Bài viết này không tập trung phân tích về tình hình bạo lực đối với phụ nữ, trẻ em cũng như những hậu quả của nó mà chỉ tập trung phân tích các biện pháp bảo vệ, trợ giúp nạn nhân là phụ
Trang 1
ThS NguyÔn Xu©n Thu *
ạo lực là hiện tượng xảy ra ở nhiều lĩnh
vực và với nhiều đối tượng khác nhau
Trong số các nạn nhân của bạo lực, phụ nữ
và trẻ em là hai đối tượng được quan tâm
nhiều hơn cả, bởi vì trên thực tế họ là nạn
nhân chủ yếu của bạo lực, nhất là bạo lực
trong gia đình Bài viết này không tập trung
phân tích về tình hình bạo lực đối với phụ
nữ, trẻ em cũng như những hậu quả của nó
mà chỉ tập trung phân tích các biện pháp
bảo vệ, trợ giúp nạn nhân là phụ nữ và trẻ
em bị bạo lực
Hiện nay, các biện pháp bảo vệ và trợ
giúp phụ nữ và trẻ em là nạn nhân của bạo
lực được quy định trong Bộ luật lao động,
Bộ luật hình sự, Luật bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em, Bộ luật dân sự, Luật bảo
hiểm xã hội, Luật bình đẳng giới, Luật
phòng, chống bạo lực gia đình và một số văn
bản quy phạm pháp luật khác về an sinh xã
hội Trong các văn bản này, đáng lưu ý nhất
là các biện pháp được quy định tại Luật
phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007
Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định
khá tập trung và đầy đủ các biện pháp bảo vệ
và giúp đỡ nạn nhân bị bạo lực gia đình Từ
việc nghiên cứu cho thấy các biện pháp này
cũng có thể được áp dụng tương tự trong
việc bảo vệ nạn nhân là phụ nữ và trẻ em bị
bạo lực trong lĩnh vực lao động hoặc các lĩnh vực khác thuộc đời sống xã hội Với cách đặt vấn đề như vậy, nội dung chủ yếu trong bài viết này sẽ tập trung phân tích các biện pháp bảo vệ và giúp đỡ nạn nhân là phụ nữ và trẻ
em bị bạo lực gia đình trong mối liên hệ mở rộng tới các lĩnh vực khác Theo đó, bốn nhóm biện pháp được phân tích là: Các biện pháp trợ giúp về vật chất và tinh thần, biện pháp hành chính, biện pháp hình sự và các biện pháp khác
1 Các biện pháp trợ giúp về vật chất
và tinh thần
Các biện pháp trợ giúp về vật chất và tinh thần đối với nạn nhân là phụ nữ và trẻ
em bị bạo lực bao gồm: tư vấn; phát hiện, báo tin về bạo lực; cấp cứu nạn nhân bị bạo lực; chăm sóc nạn nhân tại các cơ sở khám, chữa bệnh; hỗ trợ khẩn cấp các nhu cầu thiết yếu
- Tư vấn cho nạn nhân là phụ nữ và trẻ
em bị bạo lực
Tư vấn là biện pháp vừa có tác dụng trong việc phòng tránh bạo lực, vừa có tác dụng trong việc bảo vệ, giúp đỡ nạn nhân là phụ nữ và trẻ em bị bạo lực Tư vấn để bảo
B
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2vệ, giúp đỡ nạn nhân bị bạo lực có thể đạt
được các mục tiêu: Giúp nạn nhân vượt qua
cơn khủng hoảng tinh thần; chỉ dẫn nạn nhân
sử dụng các biện pháp bảo vệ và trợ giúp
tiếp theo, như: khám, chữa bệnh, tạm lánh,
yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền
bảo vệ ; chỉ dẫn nạn nhân các biện pháp
phòng, tránh tái bạo lực
Nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau có thể
đóng vai trò là người tư vấn cho nạn nhân là
phụ nữ và trẻ em bị bạo lực, tuỳ từng đối
tượng và hoàn cảnh cụ thể mà xác định cho
hợp lí, như: Cơ sở tư vấn về phòng, chống
bạo lực gia đình; cơ sở hỗ trợ nạn nhân bị
bạo lực gia đình; cơ sở khám, chữa bệnh; cơ
sở bảo trợ xã hội; địa chỉ tin cậy ở cộng
đồng; tổ chức công đoàn; các cơ sở bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em
- Báo tin về bạo lực
Báo tin về bạo lực khi phát hiện có bạo
lực vừa thể hiện tình cảm, vừa thể hiện trách
nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối
với những người sống, làm việc xung quanh
mình và đối với cộng đồng xã hội Việc làm
này có thể ngăn chặn hành vi bạo lực và xúc
tiến các biện pháp bảo vệ, trợ giúp nạn nhân
bị bạo lực một cách kịp thời
Theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật
phòng, chống bạo lực gia đình, người phát
hiện bạo lực gia đình phải kịp thời báo tin
cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc uỷ
ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu
cộng đồng dân cư nơi xảy ra bạo lực Tại
nơi làm việc, nếu phát hiện bạo lực cần phải
báo ngay cho người sử dụng lao động, ban
chấp hành công đoàn cơ sở hoặc các cơ
quan, tổ chức có trách nhiệm trong việc bảo
vệ người lao động bị bạo lực (như: Sở lao động - thương binh và xã hội, liên đoàn lao động, cơ quan công an ) Trong một số trường hợp hoặc với một số đối tượng cần phải giữ bí mật thông tin về bạo lực thì trách nhiệm này sẽ không đặt ra đối với
người phát hiện bạo lực Ví dụ: Người tư
vấn về bạo lực có thể phải giữ bí mật thông tin về bạo lực cho người được tư vấn, cơ sở khám chữa bệnh cho nạn nhân bị bạo lực có thể phải giữ thông tin về bạo lực cho bệnh nhân Song, ngay cả trong những trường hợp này, nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện bạo lực vẫn phải báo ngay cho cơ quan công an nơi gần nhất giải quyết
Cơ quan công an, uỷ ban nhân dân cấp
xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư khi phát hiện hoặc nhận được tin báo về bạo lực gia đình có trách nhiệm kịp thời xử lí hoặc kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xử lí; giữ bí mật về nhân thân
và trong trường hợp cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ người phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình
- Cấp cứu và chăm sóc nạn nhân bị bạo lực tại cơ sở khám, chữa bệnh
Nạn nhân bị bạo lực có thể bị tổn hại về tinh thần, sức khoẻ, thậm chí là tính mạng Đối với những nạn nhân bị tổn hại về sức khoẻ cần được cấp cứu kịp thời và chăm sóc tại các cơ sở khám, chữa bệnh Chi phí y tế cho việc cấp cứu và chăm sóc nạn nhân bạo lực tại các cơ sở khám, chữa bệnh được xác định tuỳ từng trường hợp Chẳng hạn,
Trang 3những nạn nhân có tham gia bảo hiểm y tế
và trẻ em dưới 6 tuổi thì sẽ được hưởng bảo
hiểm y tế theo quy định của pháp luật về
bảo hiểm y tế trong thời gian điều trị, những
đối tượng khác có thể nhận được sự trợ giúp
từ cộng đồng xã hội hoặc từ chính sách trợ
giúp xã hội về y tế do Nhà nước quy định
nếu đủ điều kiện.(1)
Việc chăm sóc nạn nhân bị bạo lực tại
các cơ sở khám, chữa bệnh không chỉ về thể
chất mà còn giúp họ hồi phục tinh thần Vì
vậy, ngoài việc chữa trị cho nạn nhân như
những bệnh nhân thông thường, cơ sở khám
chữa bệnh còn phải đóng vai trò là người tư
vấn, góp phần xoa dịu nỗi đau tinh thần của
nạn nhân bị bạo lực, nhất là những nạn nhân
bị bạo lực gia đình hoặc bị xâm hại tình dục
Trường hợp cần phải giữ bí mật thông
tin về nạn nhân và về bạo lực, cơ sở khám
chữa bệnh phải thực hiện yêu cầu này Tuy
nhiên, nếu phát hiện dấu hiệu tội phạm, cơ
sở khám chữa bệnh cần phải báo ngay cho
cơ quan công an nơi gần nhất giải quyết
Việc làm này không bị coi là vi phạm nghĩa
vụ giữ bí mật thông tin về bạo lực, bởi nếu
có dấu hiệu tội phạm thì hành vi bạo lực
không chỉ xâm hại đến thể chất, tinh thần và
kinh tế của nạn nhân bị bạo lực mà nó còn
là hành vi nguy hiểm, xâm hại đến lợi ích
chung của xã hội cần phải được phát hiện,
ngăn chặn và xử lí kịp thời
- Hỗ trợ khẩn cấp các nhu cầu thiết yếu
cho nạn nhân là phụ nữ và trẻ em bị bạo lực
Không ít nạn nhân bị bạo lực có điều
kiện kinh tế khó khăn hoặc không nhận
được sự chăm sóc của người thân Vì vậy,
ngoài việc tư vấn, chăm sóc sức khoẻ cần phải hỗ trợ các nhu cầu thiết yếu để họ có thể duy trì cuộc sống tối thiểu hàng ngày và nhanh chóng thoát khỏi tình trạng khốn khó
do bị bạo lực
Hình thức hỗ trợ có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật (lương thực, thực phẩm,
đồ dùng sinh hoạt hàng ngày ) hoặc kết hợp
cả hai, việc hỗ trợ có thể mang tính đột xuất (một lần) hoặc cần được thực hiện thường xuyên (hàng tháng) tuỳ vào nhu cầu thực tế của từng đối tượng
Trách nhiệm thực hiện việc hỗ trợ cho các nạn nhân bị bạo lực thuộc về uỷ ban nhân dân cấp xã, uỷ ban mặt trận tổ quốc và các tổ chức xã hội cùng cấp, các cơ sở trợ giúp xã hội (bảo trợ xã hội) và cộng đồng xã hội Nếu việc hỗ trợ được thực hiện từ nguồn kinh phí của ngân sách nhà nước hoặc các quỹ xã hội do Nhà nước quản lí thì cần phải xét điều kiện của đối tượng cần trợ giúp đồng thời phải tuân thủ các quy định về mức trợ giúp, thủ tục trợ giúp và các quy định khác có liên quan.(2)
Riêng những nạn nhân bị bạo lực là đối tượng đang tham gia bảo hiểm xã hội thì trong thời gian điều trị do bị bạo lực sẽ được hưởng trợ cấp ốm đau theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.(3)
2 Biện pháp hành chính
- Buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực
Chấm dứt ngay hành vi bạo lực sẽ ngăn chặn và giảm bớt thiệt hại về vật chất và tinh thần do hành vi bạo lực gây ra cho phụ
nữ và trẻ em Trách nhiệm chấm dứt ngay hành vi bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em
Trang 4thuộc về người có mặt tại nơi xảy ra bạo
lực Tuy nhiên, không phải bao giờ việc làm
này cũng dễ dàng Trong thực tiễn hành
động này có thể không được chú trọng,
thậm chí có thể bị “làm ngơ” vì nhiều lí do
khác nhau Chẳng hạn, người chứng kiến
bạo lực sức khoẻ yếu hơn người có hành vi
bạo lực hoặc là con, cháu, người lệ thuộc
vào người đang có hành vi bạo lực đối với
phụ nữ và trẻ em Trong xã hội hiện nay
cũng không ít người chứng kiến cảnh bạo
lực, có khả năng và điều kiện để thực hiện
trách nhiệm buộc chấm dứt ngay hành vi
bạo lực nhưng họ lại thực hiện phương
châm “tránh voi chẳng xấu mặt nào” theo
chiều hướng tiêu cực Trong tất cả những
trường hợp này, nếu họ thực hiện trách
nhiệm báo tin cho các cơ quan có trách
nhiệm thì hành vi bạo lực vẫn có thể được
ngăn chặn và xử lí Trường hợp bạo lực đối
với em Huỳnh Thị Ngọc Trâm ở Đồng
Tháp, em Nguyễn Thị Bình ở Hà Nội, em
Hồ Phi Hiền ở Đắc Lắc, cháu Nguyễn Thị
Hảo ở Bình Phước và nhiều vụ học sinh bị
đánh đập dã man tại các trường mầm non,
tiểu học ở nước ta thời gian qua là những
câu chuyện đau lòng và cũng là bài học cần
nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc thực
hiện biện pháp này nói riêng và việc bảo vệ,
trợ giúp nạn nhân bị bạo lực nói chung
- Cấm người có hành vi bạo lực tiếp xúc
với nạn nhân
Cấm người có hành vi bạo lực tiếp xúc
với nạn nhân một mặt để tránh gây hoảng
loạn cho nạn nhân, mặt khác để phòng ngừa
tái bạo lực có thể xảy ra Biện pháp cấm
tiếp xúc bao gồm cấm người có hành vi bạo lực đến gần nạn nhân hoặc sử dụng điện thoại hay các thông tin liên lạc khác để có hành vi bạo lực với nạn nhân (điểm đ khoản
1 Điều 19 Luật phòng, chống bạo lực gia đình) Biện pháp này cũng có thể áp dụng tương tự cho việc bảo vệ phụ nữ và trẻ em
là nạn nhân bị bạo lực trong lao động hoặc ngoài xã hội Theo Điều 20, 21 Luật phòng, chống bạo lực gia đình, chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp xã và toà án nhân dân ra quyết định cấm tiếp xúc đối với nạn nhân bị bạo lực gia đình Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp
xã nơi xảy ra bạo lực (trong thời gian 12 giờ
kể từ khi nhận đơn yêu cầu) hoặc toà án nhân dân (trong quá trình giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân và người có hành vi bạo lực) quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc khi có đủ các điều kiện: Có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc; hành vi bạo lực gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe doạ tính mạng của nạn nhân; người có hành vi bạo lực và nạn nhân có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc Quyết định cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi kí và được gửi cho người có hành vi bạo lực gia đình, nạn nhân bạo lực gia đình, người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi cư trú của nạn nhân bạo lực gia đình Riêng quyết định của toà án còn phải gửi cho chủ tịch
uỷ ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực Thời hạn cấm tiếp xúc theo quyết định của chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp xã không quá
3 ngày và theo quyết định của toà án nhân dân không quá 4 tháng Quyết định cấm
Trang 5tiếp xúc được huỷ bỏ khi có đơn yêu cầu
của nạn nhân hoặc khi nhận thấy biện pháp
này không còn cần thiết Trong trường hợp
gia đình có việc tang lễ, cưới hỏi hoặc các
trường hợp đặc biệt khác mà người có hành
vi bạo lực và nạn nhân phải tiếp xúc với
nhau thì người có hành vi bạo lực phải báo
cáo với người đứng đầu cộng đồng dân cư
nơi cư trú của nạn nhân Người có hành vi
bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm
tiếp xúc có thể bị tạm giữ hành chính, xử
phạt vi phạm hành chính
Khi nhận được quyết định cấm tiếp xúc
của chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc
của toà án có thẩm quyền thì người đứng đầu
cộng đồng dân cư phối hợp với tổ chức có
liên quan ở cơ sở để phân công người giám
sát việc thực hiện quyết định cấm tiếp xúc
Người được phân công giám sát theo dõi
việc thực hiện quyết định cấm tiếp xúc giữa
người có hành vi bạo lực và nạn nhân
Trường hợp phát hiện người có hành vi bạo
lực tiếp xúc với nạn nhân thì yêu cầu người
có hành vi bạo lực thực hiện nghiêm chỉnh
quyết định cấm tiếp xúc Trường hợp người
có hành vi bạo lực vẫn cố tình tiếp xúc với
nạn nhân thì người được phân công giám sát
báo cáo cho người đứng đầu cộng đồng dân
cư để có biện pháp buộc người có hành vi
bạo lực chấm dứt hành vi của mình Trong
trường hợp người có hành vi bạo lực được
tiếp xúc với nạn nhân vì gia đình có việc
tang lễ, cưới hỏi hoặc các trường hợp đặc
biệt khác thì các thành viên gia đình có trách
nhiệm giám sát để bảo đảm không xảy ra
bạo lực gia đình
- Xử lí vi phạm kỉ luật lao động người có hành vi bạo lực với phụ nữ và trẻ em
Trong môi trường lao động, các hành vi bạo lực có thể xảy ra giữa người quản lí với nhân viên của họ (như: người quản lí đánh đập, xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm của nhân viên, buộc nhân viên làm việc quá sức hoặc buộc nhân viên làm những công việc trái với giới tính ) hoặc giữa nhân viên với nhân viên (như: đánh đập, cô lập đồng nghiệp khác ) Trong nhiều trường hợp, nạn nhân của tình trạng này chính là phụ nữ và trẻ em Những hành
vi này vừa là hành vi vi phạm pháp luật, vừa là hành vi vi phạm kỉ luật lao động Vì vậy, những người lao động có hành vi bạo lực trong quá trình lao động có thể bị xử lí
vi phạm kỉ luật lao động
Việc xử lí vi phạm kỉ luật lao động đối với những người lao động có hành vi bạo lực đối với cấp dưới hoặc đồng nghiệp của mình vừa có tác dụng trừng phạt đối với người có hành vi bạo lực, vừa có tác dụng giáo dục đối với chính người đó và những người lao động khác, phòng tránh bạo lực trong môi trường lao động
Tuỳ vào mức độ vi phạm và tuỳ vào người có hành vi bạo lực mà lựa chọn hình thức kỉ luật phù hợp Đối với những người
có hành vi bạo lực là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước thì có thể bị khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức hoặc buộc thôi việc Đối với người có hành vi bạo lực là người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì có thể bị khiển trách, kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng,
Trang 6chuyển làm công việc khác có mức lương
thấp hơn trong thời hạn tối đa là 6 tháng,
cách chức hoặc sa thải.(4)
- Xử phạt hành chính người có hành vi bạo
lực đối với phụ nữ và trẻ em
Người có hành vi bạo lực với phụ nữ và
trẻ em nếu chưa đến mức bị truy cứu trách
nhiệm hình sự thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành
chính Hiện nay, việc xử phạt hành chính
người có hành vi bạo lực đối với trẻ em được
quy định tại Nghị định của Chính phủ số
114/2006/NĐ-CP ngày 03/10/2006 Các
hành vi bạo lực đối với trẻ em bị xử lí bao
gồm: Buộc trẻ em mua, bán, sử dụng văn
hoá phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi
truỵ (Điều 16); hành hạ, ngược đãi, làm nhục
trẻ em (Điều 17); áp dụng các biện pháp có
tính chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân
phẩm hoặc dùng nhục hình đối với trẻ em vi
phạm pháp luật (Điều 21) Tuy nhiên, Nhà
nước lại chưa quy định cụ thể về xử phạt
hành chính đối với hành vi bạo lực với phụ
nữ Hiện nay, chỉ có quy định mang tính
nguyên tắc về việc xử phạt hành chính đối
với hành vi vi phạm pháp luật về phòng,
chống bạo lực gia đình, quản lí và sử dụng
lao động lao động nữ
Việc xử phạt hành chính đối với người
có hành vi bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em
nhằm trừng phạt người có hành hành vi bạo
lực và ngăn chặn hành vi bạo lực là chính
Tuy nhiên, việc làm này cũng có tác dụng
trong việc bảo vệ phụ nữ và trẻ em bị bạo
lực ở mức độ nhất định
3 Biện pháp hình sự
Người có hành vi bạo lực đối với phụ nữ
và trẻ em có thể bị truy cứu trách nhiệm hình
sự theo quy định của Bộ luật hình sự năm
1999 và pháp luật tố tụng hình sự
Cũng như biện pháp xử phạt hành chính
đã đề cập ở trên, biện pháp này chủ yếu nhằm trừng trị, ngăn chặn nạn bạo lực nói chung và bạo lực đối với phụ nữ, trẻ em nói riêng Mục đích bảo vệ phụ nữ và trẻ em bị bạo lực thông qua biện pháp này thể hiện ở chỗ trả lại sự công bằng cần thiết cho nạn nhân và xã hội, cách li nạn nhân với người
có hành vi bạo lực, giáo dục nạn nhân để phòng tránh việc tái bạo lực, giáo dục và cảnh báo về hành vi bạo lực đối với những người xung quanh
4 Các biện pháp khác
Ngoài các biện pháp trên đây, việc bảo
vệ và trợ giúp nạn nhân là phụ nữ, trẻ em bị bạo lực còn có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác tuỳ từng đối tượng, trường hợp và hoàn cảnh cụ thể, như: Bố trí cho nạn nhân bạo lực tạm lánh trong một thời gian cần thiết, buộc người có hành vi bạo lực bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần cho nạn nhân bị bạo lực, nhận nuôi dưỡng nạn nhân bị bạo lực, nhận trẻ em bị bạo lực làm con hoặc nhận làm gia đình thay thế cho nạn nhân này
Nhà nước và cộng đồng xã hội có thể xây dựng những nhà tạm lánh hoặc tạo những địa chỉ tin cậy trong cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em cũng như các nạn nhân bạo lực khác tạm lánh trong một thời gian nhất định Việc tổ chức cho nạn nhân bạo lực tạm lánh giúp nạn nhân tách khỏi người có hành
vi bạo lực, giảm bớt hậu quả do bạo lực gây
Trang 7ra đồng thời tạo cơ hội cho việc trợ giúp và
chia sẻ của cộng đồng, giúp chính bản thân
nạn nhân bình tĩnh để có thể tìm ra cách ứng
xử hợp lí nhằm thoát khỏi tình trạng bạo lực
trong hiện tại và tương lai Mặt khác, buộc
người có hành vi bạo lực bồi thường cho nạn
nhân bạo lực nhằm bù đắp những tổn thất về
vật chất và tinh thần cho nạn nhân đồng thời
cũng là biện pháp giáo dục, giúp “thủ phạm”
điều chỉnh hành vi ứng xử của mình theo
hướng tích cực hơn Việc bồi thường thiệt
hại sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ
luật dân sự năm 2005 và các văn bản pháp
luật có liên quan Riêng bạo lực đối với phụ
nữ và trẻ em trong lĩnh vực lao động thì việc
bồi thường thiệt hại có thể được thực hiện
theo quy định của pháp luật lao động
Nhà nước và xã hội luôn khuyến khích
những cá nhân, hộ gia đình, tổ chức, cơ quan
nhận chăm sóc nạn nhân bạo lực Những
năm vừa qua ở Việt Nam không ít các doanh
nghiệp, gia đình, cá nhân đã đóng vai trò là
“nhà hảo tâm” che chở, đào tạo, giải quyết
công ăn việc làm cho các nạn nhân bị bạo
lực, đặc biệt với những nạn nhân là trẻ em
Để phát huy tối đa tác dụng của các
biện pháp bảo vệ, trợ giúp nạn nhân là phụ
nữ và trẻ em bị bạo lực đã phân tích ở trên
cần đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công
tác tuyên truyền về bạo lực và hậu quả của
bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em; làm tốt
công tác tư vấn về bạo lực, đặc biệt là tư
vấn cho nạn nhân là phụ nữ và trẻ em; sớm
ban hành văn bản pháp luật quy định về xử
phạt hành chính đối với hành vi bạo lực gia
đình; tăng cường trách nhiệm của các cơ
quan, tổ chức hữu quan trong việc phòng, chống bạo lực và bảo vệ, trợ giúp nạn nhân
là phụ nữ và trẻ em bị bạo lực; đầu tư tài chính và tạo các điều kiện vật chất cần thiết cho việc bảo vệ, trợ giúp nạn nhân là phụ nữ và trẻ em bị bạo lực
(1).Xem: Nghị định của Chính phủ số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 ban hành Điều lệ bảo hiểm y tế; Thông tư liên tịch Bộ y tế - Bộ tài chính số 21/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 27/7/2005 hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc; Thông tư liên tịch
Bộ y tế - Bộ tài chính số 16/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 06/12/2006 sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch
số 21/2005/TTLT-BYT-BTC; Thông tư liên tịch Bộ y tế-Bộ tài chính số 06/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 30/3/2007 hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế tự nguyện; Thông tư liên tịch Bộ y tế - Bộ tài chính số 14/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 10/12/2007 sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BYT-BTC; Nghị định của Chính phủ số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ
xã hội; Nghị định của Chính phủ số 148/2007/NĐ-CP ngày 25/9/2007 về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện; Thông tư của Bộ lao động, thương binh
và xã hội số 9/2007/TT-BLĐTBXH ngày 13/7/2007 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2007/NĐ-CP (2).Xem: Nghị định của Chính phủ số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; Nghị định của Chính phủ số 148/2007/NĐ-CP ngày 25/9/2007 về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện; Thông tư của Bộ lao động, thương binh
và xã hội số 9/2007/TT-BLĐTBXH ngày 13/7/2007 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 67/2007/NĐ-CP (3).Xem: Luật bảo hiểm xã hội ngày 29/11/2006; Nghị định của Chính phủ số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 hướng dẫn thi hành Luật bảo hiểm xã hội
về bảo hiểm xã hội bắt buộc
(4).Xem: Điều 39 Pháp lệnh cán bộ, công chức năm
1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2003), Điều 78 Luật cán
bộ, công chức năm 2008 và Điều 84 Bộ luật lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002)