Khoản 1 Điều 302 BLTTHS quy định: "Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tiến hành tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm l
Trang 1
Ths §ç ThÞ Ph−îng * huật ngữ pháp lí có vị trí rất quan trọng
trong kĩ thuật lập pháp Để xây dựng
văn bản pháp luật thành công thì ngoài tính
khả thi trong nội dung các điều luật, việc vận
dụng các thuật ngữ cho chuẩn xác, thống
nhất, đơn giản, dễ hiểu là yêu cầu không thể
thiếu được nhất là đối với những văn bản tố
tụng Thực tế cho thấy có những trường hợp
sai sót một số thuật ngữ pháp lí mà đã hiểu và
áp dụng không đúng các trình tự tố tụng dẫn
đến những vi phạm pháp luật nghiêm trọng
Nhận thức được tầm quan trọng của
thuật ngữ pháp lí trong các văn bản pháp luật
tố tụng, chúng tôi xin đề xuất một số ý kiến
cho việc sửa đổi thuật ngữ pháp lí trong
chương XXXII Bộ luật tố tụng hình sự
(BLTTHS) năm 2003 như sau:
1 “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là
người chưa thành niên” hay “người chưa
thành niên phạm tội”?
Khoản 1 Điều 302 BLTTHS quy định:
"Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tiến
hành tố tụng đối với người chưa thành niên
phạm tội phải là người có những hiểu biết
cần thiết về tâm lí học, về khoa học giáo dục
cũng như về hoạt động đấu tranh phòng và
chống tội phạm của người chưa thành niên".
Trong quy định trên, theo chúng tôi, việc sử
dụng thuật ngữ "người chưa thành niên
phạm tội" là chưa chính xác
Thứ nhất, theo Từ điển luật học,(1) khái
niệm người phạm tội được hiểu là "người có
đủ dấu hiệu của chủ thể của tội phạm đã thực hiện hành vi được luật hình sự quy định là tội phạm" Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định trong Chương X Bộ luật hình sự (BLHS) đồng thời theo những quy định khác của Chương này và theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này Còn trong BLTTHS, khái niệm
người bị tạm giữ là “người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ
đã có quyết định tạm giữ” (Điều 48), “bị can
là người đã bị khởi tố về hình sự” (Điều 49)
và “bị cáo là người đã bị toà án quyết định đưa ra xét xử” (Điều 50) Khái niệm người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo được xác định tuỳ thuộc vào từng giai đoạn khác nhau của trình
tự tố tụng và tuỳ thuộc vào quyết định tố tụng được áp dụng đối với họ Khi tham gia tố tụng, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được đảm bảo các quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTHS Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên là người từ đủ
14 tuổi đến dưới 18 tuổi tại thời điểm áp dụng các quy định của BLTTHS Do đó, thuật ngữ
T
* Giảng viên Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2người chưa thành niên phạm tội được sử dụng
trong các quy định của BLHS, còn trong quá
trình tiến hành tố tụng khi đã có quyết định
tạm giữ, quyết định khởi tố bị can hay quyết
định đưa vụ án ra xét xử của các cơ quan
tiến hành tố tụng thì phải sử dụng thuật ngữ
là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người
chưa thành niên
Thứ hai, chúng ta thấy người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo là người chưa thành niên, là
người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tại thời
điểm áp dụng các quy định của BLTTHS
Do đó, trong trường hợp một người vào thời
điểm thực hiện tội phạm là người chưa thành
niên nhưng khi họ bị phát hiện và trở thành
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo của vụ án
đang được giải quyết là người đã đủ 18 tuổi
thì không áp dụng theo thủ tục đặc biệt nữa
vì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đó đã là
người thành niên nên áp dụng các thủ tục
thông thường đối với họ Hơn nữa, các thủ
tục đặc biệt như bắt buộc phải có người bào
chữa, người đại diện hợp pháp, đại diện gia
đình, một hội thẩm nhân dân trong hội đồng
xét xử phải là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn
thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh… chỉ có ý
nghĩa áp dụng cho những người đang ở độ
tuổi chưa thành niên Vì vậy, khi người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo đã là người thành niên
thì áp dụng thủ tục tố tụng chung
Thứ ba, yêu cầu của khoản 1 Điều 302
BLTTHS đặt ra đối với những người tiến
hành tố tụng khi giải quyết những vụ án mà
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa
thành niên phải là người có những hiểu biết
về tâm lí học, khoa học giáo dục cũng như về
hoạt động đấu tranh phòng và chống tội phạm
của người chưa thành niên Do đó, việc sử
dụng thuật ngữ "người chưa thành niên phạm
tội" là không chính xác ở Điều luật này
Từ những phân tích trên chúng tôi kiến nghị thay cụm từ "người chưa thành niên phạm tội" bằng cụm từ "người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên" để đảm bảo sự chính xác trong khi dùng các thuật ngữ và đúng với nội dung, của điều luật Như vậy, khoản 1 Điều 302 BLTTHS sẽ được sửa đổi là: "Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tiến hành tố tụng về những
vụ án mà người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên phải là người có những hiểu biết cần thiết về tâm lí học, về khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng và chống tội phạm của người chưa thành niên."
Cũng tương tự như việc sử dụng thuật ngữ tại khoản 1 Điều 302 BLTTHS, trong khoản
1 Điều 304 BLTTHS đã nhắc lại thuật ngữ
“người chưa thành niên phạm tội” như sau:
“Cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà
án có thể ra quyết định giao người chưa thành niên phạm tội cho cha, mẹ hoặc người
đỡ đầu của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng” Theo quy định này, việc giám sát đối với người chưa thành niên được thực hiện trong các giai đoạn tố tụng vì họ phải đảm bảo sự có mặt theo “giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng” Như chúng tôi đã phân tích ở trên về thuật ngữ và khái niệm bị can, bị cáo là người chưa thành niên khi tham gia vào các hoạt động tố tụng cho nên việc sử dụng thuật ngữ: “người chưa thành niên phạm tội” ở trong điều luật này cũng không chính xác Vì vậy, cần sửa lại thuật ngữ này như sau: “Cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án có thể
ra quyết định giao bị can, bị cáo là người
Trang 3chưa thành niên cho cha, mẹ hoặc người đỡ
đầu của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt
của bị can, bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ
quan tiến hành tố tụng”
2 “Người đỡ đầu” hay “người giám hộ”?
Theo quy định tại Điều 304 BLTTHS thì
chủ thể được giao nhiệm vụ giám sát là cha,
mẹ hoặc người đỡ đầu của bị can, bị cáo là
người chưa thành niên
Nếu theo quy định của Điều 46, 47, 48
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 thì
"người đỡ đầu" có thể được cha mẹ cử, nếu
cha mẹ không cử được thì những người thân
thích có thể cử người đỡ đầu cho người đó
Việc cử người đỡ đầu do uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn công nhận Nhưng trong Luật
hôn nhân và gia đình năm 2001 thuật ngữ
"người đỡ đầu" đã được thay thế bằng thuật
ngữ "người giám hộ" phù hợp với quy định
của Bộ luật dân sự năm 1995 Do đó, để thống
nhất sử dụng thuật ngữ trong luật tố tụng hình
sự với các ngành luật khác, chúng tôi kiến nghị
thay thế cụm từ "người đỡ đầu" thành cụm từ
"người giám hộ” ở Điều 304 BLTTHS
Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến
nghị sửa đổi khoản 1 Điều 304 BLTTHS
như sau: "Cơ quan điều tra, viện kiểm sát và
toà án có thể ra quyết định giao bị can, bị
cáo là người chưa thành niên cho cha, mẹ
hoặc người giám hộ của họ giám sát để bảo
đảm sự có mặt của bị can, bị cáo khi có giấy
triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng”
3 “Người chưa thành niên phạm tội” hay
“người bị kết án là người chưa thành niên”?
Điều 308 BLTTHS quy định:
“1 Người chưa thành niên phạm tội
chấp hành hình phạt tù theo chế độ giam giữ
riêng do pháp luật quy định Không được
giam giữ chung người chưa thành niên với
người thành niên
2 Người chưa thành niên bị kết án phải được học nghề hoặc học văn hoá trong thời gian chấp hành hình phạt tù
3 Nếu người chưa thành niên đang chấp hành hình phạt tù đã đủ mười tám tuổi thì phải chuyển người đó sang chế độ giam giữ người đã thành niên
4 Đối với người chưa thành niên đã chấp hành xong hình phạt tù, ban giám thị trại giam phải phối hợp với chính quyền và tổ chức xã hội ở xã, phường, thị trấn để giúp người đó trở về sống bình thường trong xã hội”
Chỉ trong một điều luật quy định về việc chấp hành tù của người bị kết án là người chưa thành niên nhưng cách sử dụng thuật ngữ về người chưa thành niên lại không có
sự thống nhất Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, hình phạt tù đối với người bị kết
án là người chưa thành niên được đưa ra thi hành Người bị kết án là người chưa thành niên phải chấp hành mọi quy định của pháp luật về việc thi hành án Tuy nhiên, là chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự nên người bị kết án là người chưa thành niên được hưởng một số chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam Tại thời điểm này họ là người bị kết án Thuật ngữ
“người bị kết án” được sử dụng trong pháp luật tố tụng hình sự để chỉ người đang phải chấp hành bản án hoặc quyết định của toà án còn “người chưa thành niên phạm tội” là thuật ngữ được sử dụng trong luật hình sự để xác định một người thực hiện hành vi phạm
tội Điều 9 BLTTHS quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa
có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật” Nguyên tắc này cho chúng ta thấy một người chỉ bị coi là có tội khi có bản
Trang 4án kết tội có hiệu lực pháp luật của toà án và
trong trường hợp đó hai khái niệm: “người có
tội” (hoặc có thể hiểu là người phạm tội) và
“người bị kết án” có những nét tương đồng
Nhưng nếu như các cơ quan tiến hành tố tụng
điều tra, truy tố, xét xử oan người vô tội thì
mặc dù họ là “người bị kết án”, đang phải
chấp hành bản án có hiệu lực pháp luật của
toà án nhưng họ vẫn không phải là “người có
tội” Từ những phân tích này, chúng tôi cho
rằng sử dụng thuật ngữ “người bị kết án là
người chưa thành niên” trong Điều 308 là hợp
lí nhất Bên cạnh đó cần thống nhất chung sử
dụng thuật ngữ này cho cả điều luật, không
nên chỉ sử dụng thuật ngữ “người chưa thành
niên” vì sử dụng như vậy quá chung chung
với một chủ thể trong quá trình tố tụng Ngoài
ra, đề nghị bỏ từ "đã" trong cụm từ "người đã
thành niên" ở khoản 3 Điều 308 Bởi vì, với
cụm từ "người thành niên" là đã nhằm chỉ
người từ đủ 18 tuổi trở lên
Về cách sử dụng thuật ngữ này, chúng ta
cũng gặp trường hợp tương tự trong Điều 310
BLTTHS: “Việc xoá án tích đối với người
chưa thành niên phạm tội khi có đủ điều kiện
quy định tại Điều 77 của Bộ luật hình sự
được tiến hành theo thủ tục chung” Điều 63
Bộ luật hình sự quy định: “Người bị kết án
được xoá án tích theo các điều từ Điều 64
đến Điều 67 của Bộ luật này” Và theo quy
định trong Điều 271 BLTTHS về thủ tục “xoá
án tích do toà án quyết định” thì người được
toà án xem xét, quyết định việc xoá án tích là
“người bị kết án”; “…người bị kết án phải có
đơn gửi toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án kèm
theo nhận xét của chính quyền xã, phường,
thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú
hoặc làm việc” (khoản 1 Điều 271) Tại thời
điểm xem xét để xoá án tích, người bị kết án
đã chấp hành xong bản án của toà án hoặc chưa chấp hành xong (xoá án tích trong trường hợp đặc biệt) Như vậy trong cả BLHS
và BLTTHS đều nhất quán sử dụng thuật ngữ
“người bị kết án” đối với thủ tục xoá án tích
Để thống nhất với cách sử dụng thuật ngữ này, chúng tôi cho rằng cần phải sửa thuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội” thành
“người bị kết án là người chưa thành niên” để đảm bảo tính chính xác và thống nhất trong cách sử dụng thuật ngữ Như vậy, Điều 308
và Điều 310 nên được sửa đổi như sau: Điều 308:
“1 Người bị kết án là người chưa thành niên chấp hành hình phạt tù theo chế độ giam giữ riêng do pháp luật quy định Không được giam giữ chung người chưa thành niên với người thành niên
2 Người bị kết án là người chưa thành niên phải được học nghề hoặc học văn hoá trong thời gian chấp hành hình phạt tù
3 Nếu người bị kết án là người chưa thành niên đang chấp hành hình phạt tù đã
đủ mười tám tuổi thì phải chuyển người đó sang chế độ giam giữ người thành niên
4 Đối với người bị kết án là người chưa thành niên đã chấp hành xong hình phạt tù, ban giám thị trại giam phải phối hợp với chính quyền và tổ chức xã hội ở xã, phường, thị trấn để giúp người đó trở về sống bình thường trong xã hội”
Điều 310:
“Việc xoá án tích đối với người bị kết án
là người chưa thành niên khi có đủ điều kiện
quy định tại Điều 77 của Bộ luật hình sự được tiến hành theo thủ tục chung”./
(1).Xem: Viện khoa học pháp lí, Bộ tư pháp, “Từ điển
luật học”, năm 2006