1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Triển vọng của đồng tiền chung ASEAN và kinh nghiệm từ đồng EURO " doc

10 361 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 188,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 theo Hiến chương ASEAN thì một đồng tiền chung sẽ không những trở thành trung tâm hợp tác của Cộng đồng kinh tế ASEAN mà còn có ý nghĩa

Trang 1

ThS Lª Minh TiÕn * Ph¹m hång h¹nh **

1 Đặt vấn đề

Sự ra đời của đồng tiền chung khu vực là

đỉnh cao của quá trình phát triển của hệ

thống tiền tệ quốc tế nhằm thích ứng với

những giao lưu kinh tế ngày càng mở rộng

Một đồng tiền chung, thông qua những tác

động tích cực của nó sẽ góp phần xoá nhoà

ranh giới và các rào cản giữa các quốc gia,

củng cố các mối liên kết đã có, đồng thời

khuyến khích các liên kết khu vực phát triển

lên những phạm vi, cấp độ cao hơn

Những ý nghĩa của đồng tiền chung đã

và đang được kiểm chứng bằng thực tiễn vận

hành của đồng EURO nói riêng và sự phát

triển của Liên minh châu Âu (EU) nói

chung Những thành công này đã thúc đẩy ý

tưởng xây dựng các đồng tiền chung của

không ít khu vực, trong đó có ASEAN Với

mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào

năm 2015 theo Hiến chương ASEAN thì một

đồng tiền chung sẽ không những trở thành

trung tâm hợp tác của Cộng đồng kinh tế

ASEAN mà còn có ý nghĩa mật thiết trong

việc củng cố, tăng cường quan hệ hợp tác

giữa các nước thành viên trong hai trụ cột

Cộng đồng an ninh-chính trị ASEAN và

Cộng đồng văn hoá-xã hội ASEAN thông

qua những lợi ích chung và những vấn đề

chung cùng tồn tại

2 Lịch sử hợp tác tiền tệ của các nước ASEAN

Là một trong những nội dung hợp tác kinh tế, linh hồn của hợp tác của ASEAN, hợp tác tiền tệ khu vực đã được tiến hành ngay từ những ngày đầu thành lập Từ mục đích hợp tác ban đầu nhằm hỗ trợ cho các nước thành viên khi gặp những khó khăn tài chính nhất thời, đến nay, các nhà lãnh đạo ASEAN đang có những bước đi đầu tiên trong quá trình thống nhất tiền tệ để hướng tới mục tiêu xa hơn là sự ra đời của đồng tiền chung châu Á

Ngay từ năm 1977, các ngân hàng trung ương của 5 nước ASEAN khi đó là Thái Lan, Indonesia, Singapore, Malaysia và Philipine đã kí thoả thuận hỗ trợ ngoại tệ nhằm cung cấp những khoản tín dụng ngắn hạn bằng đồng đô la Mĩ cho các nước thành viên gặp khó khăn nhất thời trong thanh toán quốc tế.(1) Tổng số tiền đóng góp của các nước, tối đa là 100 triệu USD Mỗi quốc gia dành tối đa 20 triệu USD sẵn sàng cung cấp cho các nước thành viên Khi cần thiết, một quốc gia có thể vay tối đa 40 triệu USD Từ năm 1978, mức hỗ trợ từ mỗi quốc gia được nâng lên 40 triệu USD và khi cần có thể vay tối đa 80 triệu USD.(2) Ban đầu, các thoả

* Giảng viên Khoa luật quốc tế Trường Đại học Luật Hà Nội

** Công ti xúc tiến thương hiệu BMS

Trang 2

thuận Swap tiền tệ này chỉ có hiệu lực 1

năm Từ năm 1978 các thoả thuận bổ sung

gia hạn thêm từ 1, 3 đến 5 năm đã được kí

kết.(3) Gần đây nhất, Thoả thuận bổ sung lần

thứ 5 năm 1992 tiếp tục gia hạn thêm 5 năm

từ ngày thoả thuận có hiệu lực, 5/8/1992.(4)

Năm 1997, thế giới đã chứng kiến cuộc

khủng hoảng tài chính-tiền tệ nghiêm trọng

với những hậu quả nặng nề Bắt đầu từ Thái

Lan, cuộc khủng hoảng nhanh chóng lan

sang Philippine, Indonesia, Malaysia và

Singapore Chính phủ các nước này sau

nhiều cố gắng nỗ lực để giữ giá đồng nội tệ

đã phải tuyên bố thả nổi tiền, không can

thiệp vào thị trường ngoại hối Sau Đông

Nam Á, như hiệu ứng dây chuyền, khủng

hoảng tiếp tục tấn công các nước và các

vùng lãnh thổ khác trong khu vực như Hàn

Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Đài Loan

Cuộc khủng hoảng đã bộc lộ không ít hạn

chế của các nước trong khu vực, đặc biệt là

khả năng phối hợp giải quyết các vấn đề

nghiêm trọng xảy ra Bản thân mỗi nước

ASEAN chưa đủ thực lực để tự cứu mình,

trong khi ASEAN cũng chưa có cơ chế hợp

tác đủ mạnh để hỗ trợ cho nhau khi cần,

ngăn chặn những hậu quả mang tính dây

chuyền xảy ra Cuộc khủng hoảng cũng cho

thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của môi

trường tiền tệ ổn định đối với sự phát triển

kinh tế khu vực cũng như thế giới Những

điều này đã thúc đẩy hoạt động hợp tác tiền

tệ của các nước ASEAN mở rộng ra những

phạm vi và quy mô mới

Theo “Kế hoạch hành động Hà Nội”

tháng 12 năm 1998, các nhà lãnh đạo

ASEAN đã đồng ý nghiên cứu tính khả thi

về việc thiết lập hệ thống tỉ giá hối đoái và đồng tiền chung châu Á Ý tưởng này tiếp tục được đưa ra tại Hội nghị Cấp cao ASEAN + 3 tại Manila tháng 11 năm 1999

và ASEAN + 3 tại Thái Lan tháng 5 năm

2000 Tại các hội nghị này, các nước đã chính thức tuyên bố hỗ trợ phát triển các hình thức hợp tác mới trong ASEAN + 3 gồm 10 nước ASEAN và 3 nước là Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản với 4 lĩnh vực chính: Trao đổi thông tin khu vực, thoả thuận Swap tiền tệ, phát triển khu vực tài chính và cuối cùng là phối hợp tỉ giá, trong

đó, bàn tới việc thiết lập một cơ chế tỉ giá AERM và một đồng tiền chung khu vực.(5) Hội nghị tại Thái Lan đã nhất trí thông qua

"Sáng kiến Chiềng Mai" CMI với nội dung thiết lập mạng lưới thoả thuận mua lại và hoán đổi song phương BSAs.(6) Mục đích của các thoả thuận này là để tránh và xử lí các cuộc khủng hoảng tiền tệ trong tương lai có thể xảy ra như cuộc khủng hoảng năm 1997 Theo đó, các nước tham gia sẽ

hỗ trợ cho các nước bạn trong khu vực, khi nước đó có nguy cơ bị tấn công bởi đầu cơ tiền tệ và những ảnh hưởng khác có nguy

cơ gây mất ổn định tiền tệ Các điều kiện chủ yếu của Thoả thuận Swap tiền tệ Chiềng Mai bao gồm:

- Thời hạn hợp đồng: 3 năm;

- Cách thức thực hiện: Swap một chiều hoặc hai chiều;

- Đồng tiền thực hiện: Đồng tiền của nước đưa ra yêu cầu hoặc USD;

- Thời gian rút tiền: 90 ngày mỗi lần, có

Trang 3

thể quay vòng 7 lần (tối đa là 2 năm);

- Lãi suất: Lãi suất Libor (lãi suất liên

ngân hàng tại thị trường Luân Đôn) + 150

điểm cơ bản

So với các thoả thuận Swap tiền tệ năm

1977 (đã hết hiệu lực vào năm 1997) thì quy

mô của sáng kiến này rộng hơn nhiều Tính

đến ngày 10/11/2005, đã có 17 thoả thuận

được kí kết có tổng giá trị 58,5 tỉ USD giữa

8 quốc gia, trong đó, các nước ASEAN là

31,5 tỉ USD, với sự tham gia của 5 quốc gia

là Thái Lan, Malaysia, Philipine, Indonesia

và Singapore.(7)

Trên cơ sở bản phác thảo của của Nhật

Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, tháng 8 năm

2003, Bộ trưởng tài chính các nước ASEAN

+ 3 đã bắt tay vào việc thực hiện bước đầu

của “Thị trường trái phiếu châu Á” để phát

triển thị trường trái phiếu khu vực Năm

2003, các nước châu Á đã thành lập quỹ trái

phiếu châu Á với số tiền 1 tỉ USD.(8)

Để đẩy mạnh hợp tác tiền tệ khu vực, tạo

tiền đề cho sự ra đời của đồng tiền chung,

đầu năm 2006, Ngân hàng phát triển châu Á

(ADB) đã công bố kế hoạch phát hành đồng

đơn vị tiền tệ châu Á (ACU) làm đơn vị

chuẩn để theo dõi sự biến động tỉ giá của

đồng nội tệ của các nước thành viên trong

khu vực theo hình mẫu của đồng ECU, đơn

vị tiền tệ châu Âu trước khi đồng Euro ra

đời.(9) Trên cơ sở kinh nghiệm của ECU,

ACU được xác định theo rổ tiền tệ của các

đồng tiền cấu thành bao gồm mười đồng tiền

của mười nước ASEAN và 3 đồng tiền của 3

quốc gia là Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn

Quốc Tỉ trọng của các đồng tiền trong rổ

tiền tệ sẽ được xem xét định kì Việc ADB công bố đồng ACU là động thái quan trọng nhằm tiến tới đồng tiền chung châu Á Đồng ACU được ban hành sẽ giúp ADB và bản thân mỗi quốc gia đánh giá được mức độ biến động của các đồng nội tệ so với đồng tiền này, cũng như biến động của đồng ACU đối với các đồng tiền mạnh như USD, EURO, từ đó tiến hành những can thiệp khi cần thiết để đảm bảo sự ổn định tiền tệ, tạo điều kiện cho sự ổn định, phát triển kinh tế của ASEAN

Tháng 5/2007, tại cuộc họp thường niên của Ngân hàng phát triển châu Á ADB, các nước ASEAN + 3 đã thoả thuận dành một phần dự trữ ngoại tệ quốc gia để đóng góp vào quỹ ngoại tệ chung nhằm sử dụng trong trường hợp khẩn cấp Tuy nhiên, quy mô cũng như số tiền đóng góp vào quỹ chưa được quyết định Sau cuộc thảo luận bên lề cuộc họp của ADB tại Tây Ban Nha ngày 4/5/2008 vừa qua, Bộ trưởng tài chính 10 nước ASEAN và Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản đã nhất trí thành lập Quỹ dự trữ ngoại tệ trị giá ít nhất 80 tỉ USD để sử dụng trong trường hợp xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính khu vực.(10) Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản sẽ đóng góp 80% số vốn của quỹ này, phần còn lại sẽ do 10 nước ASEAN cùng nhau đảm trách Đây được coi

là bước tiến mới trong lộ trình hợp tác tiền tệ của các nước ASEAN

3 Kinh nghiệm xây dựng đồng tiền chung ASEAN từ đồng EURO

Dù mô hình mà ASEAN xây dựng là

“thống nhất trong đa dạng”, không hướng tới

Trang 4

các mục tiêu “nhất thể hoá” giống như EU

nhưng để xây dựng đồng tiền chung, đòi hỏi

các nước ASEAN phải đáp ứng được những

yêu cầu và tiêu chuẩn có tính nguyên tắc đối

với mọi khu vực hợp nhất tiền tệ Đồng tiền

chung châu Âu EURO ra đời là kết quả của

quá trình thiết kế, xây dựng thể chế, pháp lí,

kĩ thuật cũng như giải quyết các vấn đề

chính trị đầy phức tạp, là bài học kinh

nghiệm rất giá trị cho việc xây dựng và vận

hành đồng tiền chung ASEAN trên nhiều

phương diện khác nhau Tuy nhiên, trong

phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung

phân tích kinh nghiệm xây dựng và vận hành

đồng EURO trên bốn khía cạnh cơ bản nhất:

(1) Xây dựng nền tảng kinh tế-xã hội cho sự

ra đời của một đồng tiền chung, (2) Mức độ

hội tụ của các nền kinh tế thành viên khi

tham gia đồng tiền chung, (3) Thiết kế bộ

máy điều hành, (4) Cơ chế vận hành một

đồng tiền chung

a Về xây dựng nền tảng kinh tế-xã hội

cho sự ra đời của đồng tiền chung: Đồng

Euro từ ý tưởng chỉ trở thành hiện thực khi

EU đã đạt tới cấp độ liên kết kinh tế-xã hội

nhất định, là hệ quả của quá trình liên kết

ngày càng chặt chẽ về chính trị và kinh tế:

- Sự hợp tác ngày càng chặt chẽ về chính

trị của các nước Tây Âu

Hạt nhân lịch sử đầu tiên trong hợp tác

chính trị của châu Âu là sự hình thành Cộng

đồng than, thép châu Âu (ECSC) với nội

dung thiết lập cơ chế sản xuất, tiêu thụ

chung cho hai nguồn nguyên liệu thiết yếu

của nền kinh tế bấy giờ là than và thép Kết

quả của những nỗ lực thúc đẩy quá trình hợp

nhất cả về kinh tế và chính trị sau những thành công của mô hình hợp tác ban đầu này

là sự ra đời của Cộng đồng năng lượng nguyên tử châu Âu EURATOM và Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) Để đảm bảo tính thống nhất, phát huy hiệu quả của sự liên kết, ba cộng đồng trên đã được hợp nhất thành Cộng đồng châu Âu (EC) đồng thời,

hệ thống thiết chế chung với thẩm quyền mở rộng hơn cũng được thiết lập thay vì từng cơ quan riêng cho mỗi cộng đồng như trước đó Liên minh châu Âu (EU) ra đời với một trụ cột Cộng đồng và hai trụ cột liên chính phủ

đã tạo thành khối liên kết vững chắc giữa các nước thành viên

Cùng với quá trình hoàn thiện của các

mô hình hợp tác, phạm vi hợp tác của châu

Âu ngày càng được nâng lên, từ một nội dung cụ thể (than và thép) đến các lĩnh vực khác (năng lượng, nguyên tử), rồi toàn bộ nền kinh tế cho tới mọi lĩnh vực xã hội như

tư pháp, nội vụ, chính sách đối ngoại, an ninh Khởi đầu chỉ với 6 quốc gia (Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg), hiệu quả từ quá trình hợp tác đã khuyến khích các nước châu Âu xích lại gần nhau trong nỗ lực không ngừng mở rộng số lượng các nước thành viên tới con số mười lăm với sự gia nhập của vương quốc Anh, Đan Mạch, Ailen (1/1/1973), Hi Lạp (1/1/1981), Tây Ban Nha,

Bồ Đào Nha (1/1/1986), Áo, Phần Lan và Thuỵ Điển (1/1/1995)

- Cấp độ liên kết kinh tế ngày càng cao

và sâu rộng Trước khi Cộng đồng than, thép châu Âu

Trang 5

ra đời, một số khuôn khổ hợp tác kinh tế

giữa các nước châu Âu đã xuất hiện, như

Liên minh thuế quan Pháp-Italia, Liên minh

thương mại Benelux gồm ba nước là Bỉ, Hà

Lan, Luxembourg Ngày 1/1/1953, hệ thống

thuế quan của ECSC, có tính chất như khu

vực mậu dịch tự do, bắt đầu có hiệu lực thi

hành trong thị trường than, thép chung Các

loại thuế quan và những hạn chế về số lượng

nhập khẩu than thép giữa các nước thành

viên của cộng đồng được dỡ bỏ Liên kết

kinh tế của các nước châu Âu tiếp tục được

nâng lên ở mức độ cao hơn khi Liên minh

thuế quan EEC bắt đầu có hiệu lực thực hiện

vào ngày 1/7/1968 Các loại thuế quan nội

khối còn lại được bãi bỏ và biểu thuế quan

ngoại khối chung được thiết lập, thay thế các

loại thuế quan riêng của từng quốc gia trước

đó Ngày 1/1/1993, thị trường châu Âu đơn

nhất chính thức ra đời Mục tiêu về một thị

trường chung đã được hiện thực hoá với bốn

sự tự do căn bản: hàng hoá, dịch vụ, vốn và

con người Thị trường đơn nhất thực sự đạt

tới quy mô và cấp độ liên kết cao độ khi nó

cho phép tất cả các yếu tố sản xuất được tự

do di chuyển giữa các nước thành viên

Như vậy, hành trình đi tới đồng Euro

gắn liền với quá trình hài hoà hoá và nhất thể

hoá của các nước thành viên trên nhiều lĩnh

vực, khi các rào cản trong hợp tác kinh tế

không còn, khi các nước thành viên ngày

càng xích lại gần nhau trong nỗ lực thống

nhất các mặt của đời sống xã hội, khi hệ

thống các thiết chế cộng đồng với cơ chế

hoạt động thật sự hiệu quả được hình thành

b Về mức độ hội tụ của các nền kinh tế thành viên khi tham gia đồng tiền chung:

Tuy có sự tương đồng về nhiều điểm, nhưng ngay từ đầu không phải mọi quốc gia châu

Âu đều đạt tới trình độ phát triển kinh tế như nhau Trong một khu vực đồng tiền chung

mà giữa các thành viên mới và những thành viên đã tham gia có sự khác biệt quá lớn thì điều này sẽ trở thành gánh nặng cho chính những quốc gia này trong quá trình bắt kịp, thu hẹp khoảng cách với những quốc gia trước đó, đồng thời là rào cản đối với sự phát triển của cả khu vực Để hạn chế những nguy cơ trên, các nhà lãnh đạo châu Âu khi thoả thuận xây dựng đồng tiền chung đã đưa

ra những quy định có tính chất như những tiêu chuẩn bắt buộc đối với các nước thành viên khi gia nhập đồng tiền chung Theo Điều 109 Hiệp ước Maastricht, những tiêu chuẩn này bao gồm:

- Thâm hụt ngân sách không được vượt quá 3% GDP hàng năm

- Tỉ lệ nợ của chính phủ không vượt quá 60% GDP hàng năm

- Tỉ lệ lạm phát ngắn hạn không được vượt quá 1,5% mức lạm phát của ba nước thành viên có tỉ lệ thấp nhất

- Lãi suất dài hạn không được cao hơn quá 2% mức lãi suất bình quân của ba quốc gia có tỉ lệ lãi suất thấp nhất

- Duy trì tỉ giá ổn định, nằm trong khuôn khổ dao động cho phép so với tỉ giá trung tâm theo quy định của cơ chế tỉ giá ERM trong thời hạn ít nhất hai năm

Mỗi tiêu chuẩn trên đều có ý nghĩa nhất định đối với bản thân mỗi nước khi có ý định

Trang 6

tham gia khu vực sử dụng đồng tiền chung

cũng như cho cả khu vực này Những tiêu

chuẩn tài chính, gồm tỉ lệ thâm hụt ngân

sách và nợ chính phủ, có ý nghĩa đảm bảo sự

thống nhất giữa tình trạng ngân sách của mỗi

nước thành viên với những chính sách ổn

định đã được định hướng trước trong toàn bộ

khu vực sử dụng đồng tiền chung Tiêu

chuẩn về tỉ lệ lạm phát nhằm kiểm tra liệu

giá cả, chi phí ở các nước thành viên mới có

phù hợp với giá cả ổn định trong khu vực

hay không Tỉ lệ lạm phát quá chênh lệch

giữa các quốc gia sẽ gây khó khăn cho việc

quản lí, thực hiện chính sách tiền tệ của cả

khu vực khi lãi suất bị đẩy lên cao hơn cần

thiết để thích ứng với mức độ lạm phát ở

một số nước, trong khi với những nước có tỉ

lệ lạm phát thấp thì một mức lãi suất cao sẽ

là cản trở cho sự phát triển kinh tế của những

nước này Tiêu chuẩn tỉ giá được quy định

để xem xét một quốc gia đã thực sự duy trì

được một tỉ giá ổn định hợp lí trước khi gia

nhập đồng tiền chung hay chưa Tiêu chuẩn

này kết hợp với tiêu chuẩn về lạm phát để

đảm bảo đồng tiền của quốc gia có thể chấp

nhận được tỉ giá chuyển đổi so với đồng tiền

chung một cách ổn định mà không gây ra sự

biến động quá nhiều trong tỉ giá hối đoái

thực tế của quốc gia xin gia nhập

Như vậy, với từng quốc gia, mỗi tiêu

chuẩn về mức độ hội tụ của các nền kinh tế

thành viên có vai trò như một bài kiểm tra

trong một lĩnh vực nhất định để chính quốc

gia đó tự mình xem xét lại tính hợp lí, hiệu

quả của toàn bộ chính sách kinh tế, xã hội

của mình để từ đó có những điều chỉnh, thay

đổi thích hợp Đối với cả khu vực, những tiêu chuẩn này nhằm mục đích tạo ra sự hài hoà giữa các thành viên mới và thành viên trước đó bằng cách đưa ra những giới hạn, những quy tắc trong từng lĩnh vực để hạn chế sự chênh lệch giữa các nước này

c Về kinh nghiệm thiết kế bộ máy điều hành đồng EURO: Xây dựng đồng tiền chung đồng nghĩa với việc các quốc gia sẽ phải tự hạn chế chủ quyền về tiền tệ của mình để trao cho một thiết chế đại diện cho quyền lực của tất cả quốc gia Thiết chế đó

sẽ chịu trách nhiệm xây dựng, quản lí cũng như điều hành sao cho đồng tiền chung thực hiện tốt các chức năng của nó, cũng như đảm bảo sự ổn định kinh tế của các nước thành viên Để thực hiện các mục tiêu trên, các kiến trúc sư của đồng EURO đã xây dựng

Hệ thống châu Âu (Eurosystem) với vị trí là

hệ thống ngân hàng trung ương của khu vực

sử dụng đồng tiền chung, bao gồm Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) và ngân hàng trung ương của tất cả các nước thành viên gia nhập đồng EURO (NCBs) Ngân hàng trung ương châu Âu, trung tâm của Eurosystem là tổ chức quản lí chính sách tiền tệ và thực hiện những chức năng khác của ngân hàng trung ương cho khu vực sử dụng đồng Euro Xuất phát từ vị trí của ngân hàng trung ương, nhiệm vụ chính của ECB bao gồm xây dựng chính sách tiền tệ của Hệ thống châu Âu, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động của ngân hàng trung ương các nước thành viên, ban hành văn bản pháp luật nhằm bảo đảm sự thống nhất trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ của các ngân

Trang 7

hàng quốc gia, can thiệp vào thị trường

ngoại hối khi cần, xây dựng kế hoạch và

hợp tác với ngân hàng trung ương các nước

trong việc sản xuất và phát hành tiền giấy

Là một bộ phận cấu thành của Eurosystem,

ngân hàng trung ương của các quốc gia thực

hiện tất cả các nghĩa vụ liên quan đến

Eurosystem phù hợp với nguyên tắc phân

quyền của Hệ thống Theo đó, NCB sẽ thực

hiện trên thực tế những hoạt động của chính

sách tiền tệ, quản lí dự trữ ngoại hối của

chính mình trên cơ sở sự chấp thuận của

ECB, phối hợp với ECB trong việc phát

hành tiền giấy, tập hợp các thông tin, số liệu

cần thiết về kinh tế, tài chính quốc gia liên

quan tới các nội dung của chính sách tiền tệ

để cung cấp cho ECB làm cơ sở xây dựng

chính sách tiền tệ cho khu vực

Nghiên cứu các thiết chế điều hành đồng

EURO cho thấy đồng tiền chung phải gắn

liền với chính sách tiền tệ chung do một thiết

chế có quyền lực siêu quốc gia là ngân hàng

trung ương chung chịu trách nhiệm xây

dựng, quản lí và điều hành chính sách tiền tệ

chung đó Chức năng của ngân hàng trung

ương khu vực là sự kết hợp giữa vai trò của

ngân hàng trung ương quốc gia thông qua

các hoạt động xây dựng chính sách tiền tệ,

phát hành tiền hay can thiệp lên thị trường

ngoại hối khi cần thiết với vai trò của một cơ

quan tiền tệ ở cấp độ cộng đồng khi quản lí

chính sách tiền tệ của cả khu vực, chỉ đạo

hoạt động của tất cả ngân hàng trung ương

các nước sử dụng đồng tiền chung Mối quan

hệ giữa các ngân hàng trung ương quốc gia

với ngân hàng trung ương khu vực dựa trên

nguyên tắc thống nhất và phân quyền, tức là những hoạt động do ngân hàng trung ương của các quốc gia thực hiện sẽ được xác định

và phân biệt rõ ràng, tương ứng với trách nhiệm của các nước thành viên và phải tuân thủ những quy định, chính sách của ngân hàng trung ương khu vực

d Về kinh nghiệm xây dựng cơ chế vận hành đồng EURO: Mức độ ổn định của đồng EURO phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả của chính sách tiền tệ trong khu vực sử dụng đồng tiền chung Hiệp ước thành lập EC

khẳng định "mục tiêu cơ bản nhất của Eurosystem là duy trì giá cả ổn định" Ngoài

ra, chính sách tiền tệ cũng hướng tới các mục tiêu khác như đảm bảo việc làm, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế Bên cạnh

đó, việc thực hiện chính sách tiền tệ còn phải đảm bảo những quyết định về tiền tệ tác động tới lãi suất ngắn hạn của thị trường một cách nhanh chóng và chính xác Trong khu vực liên kết chặt chẽ như EU, tình trạng bất

ổn tại nền kinh tế của một nước thành viên

có thể trở thành nguy cơ gây bất ổn cho các quốc gia còn lại và điều này sẽ tác động tiêu cực tới sự ổn định của đồng tiền chung Để hạn chế và ngăn chặn nguy cơ trên, các nhà lãnh đạo châu Âu đã xây dựng cơ chế kiểm soát chặt chẽ do các thiết chế của Cộng đồng châu Âu thực hiện nhằm bảo đảm sự ổn định tài chính của các nước thành viên Theo quy định tại Hiệp ước thành lập EC và Hiệp ước

ổn định và tăng trưởng SGP, Uỷ ban châu

Âu sẽ giám sát tình hình ngân sách và tích luỹ nợ của các nước thành viên để kịp thời phát hiện những sai phạm lớn Khi quốc gia

Trang 8

thành viên bị đánh giá là không đáp ứng đủ

các tiêu chí về tỉ lệ thâm hụt ngân sách hoặc

tỉ lệ nợ chính phủ như những tiêu chuẩn của

Hiệp ước Mastrict đề ra, Hội đồng, căn cứ

vào từng trường hợp cụ thể sẽ áp dụng

những biện pháp phù hợp để buộc quốc gia

có liên quan khắc phục tình trạng vi phạm

như đưa ra khuyến nghị, yêu cầu phải thực

hiện các biện pháp mà Hội đồng cho là cần

thiết để giảm thâm hụt trong thời gian xác

định, đề nghị quốc gia phải đặt cọc khoản

tiền cần thiết cho tới khi mức thâm hụt được

Hội đồng xác nhận là đã được cải thiện hoặc

tiến hành phạt với mức độ phù hợp

4 Triển vọng của đồng tiền chung

ASEAN

Với hơn 40 năm tồn tại và phát triển,

ASEAN đã đạt được những bước tiến dài

trên nhiều lĩnh vực hoạt động Từ chỗ chỉ có

5 thành viên trong khu vực đầy mâu thuẫn và

xung đột trở thành ASEAN gồm 10 thành

viên, đoàn kết trong đa dạng; từ chỗ là khu

vực phát triển thấp trở thành một ASEAN có

nền kinh tế phát triển năng động trên thế

giới Những thành tựu kinh tế-xã hội mà

ASEAN đã đạt được trong thời gian qua là

những cơ sở, nền móng ban đầu cho việc xây

dựng đồng tiền chung Tuy vậy, để xây dựng

một đồng tiền chung khu vực thì ASEAN

vẫn còn tiếp tục phải giải quyết nhiều vấn

đề, vượt qua nhiều trở ngại cả về khách quan

lẫn chủ quan:

- Mặc dù đã có sự cải tổ toàn diện và

đồng bộ nhưng thể chế pháp lí của ASEAN

theo quy định của Hiến chương vẫn còn

những chỗ bất cập Trong các cơ quan của

ASEAN được thể chế hoá tại Hiến chương vẫn chưa có nhiều các cơ quan hoạt động thường kì (chỉ có 2 cơ quan là Uỷ ban đại diện thường trực và Ban thư kí so với các

cơ quan còn lại chỉ tiến hành họp theo định

kì hoặc khi cần thiết) Điều này, một mặt, khiến cho mối liên kết giữa các cơ quan của Hiệp hội còn lỏng lẻo, mặt khác, do chỉ hoạt động theo cơ chế kì họp nên có thể sẽ làm hạn chế khả năng chỉ đạo, điều hành của các

cơ quan này trước những biến động, khó khăn bất thường (nhất là trong lĩnh vực kinh tế-tiền tệ) cần được phối hợp giải quyết ở cấp độ Hiệp hội

- Cấp độ liên kết kinh tế-thương mại chưa cao và còn lỏng lẻo Hiện nay, hội nhập kinh tế của ASEAN mới chỉ đạt tới “khu vực thương mại tự do”, một trong các cấp độ đầu tiên của hội nhập kinh tế khu vực Kết quả hợp tác kinh tế của ASEAN tuy đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng nhưng chưa thực sự tạo ra sự phát triển đột phá trong quan hệ kinh tế-thương mại Thương mại nội khối chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ (25%), quan hệ kinh tế-thương mại ASEAN với các đối tác bên ngoài vẫn chiếm

tỉ trọng lớn và ngày càng có vị trí quan trọng.(11) Để tiến tới những cấp độ liên kết kinh tế-thương mại cao hơn nữa, trước hết các quốc gia ASEAN phải nỗ lực phấn đấu

tự do hoá 4 yếu tố cơ bản của sản xuất: hàng hoá, dịch vụ, vốn và lao động, và đây cũng

sẽ là một trong các mục tiêu chính của việc xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN 2015

- Cho đến nay, ASEAN vẫn chưa có được hệ thống pháp luật đủ cụ thể và chặt

Trang 9

chẽ, đặc biệt là đối với lĩnh vực kinh

tế-thương mại Kinh nghiệm liên kết thị trường

của EU cho thấy thị trường càng liên kết,

càng tự do thì luật pháp phải càng chặt chẽ

"free market, more rules" Hiện nay, các văn

bản pháp lí điều chỉnh quan hệ kinh

tế-thương mại của ASEAN về cơ bản vẫn là

các điều ước quốc tế như Hiệp định

CEPT/AFTA, Hiệp định về khu vực đầu tư

AIA (pháp luật của EU không chỉ bao gồm

các điều ước quốc tế là các “văn bản gốc”

mà còn bao gồm cả một hệ thống rất quan

trọng các “văn bản pháp luật phái sinh” cụ

thể, chi tiết do các cơ quan của EU ban hành,

hơn nữa tất cả các quy định này đều được áp

dụng trực tiếp và có giá trị cao hơn nội luật)

Dù không hướng tới mục tiêu "nhất thể hoá"

hoàn toàn giống như EU nhưng ASEAN

hiện vẫn còn thiếu hệ thống pháp luật đủ khả

năng điều chỉnh các quan hệ kinh tế-tiền tệ

trong một khu vực đồng tiền chung

- Mức độ hội tụ của các nền kinh tế

thành viên còn thấp, hiện vẫn tồn tại khoảng

cách khá lớn giữa các nước ASEAN Sự

chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa

các nước ASEAN đang thực sự là thách thức

đối với tiến trình liên kết Trong ASEAN,

bên cạnh những quốc gia có nền kinh tế phát

triển như Singapore, Thái Lan vẫn tồn tại

những nước kinh tế đang phát triển như Việt

Nam, kém phát triển như Campuchia, Lào…

Chỉ xem xét một khía cạnh là thu nhập bình

quân của người dân tại một số quốc gia cũng

thấy rõ sự khác biệt này Năm 2007, trong

khi thu nhập bình quân tính trên đầu người

của Singapore là 35.163 USD người, đứng

thứ 21 trên thế giới; Burnei là 32.167 USD, đứng thứ 24 trên thế giới thì một số quốc gia khác như Việt Nam là 818 USD, đứng thứ

140 trên thế giới; Campuchia là 600 USD, đứng thứ 152 thế giới; Lào là 656 USD, đứng thứ 150 và Myanma là 235 USD, ở vị trí 174 trên thế giới.(12) Chênh lệch về trình

độ phát triển kinh tế dẫn tới việc xác định khác nhau giữa lợi ích và thứ bậc các vấn đề

ưu tiên trong hợp tác, kéo theo sự bất đồng trong quá trình hoạch định, thực hiện chính sách của các nước ASEAN Bên cạnh đó, sự

đa dạng của các hệ thống chính trị, tôn giáo của các quốc gia trong khu vực cũng là một khó khăn cho quá trình hợp tác

- Những thách thức từ bên ngoài như thị trường tài chính-tiền tệ thế giới thời gian qua đang có nhiều biến động, một cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ với mức độ trầm trọng trên quy mô toàn cầu theo cảnh báo từ IMF… đang là mối nguy cơ không loại trừ bất cứ quốc gia nào Tất cả những yếu tố trên đang đe doạ trực tiếp tới sự ổn định, phát triển của từng quốc gia cũng như khu vực, đồng thời, cũng đặt ra không ít thách thức cho môi trường tiền tệ ổn định của ASEAN

- Trong bối cảnh cụ thể của ASEAN, với định hướng “thống nhất trong đa dạng” chứ không “nhất thể hoá” như EU thì một trong những vấn đề không thể không tính tới là:

Để tiến tới đồng tiền chung, bản thân mỗi quốc gia phải chấp nhận hi sinh một phần chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực tiền tệ để chuyển giao cho thiết chế chịu trách nhiệm vận hành chính sách tiền tệ chung cho toàn

bộ khu vực Đây là một đòi hỏi có tính

Trang 10

nguyờn tắc và vụ cựng cần thiết nhưng lại

hết sức nhạy cảm và khú khăn đối với riờng

cỏc nước ASEAN, nhất là khi chớnh sỏch

tiền tệ luụn là một trong những chớnh sỏch

kinh tế vĩ mụ quan trọng nhất của mỗi quốc

gia Thụng qua cỏc cụng cụ của nú, cỏc quốc

gia tiến hành những can thiệp, điều chỉnh

thớch hợp đối với nền kinh tế quốc dõn của

mỡnh Chuyển giao chớnh sỏch tiền tệ đồng

nghĩa với việc quốc gia mất đi một trong

những cụng cụ để ổn định và phỏt triển nền

kinh tế quốc dõn Thậm chớ, điều này cú thể

dẫn tới việc quốc gia khú cú thể phản ứng

kịp thời đối với những cỳ sốc kinh tế từ bờn

trong cũng như bờn ngoài

Ngược trở lại với lịch sử hợp tỏc của

Liờn minh chõu Âu, đối chiếu với những

thành tựu và những bất cập của ASEAN cũn

tồn tại, cú thể thấy chặng đường xõy dựng

một đồng tiền chung ASEAN vẫn cũn rất

nhiều khú khăn và trở ngại

Tuy vậy, nếu lấy mốc thời gian từ 1976

(năm ra đời của Hiệp ước Bali - dấu mốc

quan trọng trong hợp tỏc kinh tế của

ASEAN.(13)) đến nay, so với khoảng thời

gian gần 50 năm của EU để biến ý tưởng về

đồng EURO trở thành hiện thực thỡ ASEAN

mới chỉ mất hơn một nửa khoảng thời gian

đú Hơn nữa, quy mụ và trỡnh độ phỏt triển

kinh tế của từng quốc gia cũng như toàn bộ

EU so với ASEAN là khoảng cỏch khỏ lớn,

bản thõn ASEAN cũng khụng cú truyền

thống hợp tỏc kinh tế như cỏc nước EU Do

đú, ASEAN hoàn toàn cú thể tự hào với

những chặng đường đó đi qua và tin tưởng

vào tương lai của một đồng tiền chung chõu

Á Với Hiến chương ASEAN, Cộng đồng ASEAN được hỡnh thành sẽ đưa ASEAN từ Hiệp hội thành Cộng đồng vững mạnh về chớnh trị, liờn kết chặt chẽ về kinh tế, hoạt động năng động và hiệu quả hơn Đặc biệt, Cộng đồng kinh tế ASEAN 2015 với năm sự

tự do cơ bản sẽ là nền tảng quan trọng, tạo nền múng kinh tế vững chắc cho sự ra đời của đồng tiền chung./

(1).Xem: Memorandum of Understanding on the

(2).Xem: The supplementary agreements to the

Memorandum of Understanding on the ASEAN Swap

(3).Xem: Second, Third, Fourth supplementary

agreements to the Memorandum of Understanding on

(4).Xem: Fifth supplementary agreements to the

Memorandum of Understanding on the ASEAN Swap

(5).Xem: "Việt Nam trong hợp tác tiền tệ Đông á", PGS.TS Đinh Trọng Thịnh - Lê Thị Thuỳ Vân, Nxb Tài chính, H 2008, tr.109-110

(6).The Joint Ministerial Statement of the ASEAN + 3

Thailand

(7).Xem: "Việt Nam trong hợp tác tiền tệ Đông á", Sđd, tr 88-89

(8).Xem: "Việt Nam trong hợp tác tiền tệ Đông á", Sđd, tr 117-118

(9).Xem: http://www.vietbao.vn/kinh_te (10).Xem:http://www.tuoitre.com.vn/Tyanion/Index.aspx (11).Xem: Bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị thượng đỉnh kinh doanh và đầu tư ASEAN, Singapore, ngày 18/11/2007

(12).Xem: World Economic Outlook Database - Apirl

2008, International Monetary Fund

(13).Xem: “35 năm ASEAN hợp tác và phát triển”, Viện kinh tế thế giới, Nxb Khoa học và xE hội,

H 2003, tr.55

Ngày đăng: 18/03/2014, 03:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm