Trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải gắn liền với phát triển kinh tế tri thức. Việc hướng nghiệp là đòi hỏi tất yếu, khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay. Trong kinh tế tri thức, tri thức là yếu tố chủ yếu của sản xuất, là lợi thế của cạnh tranh, là chất lượng của nguồn nhân lực, là sức mạnh của nội lực và là sức hút chủ yếu của ngoại lực. Chất lượng nguồn nhân lực, tri thức con người phải thông qua giáo dục và đào tạo mới có được. Chính sách hướng nghiệp không chỉ làm tăng hàm lượng chất xám và nguồn vốn tri thức trong quá trình sản xuất, làm tăng chất lượng nguồn nhân lực, mà còn tạo cơ sở để đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả của sản xuất, kinh doanh. Nghề nghiệp là một phần quan trọng trong cuộc đời mỗi chúng ta, vì vậy có những người học một ngành nhưng cuối cùng lại chọn nghề nghiệp khác, cũng có những người làm rất nhiều công ty rồi mới tìm được chốn dừng chân. Có lẽ vậy nên tự định hướng nghề nghiệp cho bản thân là điều bất kỳ bạn trẻ nào cũng cần chuẩn bị. Các chính sách hướng nghiệp được nhà nước ban hành đều hướng tới việc định hướng đúng đắn cho nguồn nhân lực trẻ của quốc gia, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng của đất nước. Với mục tiêu tìm hiểu về nghề nghiệp, các hoạt động định hướng và lựa chọn nghề nghiệp cho nguồn nhân lực Việt Nam, nhóm chúng em đã tìm hiểu đề tài “Nghiên cứu chính sách hướng nghiệp của Việt Nam”.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP
***
BÀI THẢO LUẬN MÔN: QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC XÃ HỘI
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH HƯỚNG NGHIỆP
CỦA VIỆT NAM
Hà Nội - 2022
Trang 2MỤC LỤC Lời mở đầu……….……… 3
Chương 1: Cơ sở lý thuyết……… …… …… 4
1.1 Một số khái niệm cơ bản……… …… 4
1.2 Mục tiêu của hoạt động hướng nghiệp……….…… 4
1.3 Vai trò của chính sách hướng nghiệp……….……… 5 1.4 Ảnh hưởng của chính sách hướng nghiệp tới đặc điểm NNL VN.….…….… 6 Chương 2: Thực trạng chính sách hướng nghiệp ở Việt Nam……….…… 8
2.1 Tổng quan chính sách hướng nghiệp tại Việt Nam……….… 8
2.1.1 Nhu cầu hướng nghiệp tại Việt Nam
2.3.1 Tầm quan trọng của công tác giáo dục hướng nghiệp, phân luồng học sinh 13
Trang 32.4 Thực trạng công tác hướng nghiệp tại Việt Nam……… … 19
Chương 3: Kiến nghị, giải pháp……… 22
3.1 Đánh giá về chính sách hướng nghiệp tại Việt Nam……… … 22
3.1.1 Ưu điểm……… 22 3.1.2 Nhược điểm……… ……… 23
3.2 Kiến nghị và giải pháp……… 24
3.2.1 Đối với Nhà nước……… ……
24
3.2.2 Đối với Nhà trường, gia điình và bản thân HSSV……… …
25
Kết luận……… …… 27
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá phải gắn liền với phát triển kinh tế tri thức Việc hướng nghiệp là đòi hỏitất yếu, khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay Trong kinh
tế tri thức, tri thức là yếu tố chủ yếu của sản xuất, là lợi thế của cạnh tranh, là chấtlượng của nguồn nhân lực, là sức mạnh của nội lực và là sức hút chủ yếu của ngoạilực Chất lượng nguồn nhân lực, tri thức con người phải thông qua giáo dục và đào tạo
mới có được Chính sách hướng nghiệp không chỉ làm tăng hàm lượng chất xám và
nguồn vốn tri thức trong quá trình sản xuất, làm tăng chất lượng nguồn nhân lực, màcòn tạo cơ sở để đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng lựccạnh tranh và hiệu quả của sản xuất, kinh doanh
Nghề nghiệp là một phần quan trọng trong cuộc đời mỗi chúng ta, vì vậy cónhững người học một ngành nhưng cuối cùng lại chọn nghề nghiệp khác, cũng cónhững người làm rất nhiều công ty rồi mới tìm được chốn dừng chân Có lẽ vậy nên tựđịnh hướng nghề nghiệp cho bản thân là điều bất kỳ bạn trẻ nào cũng cần chuẩn bị.Các chính sách hướng nghiệp được nhà nước ban hành đều hướng tới việc định hướngđúng đắn cho nguồn nhân lực trẻ của quốc gia, góp phần nâng cao chất lượng nguồnnhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càngsâu rộng của đất nước Với mục tiêu tìm hiểu về nghề nghiệp, các hoạt động địnhhướng và lựa chọn nghề nghiệp cho nguồn nhân lực Việt Nam, nhóm chúng em đã tìm
hiểu đề tài “Nghiên cứu chính sách hướng nghiệp của Việt Nam”.
Bài thảo luận của nhóm gồm có 3 nội dung chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyếtChương 2: Thực trạng chính sách hướng nghiệp ở Việt NamChương 3: Kiến nghị, giải pháp
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Một số khái niệm cơ bản.
Theo tác giả Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể
chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãimột hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thựchiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”
Hướng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa và phát triển
chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân, đồng thời thỏa mãnnhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở cấp độđịa phương và quốc gia
Thuật ngữ hướng nghiệp (career mentoring) nếu được hiểu chính xác nó là sự
kết hợp của nhiều lĩnh vực như: đánh giá nghề nghiệp (career assessment), quản
lý nghề nghiệp (career management), phát triển nghề nghiệp (career development)
Chính sách hướng nghiệp: là một hệ thống nguyên tắc trong việc hỗ trợ người
lao động phát triển và đào tạo theo chuyên môn ngành nghề nằm trong khả năng củangười lao động và tạo điều kiện thỏa mãn nguồn nhân lực trong các lĩnh vực
1.2 Mục tiêu của hoạt động hướng nghiệp
- Hoạt động tìm hiểu nghề nghiệp
+ Phân loại được các nhóm nghề cơ bản; chỉ ra được đặc trưng, yêu cầu của từng nhóm nghề
+ Phân tích được yêu cầu của nhà tuyển dụng về phẩm chất và năng lực của người lao động
+ Giải thích được ý nghĩa của việc đảm bảo an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp của người lao động
+ Sưu tầm được tài liệu về xu hướng phát triển nghề trong xã hội và thị trường lao động
- Hoạt động rèn luyện phẩm chất, năng lực phù hợp với định hướng nghề nghiệp
+ Đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân đối với từng nhóm nghề vàchỉ ra được phẩm chất và năng lực của bản thân phù hợp hoặc không phù hợp với nhóm nghề, nghề lựa chọn
+ Đánh giá được khó khăn, thuận lợi trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạchrèn luyện theo nhóm nghề lựa chọn
+ Đề xuất được giải pháp học tập, rèn luyện theo định hướng nghề nghiệp
Trang 6- Hoạt động lựa chọn hướng nghề nghiệp và lập kế hoạch học tập theo định hướng nghề nghiệp
+ Trình bày được các thông tin cơ bản về các trường trung cấp, cao đẳng, đại học liên quan đến nhóm nghề, nghề mà bản thân định lựa chọn
+ Tham vấn được ý kiến của thầy cô, gia đình, bạn bè về dự kiến ngành, nghề lựa chọn
+ Xác định được những trường đào tạo nghề liên quan đến việc học tập hướng nghiệp của bản thân
+ Xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập theo định hướng ngành, nghề lựa chọn
1.3 Vai trò của chính sách hướng nghiệp
Hướng nghiệp là bộ phận quan trọng của nền giáo dục phổ thông Thực hiệncông tác hướng nghiệp là một yêu cầu cần thiết của đối mới giáo dục nhằm thực hiệnmục tiêu, nguyên lý và nội dung giáo dục; góp phần nâng cao hiệu quả việc phân công
và sử dụng hợp lí nguồn nhân lực
Các chính sách hướng nghiệp được nhà nước ban hành đều hướng tới việc địnhhướng đúng đắn cho nguồn nhân lực trẻ của quốc gia, góp phần nâng cao chất lượngnguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngàycàng sâu rộng của đất nước
Các đề án được thông qua đều nhằm tạo những chuyển biến mạnh mẽ, đột phá
về chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong giáo dục phổ thông và đóng góp vào côngtác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và sau trung học phổ thông vào học phùhợp với các trình độ giáo dục để đáp ứng với nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạonguồn nhân lực quốc gia, hội nhập khu vực và quốc tế Và cũng là cơ sở quan trọng đểđiều tiết, phân luồng học sinh từ tốt nghiệp trung học cơ sở lên học các bậc học caohơn phù hợp và hiệu quả cho người học và xã hội; góp phần nâng cao nhận thức ngườidân và xã hội về vai trò của GDNN đối với phát triển kinh tế - xã hội
Thêm nữa, mặc dù cho tình hình việc làm cả nước có rất nhiều chuyển biếnnhưng câu chuyện thất nghiệp vẫn là chủ đề “hot” được nhiều bạn trẻ và các bậc phụhuynh quan tâm Giới phân tích cho rằng một trong những nguyên nhân chủ yếu củatình trạng thất nghiệp là sự “lệch pha” giữa nhu cầu của thị trường và mong muốn củangười học, cũng như thực tế đào tạo ở các trường, mà nguyên nhân sâu xa bắt nguồn
từ công tác hướng nghiệp ở nước ta trong những năm qua còn không ít những bất cập,xuất phát từ cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan, cả từ phía gia đình và xã hội Chínhsách hướng nghiệp đã góp phần đưa các bạn trẻ tới với đúng sở trường của mình, cóđược bước đi đúng đắn nhất trong tương lai, tránh việc chạy theo xu hướng
Trang 7Cùng với đó, Chính sách hướng nghiệp đúng đắn và đúng trọng tâm mục tiêucủa quốc gia cũng góp phần nâng cao chất lượng cho các cơ sở giáo dục đào tạo trongviệc xây dựng, ban hành chương trình đào tạo với khối các môn học chung, giáo trìnhđào tạo, lập kế hoạch, lựa chọn tiêu chí chất lượng đào tạo để thông tin và truyền thôngquảng bá trong tuyển sinh, tuyển dụng, khuyến khích đầu tư, hợp tác trong các hoạtđộng đào tạo cho phù hợp với điều kiện của mỗi trường đáp ứng với các chuẩn nghềnghiệp và yêu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp.
Chính sách nghề nghiệp chính là căn cứ để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủđộng và xác định mức độ tự chủ, đầu tư xây dựng, mua sắm, thuê, bố trí sử dụng diệntích công trình sự nghiệp theo quy định và lựa chọn hoặc khai thác các nguồn lực thựchiện chương trình đào tạo Các trường có chương trình đào tạo với mã nghề trong cácngành, nghề đã ban hành có cơ sở để tổ chức xây dựng và thẩm định danh mục thiết bịđào tạo tối thiểu cho trình độ cao đẳng, trình độ trung cấp, và là tiêu chuẩn xác định cơ
sở vật chất thực hành, thí nghiệm, thực nghiệm, định mức lao động, thiết bị nghề, vật
tư nghề để quản lý khai thác, mua sắm và sử dụng hiệu quả, nâng cao chất lượng vàhiệu quả trong đào tạo lao động
Các chính sách nghề nghiệp hướng tới việc đảm bảo được nguồn nhân lực phục
vụ nền kinh tế trong tương lai, đều giúp cho các cơ sở giáo dục đại học có đăng kýhoạt động GDNN trình độ cao đẳng, doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức, cá nhân cóliên quan, thúc đẩy việc học tập liên thông; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tintrong quản lý, tổ chức đào tạo, quản trị nhà trường (cơ sở xây dựng dữ liệu học liệu số,
số hóa văn bằng chứng chỉ), tuyển sinh trực tuyến, đào tạo trực tuyến; đào tạo từ xa…
Các chính sách đã được ban hành về cơ bản đều giúp các cơ sở giáo dục có căn
cứ và chủ động trong việc xây dựng, ban hành chương trình, giáo trình đào tạo, lập kếhoạch, lựa chọn chuẩn chất lượng đào tạo phù hợp, tổ chức thông tin và truyền thôngquảng bá trong tuyển sinh, tuyển dụng, khuyến khích đầu tư, hợp tác trong các hoạtđộng đào tạo phù hợp với điều kiện của mỗi trường đáp ứng với chuẩn nghề nghiệp vànhu cầu lao động
1.4 Ảnh hưởng của chính sách hướng nghiệp tới đặc điểm nguồn nhân lực Việt
Nam
Trong những năm vừa qua, nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhànước nhằm phát triển kinh tế, các chính sách hướng nghiệp được ban hành để đảm bảochất lượng và số lượng nhân lực phục vụ cho mục tiêu kinh tế
Việc phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và sau trung học phổ thông vàohọc phù hợp với các trình độ giáo dục đã được nâng cao, học sinh được đào tạo đúngvới trình độ và mong muốn, chất lượng chuẩn đầu ra đã được cải thiện Nhiều địaphương đã chủ động, sáng tạo trong việc tích hợp các chủ đề giáo dục hướng nghiệptrong chương trình giáo dục phổ thông gắn với dạy học các môn và tăng cường hoạt
Trang 8động trải nghiệm thực tế cho học sinh tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nông trại,làng nghề truyền thống nhằm định hướng phân luồng học sinh Các chương trình trảinghiệm lồng ghép trong chương trình giáo dục tại nhà trường đã tạo được sức lan tỏamạnh mẽ trong cộng đồng người dân địa phương; giúp công tác phân luồng học sinhsau trung học cơ sở tại một số địa phương đã đạt được một số kết quả nhất định, từngbước góp phần điều chỉnh cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triểnkinh tế - xã hội
Việc định hướng ngay từ đầu giúp giảm sự bất cập trong cơ cấu phân luồng,thúc đẩy nhân lực nước ta đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế và có xu hướng trởnên hợp lý hơn về tỷ lệ giữa đại học so với trung cấp chuyên nghiệp và công nhân kỹthuật Cơ cấu nhân lực cũng có những chuyển biến mới, không còn tập trung tại cácngành nghề xu hướng mà đã dịch chuyển sang những ngành nghề khác Do được địnhhướng ngay từ đầu ở các cấp trung học nên đã giảm đi tình trạng chọn nghề nghiệptheo xu hướng
Nhờ vào các chính sách đã ban hành, lấy đó làm cơ sở để xây dựng, bổ sung,chỉnh sửa và thẩm định, phê duyệt chương trình, giáo trình đào tạo sao cho phù hợp,đảm bảo đáp ứng được kiến thức cần có cho lao động sau khi tốt nghiệp cũng như làtăng cường các kỹ năng thực tế, giảm thiểu lý thuyết Đào tạo đúng đam mê và đúngchuyên môn và thị trường lao động giúp cho chất lượng nguồn nhân lực ngày càngđược nâng cao, năng lực nghề nghiệp tốt, năng suất lao động tăng
Có được hướng phát triển đúng đắn, chất lượng nhân lực tăng, số lượng nhânlực chênh lệch ở các ngành đã dần được cải thiện, đáp ứng được nhu cầu về nguồnnhân lực chất lượng cao, phục vụ tốt cho nhu cầu phát triển kinh tế đặc biệt là trongbối cảnh hội nhập hiện nay
Trang 9CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HƯỚNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 2.1 Tổng quan chính sách hướng nghiệp tại Việt Nam
2.1.1 Nhu cầu hướng nghiệp tại Việt Nam
Với giới trẻ, chọn nghề là bước đi đầu tiên, đồng thời là quyết định quan trọngnhất khi tiến vào ngưỡng cửa cuộc đời Tuy vậy, thực trạng tư vấn hướng nghiệp hiệnnay tại Việt Nam vẫn còn khá nhiều bất cập, dẫn đến cái giá quá đắt cho nhiều họcsinh khi đưa ra những quyết định sai lầm
Trong những năm trở lại đây, việc giáo dục hướng nghiệp sau trung học tại ViệtNam đã nhận được nhiều quan tâm hơn Tuy vậy, việc cung cấp thông tin về nghềnghiệp cũng như định hướng tương lai cho các em học sinh còn khá nhiều bất cập.Hiện các em đang gặp phải không ít khó khăn như thiếu sự đào tạo bài bản, khôngđược cập nhật thông tin, không am hiểu về thị trường lao động, giáo dục mang nặngtính lí thuyết, thiếu trải nghiệm … Đây cũng chính là các nguyên nhân dẫn đến thựctrạng tư vấn hướng nghiệp thiếu hiệu quả trong các trường trung học phổ thông hiệnnay
Thực trạng phổ biến mà chúng ta có thể thấy rõ được đó chính là rất nhiều bạntrẻ vẫn lúng túng trong việc chọn lựa nghề nghiệp cho bản thân mình mặc dù tầm quantrọng của việc chọn nghề là vô cùng quan trọng Đặc biệt là những bạn học sinh chuẩn
bị bước vào cánh cửa đại học nếu việc tư vấn hướng nghiệp sai lầm sẽ khiến cho nhiềubạn lúng túng khi bước ra khỏi trường đại học Điều này không chỉ ảnh hưởng đếntương lai của chính các em mà còn gây lãng phí thời gian, tài chính còn khiến có rấtnhiều bạn cảm thấy rằng mình học sai ngành học và cần phải học lại… Thế nên hướngnghiệp ở Việt Nam để chọn nghề chính là điều vô cùng quan trọng mà nhà trường, giađình cần phải có sự quan tâm đặc biệt
Ngoài ra bao lâu nay, chúng ta dễ dàng nhận thấy vẫn có rất nhiều người lầmtưởng rằng hướng nghiệp thi đại học chính là sự lựa chọn một nghề nghiệp nào đó mà
ta yêu thích hoặc chọn một trường đại học nào đó Thế nhưng rất dễ dẫn đến thực trạngkhông biết tương lai sẽ như thế nào nếu như không có sự tư vấn hướng nghiệp đúngđắn
Theo khảo sát cho thấy, nhu cầu hướng nghiệp của học sinh trung học phổthông cho kết quả, có đến 80% học sinh cho biết rất thiếu thông tin trước khi vào kỳtuyển sinh Cao đẳng – Đại học Các em học sinh cần được tư vấn hướng nghiệp, cungcấp những thông tin cần thiết để có cơ sở đưa ra các quyết định cho bản thân trong lựachọn nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp phổ thông Đặc biệt là các học sinh lớp 12 số nàylên đến 98%
Trang 10Cũng tại cuộc khảo sát trên đa số học sinh (khoảng 86%) cho rằng phải cố gắnghọc giỏi các môn học để chuẩn bị cho tương lai của mình Điều này có thể hiểu họcsinh – sinh viên cho rằng cần tập trung học tập cao độ là kế hoạch tốt cho tương lai màkhông chú ý đến kỹ năng sống Các kỹ năng như có cá tính, có khả năng lãnh đạo, biếtlàm việc độc lập, biết tham gia các hoạt động xã hội, có niềm đam mê một lĩnh vựcnào đó và có nhiều năng khiếu khác nhau không được học sinh – sinh viên quan tâmđến Trong khi đó, xu hướng của chương trình dạy học hiện đại từ lâu đã coi trọng kỹnăng, năng lực thực tiễn hơn là kiến thức.
Có thể thấy, điều mà nhiều học sinh trung học phổ thông tại Việt Nam nóichung cũng như các du học sinh nói riêng hiện nay cần hơn bao giờ hết chính là mộtquy trình tư vấn hướng nghiệp bài bản và khoa học
2.1.2 Định hướng phát triển nghề nghiệp
Định hướng phát triển nghề nghiệp là một khái niệm của chuyên ngành giáo
dục toàn diện, và liên tục được cập nhật để cung cấp cho các cá nhân (học sinh, sinhviên) tại các cơ sở đào tạo với các thông tin và kinh nghiệm, giúp họ có sự chuẩn bị tốtcho việc lựa chọn công việc trong tương lai
Định hướng nghề nghiệp tốt, vững chắc sẽ giúp bạn nhận ra mình có thế mạnh
ở lĩnh vực gì, phù hợp ngành nghề nào để có hướng đi cho phù hợp Việc lựa chọnđúng nghề nghiệp sẽ giúp bạn tiết kiệm được một khoảng thời gian cho việc quay lạihọc đúng ngành mà mình đã bỏ lỡ Không những thế, nó còn giúp bạn tiết kiệm đượcmột khoản chi phí khá lớn Ngoài ra, khi bạn chọn đúng ngành nghề và phát huy hếtkhả năng của mình thì bạn sẽ nhận được mức lương tương xứng với năng lực của bảnthân mình Bạn cần vạch ra những lựa chọn nghề khác nhau dựa vào: sở thích, tínhcách, năng lực, tỷ lệ việc làm, để không hối tiếc vì phải làm trái ngành hay bị thấtnghiệp sau khi hoàn thành khóa học
Thông thường, các học sinh lớp 12 sẽ có những buổi định hướng nghề nghiệpcho tương lai của mình Các bạn học sinh sẽ được hỏi về định hướng tương lai củamình để giáo viên hay những người định hướng sẽ biết được mong muốn, nguyệnvọng của học sinh mà tư vấn hướng đi cho phù hợp Các buổi định hướng nghề nghiệpthường chủ yếu xoay quanh về sở thích các môn học cũng như những lĩnh vực mà cácbạn học sinh cảm thấy thích Từ đó, có thể dựa vào kinh nghiệm đi trước để truyền lạicho các bạn học sinh lựa chọn ngành học cho đúng đắn Mỗi năm trên thế giới sẽ cókhoảng 500 nghề mới xuất hiện và 600 nghề sẽ biến mất Vì thế, nếu bạn không cóđịnh hướng nghề nghiệp vững chắc thì rất có thể bạn sẽ chọn sai con đường để đi đếntương lai của mình
Ngày nay, nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh chóng với sự phát triểncủa khoa học công nghệ, các ngành nghề mới liên tục ra đời, và đòi hỏi nhiều lao động
có trình độ chuyên môn cao
Trang 11Để thích ứng với giai đoạn này cũng như đáp ứng được với nhu cầu của thịtrường doanh nghiệp, các bạn trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên cần có ý thức về việcđịnh hướng đúng đắn cho nghề nghiệp trong tương lai của mình.
Trước đây, việc định hướng nghề nghiệp không được chú trọng, chỉ mang tínhkhái quát chung chung cho một nhóm nghề cho mọi người Tuy nhiên việc định hướngone-fit-all đã không còn hữu ích, mỗi một nghề nghiệp, mỗi cá nhân đề có những đặcđiểm, yêu cầu, mong đợi khác nhau nên việc cá nhân hoá hướng đi nghề nghiệp trởnên quan trọng hơn bao giờ hết, để tránh tình trạng chạy theo đám đông, bị ảnh hưởngbởi thiên kiến theo xu hướng ngành hot của xã hội
Việc định hướng phát triển nghề nghiệp hợp lý thể hiện bạn là một người có
trách nhiệm và quyết định thành công trong tương lai Bạn có những mục tiêu rõ ràngtrên con đường đã chọn, bạn biết bạn cần làm gì để nhanh chóng hiện thực hóa cácmục tiêu đó, bạn biết được đâu là cơ hội và nắm bắt nó, và đến gần hơn với mongmuốn thành công trong sự nghiệp
2.2 Tổng quan một số chính sách hướng nghiệp ở Việt Nam
2.2.1 Các điều luật trong chính sách hướng nghiệp
- Căn cứ pháp lý các điều luật:
+ Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 sau đây gọi làLuật Giáo dục năm 2019
+ Nghị định số 84/2020/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2020 của Chính phủ quyđịnh chi tiết một số điều của Luật Giáo dục
Hướng nghiệp là một quá trình liên tục tác động từ khi người học còn ngồi học
ở bậc phổ thông, qua quá trình trao dồi chuyên môn nghề nghiệp và tìm được nơi laođộng phù hợp Ở một góc độ khác, hướng nghiệp có hiệu quả tạo ra một lực lượng laođộng có định hướng rõ ràng, do vậy họ có năng lực nghề nghiệp tốt, làm tăng năngsuất lao động, góp phần cho sự phát triển về Kinh tế - Xã hội
Hướng nghiệp có nhiệm vụ: Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí của thanh niênhọc sinh; Làm cho thanh niên hiểu nội dung lao động của một số nghề, giúp họ chọnnghề Theo Quyết định số 1981/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Khung cơ cấu Hệ thống giáo dục quốc dân đã xác định học sinh tốtnghiệp trung học cơ sở có thể học tiếp theo một trong 4 luồng sau: Trung học phổthông; Sơ cấp Giáo dục nghề nghiệp; Trung cấp Giáo dục nghề nghiệp; Trung học phổthông bổ túc văn hóa theo hệ giáo dục thường xuyên
Vì lẽ đó, các chính sách hướng nghiệp đã và đang thực hiện đổi mới khá mạnh
mẽ, đồng bộ, nhất là trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Chính sách của
Trang 12Nhà nước ta về phát triển giáo dục hướng nghiệp được quy định tại Điều 9 bộ LuậtGiáo dục năm 2019 như sau:
Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong vàngoài cơ sở giáo dục để giúp học sinh có kiến thức về nghề nghiệp, khả năng lựa chọnnghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sửdụng lao động của xã hội
Phân luồng trong giáo dục là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sởthực hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để học sinh tốt nghiệp trung học
cơ sở, trung học phổ thông tiếp tục học ở cấp học, trình độ cao hơn hoặc theo học giáodục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động phù hợp với năng lực, điều kiện cụ thể của cánhân và nhu cầu xã hội, góp phần điều tiết cơ cấu ngành nghề của lực lượng lao độngphù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước
Chính phủ quy định chi tiết hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục theotừng giai đoạn phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Trên đây là nội dung của các điều luật quy định về chính sách hướng nghiệp tạiViệt Nam, qua đó ta có thể nhận thấy rằng Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm đếntầm quan trọng của hướng nghiệp và được đặt đúng vị trí vốn có và cần có của nó.Hoạt động hướng nghiệp được thực hiện trong cả hành trình học tập và làm việc suốtcuộc đời người lao động Hướng nghiệp trong các trường dạy nghề là một giai đoạnquan trọng trong hành trình đó
Tuy nhiên, hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trongcác trường dạy nghề hiện nay chưa được coi trọng đúng mức từ nhận thức đến hànhđộng cho đến khi Luật giáo dục nghề nghiệp quy định và dần định hướng đào tạochuyển nhanh từ hướng cung sang hướng cầu của thị trường lao động
Điều luật trên đã phần nào phản ánh, cải thiện được nhận thức về hướng nghiệptrong môi trường giáo dục Hoạt động hướng nghiệp đã được đưa vào chương trìnhgiáo dục, chất lượng được chú trọng đầu tư và nâng cao giúp cho hoạt động hướngnghiệp hiệu quả hơn Bên cạnh đó, phân luồng cần được cụ thể hóa hơn nữa Chínhsách phân luồng nên được quy định để xây dựng cơ chế tuyển sinh và đào tạo hợp lý,tránh sự bất cập giữa mục tiêu và cách thức thực hiện; đồng thời, việc hướng nghiệp vàphân luồng nên thực hiện ngay từ bậc THCS Quá trình phân luồng cần có gia đoạn và
lộ trình cụ thể, đồng thời có chính sách quy hoạch lại vị trí việc làm đối với cán bộ,giáo viên tránh tình trạng dôi dư hoặc là thừa thiếu cục bộ như hiện nay
Và hơn hết, mặc dù đã được quy định trong Luật giáo dục xong công tác giáodục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề còn nhiều bất cập, thiếu hiệu quả đã ảnhhưởng đến quá trình phát triển của nhà trường…
2.2.2 Các thông tư trong chính sách hướng nghiệp
Trang 13Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề đổi mới hệthống tổ chức và quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các đơn vị
sự nghiệp công, Chính phủ đã có các Thông tư 07/2020/TT-BLĐTBXH định mức đàotạo lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp; Thông tư 05/2020/TT-BLĐTBXH hoạt động củaTrung tâm Giáo dục nghề nghiệp công lập cấp huyện
Tuy nhiên, công tác hướng nghiệp được quy định trong các thông tư trên vẫncòn chưa thực sự giải quyết được những vấn đề mà quá trình hướng nghiệp gặp phải.Nhận thức được vấn đề này, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp đang lấy ý kiến góp ý cho
dự thảo Thông tư quy định về công tác tư vấn hướng nghiệp, việc làm và hỗ trợ khởinghiệp cho học sinh, sinh viên giáo dục nghề nghiệp và được xây dựng dựa trên tìnhhình thực tế Một số điểm mới và sửa đổi bổ sung trong Dự thảo Thông tư quy địnhcông tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm và hỗ trợ khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dụcnhư sau:
Thứ nhất, trách nhiệm của các cơ sở giáo dục trong công tác hướng nghiệp, tư
vấn việc làm và hỗ trợ khởi nghiệp Dự thảo quy định một số trách nhiệm của cơ sởgiáo dục trong công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm và hỗ trợ khởi nghiệp như sau:
- Thực hiện một số hình thức triển khai hoạt động nhất định (Điều 6, Điều 9 Dự
thảo);
- Bố trí giáo viên kiêm nhiệm triển khai công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm,
hỗ trợ khởi nghiệp với cơ sở giáo dục phổ thông (Điều 7.1.a; Điều 10.1.a Dựthảo);
- Thành lập mới hoặc kiện toàn đơn vị thực hiện công tác hướng nghiệp, tư vấn
việc làm, hỗ trợ khởi nghiệp với cơ sở giáo dục đại học (Điều 7.2.a; Điều 10.2.a
Dự thảo);
- Phối hợp với các đối tác để thực hiện hoạt động hướng nghiệp, tư vấn việc làm
(Điều 7.1.d; Điều 7.2.d; Điều 10.1.d; Điều 10.2.d Dự thảo)
Thứ hai, xã hội hóa công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm và hỗ trợ khởi
nghiệp Dự thảo đã có các quy định cho phép các cơ sở giáo dục được thực hiện xã hộihóa công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm và hỗ trợ khởi nghiệp Tuy nhiên, các quyđịnh này còn chưa rõ ràng, có thể gây khó khăn trong việc thực thi trên thực tế, cụ thể:
Việc xã hội hóa công tác này được thực hiện theo cơ chế nào? Chẳng hạn, nếu
cơ sở giáo dục sử dụng kinh phí từ nguồn chi thường xuyên (Điều 18.1 Dự thảo), thì
có cần thực hiện theo pháp luật về đấu thầu không? Nếu một phần hoặc toàn bộ kinhphí thực hiện một hoặc một số hoạt động hướng nghiệp, tư vấn việc làm hoặc hỗ trợkhởi nghiệp được huy động từ nguồn vốn của đối tác hoặc các nhà tài trợ khác thì thựchiện theo Thông tư 16/2018/TT-BGDĐT hay thực hiện theo quy định nào?
Trang 14Điều 7 và Điều 10 Dự thảo quy định các cơ sở giáo dục phối hợp với các đối tác
đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Đặc biệt, điểm mới trong dự thảo Thông tưchính là yêu cầu các trường chuyển đổi số trong công tác hướng nghiệp
Trong đó, có nội dung ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn để tổng hợp, phântích các thông tin, xu hướng ngành, nghề trong tương lai để hỗ trợ việc hướng nghiệp,lựa chọn ngành nghề ; đồng thời, quy định về công tác tư vấn việc làm, về công tác
hỗ trợ khởi nghiệp Điều này thúc đẩy phát triển cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thờigian tới theo đúng nhiệm vụ là nâng cao chất lượng đào tạo và giúp cho học sinh, sinhviên có việc làm sau đào tạo, chọn được nghề phù hợp với năng lực bản thân Gắn đàotạo nghề với thị trường lao động Chúng ta đã tiếp cận công nghệ số trong định hướngnghề nghiệp không phải là sớm nhất nhưng được đánh giá là sớm, được đưa vào cácvăn bản quy phạm pháp luật
Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt "Chươngtrình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030" được banhành năm 2020 chính là hành động cụ thể, quyết tâm, giúp chúng ta tiếp cận xu hướnghiện nay Kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển cho thấy, nhiều cơ hội lớn được hìnhthành và tác động bởi chuyển đổi số, trong đó có việc định hướng nghề nghiệp họcsinh phổ thông
Việc xây dựng thông tư trên nhằm cung cấp thông tin về các ngành, nghề, việclàm và cơ sở GDNN nhằm giúp người học tự nhận thức về khả năng, sở thích vànguyện vọng nghề nghiệp của bản thân, có kiến thức, hiểu biết về thế giới nghề nghiệp
để lựa chọn, ngành nghề học phù hợp Đồng thời, cung cấp một số kỹ năng thiết yếu
để hình thành thái độ nghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp; thông tin các doanh nghiệpđang sử dụng lao động đối với các ngành, nghề người học đang theo học
2.3 Phân tích đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học
sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025’’
2.3.1 Tầm quan trọng của công tác giáo dục hướng nghiệp, phân luồng