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản lại tăng lên gấp bội

1.2 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên 1.2.1 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang lâm vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, ngày 5-6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc,

Hồ Chí Minh) ra nước ngoài, bắt đầu đi tìm con đường cứu nước Người đã qua nhiều nơitrên thế giới, vừa lao động, vừa học tập, nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm các cuộc cáchmạng tư sản điển hình (Pháp, Mỹ), tích cực tham gia hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc Người rất ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục V.I.Lênin và

đã tham gia nhiều hoạt động ủng hộ, bảo vệ cách mạng Nga; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp Những hoạt động cách mạng phong phú đó đã giúp Người từng bước rút

ra những bài học quý báu và bổ ích cho sự lựa chọn con đường cách mạng của mình Tháng 7- 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương

về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở Từ đây, Người đã tìm ra con đường cứunước, cứu dân đúngđắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào

Trang 18

khác con đường cách mạng vô sản”; xác định những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc Đó là con đường giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xãhội, giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn cách mạng dân tộc từng nước với phong trào cách mạng vô sản thế giới.

Đối với Nguyễn Ái Quốc, đây là bước ngoặt từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản, từ một chiến sĩ giải phóng dân tộc trở thành một chiến sĩ cộng sản quốc

tế Sự kiện đó cũng đánh dấu bước ngoặt mở đường thắng lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ViệtNam Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu và vận dụng sángtạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta, tìm ra con đường đúng đắn giải phóng dân tộc Việt Nam

Trở thành chiến sĩ cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia hoạt động trongphong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào cách mạng thuộc địa; nghiên cứu

và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam qua các báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân và sau này là tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925)

Sau một thời gian ngắn tham gia học tập ở Liên Xô và hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, tháng 1l-1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Tại đây, Người sáng lập và trực tiếp huấn luyện Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, sáng lập và viết bài cho báo Thanh niên, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh (1927) nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mác -Lênin vào trong nước Người tổ chức đào tạo bồi dưỡng cán bộ cốt cán, tiếp tục chuẩn bị

về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng

Chủ nghĩa Mác - Lênin và các tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc được giaicấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như''người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn'' Nó lôi cuốn những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản; làm dấy lên cao trào đấu tranh mạnh mẽ, sôi nổi khắp

cả nước, trong đó giai cấp công nhân ngày càng trở thành một lực lượng chính trị độc lập

Sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào quần chúng và phong trào công nhân,làm cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo Vì vậy, các tổ chức cộng sản

Trang 19

lần lượt được thành lập:

Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ

Mùa Thu năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ

Ngày l-l-1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ.Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản tuyên bố thành lập Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng

ở Việt Nam, đồng thời sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn Yêu cầu bức thiết của cách mạng đặt ra là cần

có một đảng cộng sản duy nhất để lãnh đạo phong trào cách mạng của giai cấp công nhân

và nhân dân Việt Nam Lãnh tụ Nguyền Ái Quốc - cán bộ của Quốc tế Cộng sản, người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam - là người duy nhất có đủ năng lực và uytín đáp ứng yêu cầu thống nhất các tổ chức cộng sản

Từ ngày 6-l đến ngày 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại bánđảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc.Hội nghị nhất trí thành lập một đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng

Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử như là Đại hội thành lập Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là kết quả của cuộc đấutranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc

Đó là một mốc lớn, bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấmdứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước.Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt

do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, được Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua đã xác định: cách mạng Việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường cách

Trang 20

mạng duy nhất đúng để thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng

1.2.2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên

Nội dung cơ bản trong Cương lĩnh đã xác định rõ về đường lối, nhiệm vụ, lực lượng và mối quan hệ của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh sau khi thành lập Đảng

Cụ thể, về đường lối chiến lược là làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng

để đi tới xã hội cộng sản Cương lĩnh xác định ba nhiệm vụ trước mắt của cách mạng ViệtNam, bao gồm cả hai nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chống phong kiến, song nổi lên hàng đầu là nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc Cụ thể: Về chính trị, đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, dựng ra Chính phủ công-nông-binh và tổ chức quân đội công nông Về kinh tế, tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn của bọn đế quốc giao cho Chính phủ mới; tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc làm của công và chia cho dân cày nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp, miễn thuế cho dân cày nghèo, thi hành luật ngày làm tám giờ Về văn hóa, dân chính được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục theo hướng công nông hóa

Cương lĩnh xác định lực lượng cách mạng là tập hợp đại bộ phận giai cấp công nhân, nông dân và phải dựa vào hạng dân cày nghèo; lãnh đạo nông dân làm cách mạng ruộng đất; lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông… đi vào phe vô sản giai cấp; đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phảilợi dụng, ít nhất cũng làm cho họ đứng trung lập, bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ Giai cấp lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân, thông qua Đảng Cộng sản Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận của giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng Về mối quan hệ quốc tế, Luận cương xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách

Trang 21

mạng thế giới; phải liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới, nhất là với quần chúng vô sản Pháp.

*Phân tích sự đúng đắn của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tính cách mạng đúng đắn và sáng tạo của Cương lĩnh đầu tiên đó được thể hiện qua những nội dung sau:

+ Cương lĩnh vạch rõ tính chất của cách mạng Việt Nam là phải trải qua hai giai đoạn: cách mạng tư sản dân quyền (về sau gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) vàcách mạng xã hội chủ nghĩa (“làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để

đi tới xã hội cộng sản”)

Như vậy, ngay từ đầu, Đảng ta đã thấu suốt con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc chỉ có thể lâu dài khi kết hợp với chủ nghĩa xã hội

+ Cương lĩnh đề ra nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền ở nước ta: đánh đổ

đế quốc Pháp, vua quan phong kiến và tư sản phản cách mạng

Mục tiêu: Làm cho nước Việt Nam độc lập; Dựng lên chính phủ công nông binh;

Tổ chức ra quân đội công nông; Tịch thu những sản nghiệp lớn và ruộng đất của bọn đế quốc, bọn phản cách mạng đem chia cho dân cày nghèo, chuẩn bị cách mạng thổ địa

Như vậy vấn đề dân tộc được ưu tiên hàng đầu, Người đã nhìn thấy rõ 2 mâu thuẫn cơ bản trong xã hội thuộc địa: Địa chủ phong kiến với nông dân và toàn thể dân tộcViệt Nam với Pháp

+ Lực lượng cách mạng chủ yếu là công – nông, đồng thời phải lôi kéo tiểu tư sản,trí thức, trung nông về phe giai cấp vô sản, còn phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản Việt Nam chưa lộ rõ bộ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng hoặc làm cho họ trung lập, phải liên minh với các giai cấp và tầng lớp yêu nước khác, đoàn kết, tổ chức họ đấu tranh chống đế quốc và phong kiến

Trang 22

Như vậy, Nguyễn Ái Quốc đã tranh thủ tối đa lực lượng cách mạng, cô lập tối đa lực lượng kẻ thù Thành lập mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên

cơ sở liên minh công – nông – trí…

+ Cương lĩnh khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Đảng phải lấy chủ nghĩa Marx Lenin làm nền tảng tư tưởng Đảng phải có trách nhiệm phục vụ đại bộ phận giai cấp công nhân, làm cho giai cấp mình lãnh đạo được quần chúng Phải thu phục đại đa số dân cày, dựa vững vào dân cày

+ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng còn coi cách mạng nước ta là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, đứng về phía mặt trận cách mạng gồm các dân tộc thuộc địa bị

áp bức và giai cấp công nhân thế giới

Như vậy, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm đượm tính dân tộc và tính nhân văn với tư tưởng cốt lõi là Độc lập – Tự do cho dân tộc

Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vô cùng quan trọngcủa lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt sự khủnghoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ

XX Đó là kết quả của sự vận động, phát triển và thống nhất phong trào cách mạng trong

Trang 23

cả nước; sự chuẩn bị công phu về mọi mặt của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và sự đoàn kết nhất trí của những chiến sỹ tiên phong vì lợi ích của giai cấp, của dân tộc.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong tràocách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang; đồng thời đóng góp tích cực vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ của nhân loại trên thế giới

Trang 24

Chương 2

LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ VÀ SỰ HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1930 - 1945)

2.1 Luận cương chính trị:

2.1.1 Bối cảnh ra đời Luận cương chính trị:

Cương lĩnh đầu tiên của Đảng được đề ra tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Dựa vào tình hình đặc điểm Việt Nam trong những năm 1930, Đảng đã đưa ra nhiều nội dung quan trọng như: Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân,thu phục giai cấp, lãnh đạo dân chúng nông dân; liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trungnông; tranh thủ, phân hóa trung tiểu địa chủ và tư sản dân tộc, đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới để hình thành mặt trận thống nhất đánh đuổi

đế quốc, đánh đuổi bọn đại địa chủ và phong kiến, thực hiện khẩu hiệu nước Việt Nam độc lập, người cày có ruộng Đây là con đường duy nhất để giải phóng dân tộc Việt Nam, là con đường cách mạng vô sản, phù hợp với xu thế của thời đại mới.Tuy nhiên, những quan điểm đúng đắn của Cương lĩnh không phù hợp với quan điểm của Quốc tế Cộng sản về vấn đề giải phóng dân tộc Luận cương đã không vạch

ra được đâu là mâu thuẫn chủ yếu của xã hội thuộc địa, coi trọng vấn đề phong kiến không phù hợp với cách mạng Việt Nam Đánh giá không đúng vai trò vị trí của giai cấp tầng lớp khác, không lôi kéo được bộ phận có tinh thần yêu nước Không đề ra được mối liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh dân tộc và tay sai

Dựa vào tình hình đó, Đảng ta đặt ra yêu cầu cần có một đường lối mới để giải phóng dân tộc ở Đông Dương Tháng 4-1930, Trần Phú được Quốc tế Cộng sản và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử về nước hoạt động với cương vị là cán bộ chủ chốt của Đảng và có những đóng góp to lớn cho cách mạng Việt Nam Tháng 7-1930, Trần Phú được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời

Trang 25

Từ ngày 14 đến ngày 31/10/1930, Ban Chấp hành Trung Ương họp Hội nghi lần thứ nhất tại Hương Cảng tức Hồng Koong (Trung Quốc) do Trần Phú chủ trì, quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương Đồng chí

Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng Luận cương chính trị do Trần Phú dự

thảo và được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương thông qua, là văn kiện quan trọng của Đảng, đã vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc

và thuộc địa và những luận điểm cơ bản trình bày trong Chính cương vắn tắt và Sách

lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập

Đảng

2.1.2 Nội dung của Luận cương chính trị

Luận cương chính trị đã xác định mâu thuẫn giai cấp ngày càng diễn ra gay gắt ở

Việt Nam, Lào và Cao Miên là “một bên là chợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ; một bên thì địa chủ, phong kiến, tư bổn và đế quốc chủ nghĩa”

PHAN TÍCH (ƯU ĐIỂM, HẠN CHẾ???)

cấp vô sản và nông dân là hai động lực chính của cách mạng tư sản dân quyền, trong đó giai cấp vô sản là động lực chính và mạnh Cổ nhân có câu: “Dân duy bang bản, bản cố bang ninh” (Dân chính là gốc rễ của đất nước, gốc rễ có vững chắc thì nước mới yên ổn) Tư tưởng “Dân làm gốc” là một kết tinh của lịch sử, là một yếu tố của văn hóa truyền thống phương Đông trong tồn tại, xây dựng, phát triển của mỗi

triều đại, mỗi đất nước, dân tộc Dân cày là hạng người chiếm đại đa số ở Đông

Dương (hơn 90 %) họ là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản dân quyền Sự

bóc lột áp bức theo lối thuộc địa rất tàn nhẫn, thành thử vô sản giai cấp mau phá sự

trở ngại ấy mà nổi lên tranh đấu càng ngày càng hăng hái để chống lại tư bổn đế quốc.

Địa chủ là thù địch của dân cày, không thua kém gì bọn đế quốc chủ nghĩa, liên kết với chủ nghĩa đế quốc bốc lột dân cày Địa chủ dùng quyền có đất để bóc lột dân nghèo, hãm hại nền kinh tế và ngăn trở sức sản xuất Giai cấp địa chủ có một vài bộ phận phản cách mạng, vì khi cách mạng thành công ruộng đất địa chủ sẽ bị tịch thu,

Ngày đăng: 10/11/2022, 19:13

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w