1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Bài tập Phân tích thị trường tài nguyên và Sản phẩm tài nguyên

10 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 25,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP GIỮA KỲ MÔN THỊ TRƯỜNG TÀI NGUYÊN VÀ SẢN PHẨM TÀI NGUYÊN Họ và tên Phạm Minh Phương MSV 11194288 CÂU HỎI 1 Kinh doanh quốc tế là gì? Hãy đưa ra 1 ví dụ về hoạt động kinh doanh quốc tế tại Việt.

Trang 1

BÀI TẬP GIỮA KỲ MÔN: THỊ TRƯỜNG TÀI NGUYÊN VÀ SẢN PHẨM TÀI NGUYÊN

Họ và tên: Phạm Minh Phương

MSV: 11194288 CÂU HỎI

1 Kinh doanh quốc tế là gì? Hãy đưa ra 1 ví dụ về hoạt động kinh doanh quốc tế tại Việt Nam

2 Môi trường kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp có những đặc điểm nội dung gì?

3 Hãy bình luận câu nói: “ Học tập kinh doanh thị trường quốc tế rất tốt khi bạn chuẩn bị làm cho một công ty đa quốc gia, nhưng không có giá trị gì đối với 1 cá nhân sẽ đi làm cho 1 doanh nghiệp nhỏ”

4 Hãy cho biết những thay đổi trong công nghệ đã tác động như thế nào tới quá trình toàn cầu hoá thị trường và toàn cầu hoá sản xuất? Liệu quá trình toàn cầu hoá thị trường và toàn cầu hoá sản xuất có thể xảy ra mà không

có những thay đổi và tiến bộ trong công nghệ không?

5 Theo xu hướng hiện nay Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới, hãy bình luận những tác động của xu hướng này tới thị trường Việt Nam và thị trường toàn cầu

6 Hãy sử dụng internet để biết xem hiện nay trên thế giới có bao nhiêu quốc gia, những nền kinh tế lớn trên thế giới, nơi nào có thị trường lớn nhất trên toàn cầu

TRẢ LỜI

Câu 1: Kinh doanh quốc tế (International Bussiness) là toàn bộ các giao dịch có

tính chất kinh doanh, giữa các doanh nghiệp có quốc tịch khác nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng quốc tế và qua đó thu được lợi nhuận cho các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức kinh tế Nếu các giao dịch đó không nhằm mục đích thu hái lợi nhuận thì giao dịch đó không có tính chất kinh doanh

Kinh doanh quốc tế khác kinh doanh nội địa về phạm vi, về mức độ phức tạp, về

hệ thống luật pháp, về đồng tiền sử dụng trong thanh toán và các phương thức thanh toán

Bản chất của kinh doanh quốc tế là các giao dịch giữa các doanh nghiệp của các quốc gia khác nhau, sử dụng các đồng tiền ngoại tệ để thanh toán, nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức kinh tế trên thế giới, trên

cơ sở đó mà thu được lợi nhuận cho tổ chức kinh doanh

Trang 2

(ví dụ)

Trải qua nhiều năm nỗ lực tìm kiếm thị trường, tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, sản phẩm của Vinamilk đã được xuất khẩu đến 43 nước trên thế giới, với hàng loạt sản phẩm đa dạng Cụ thể như sau:

Cửa ngõ tham gia kinh doanh quốc tế đầu tiên của Vinamilk chính là thị trường Trung Đông Năm 1998, Vinamilk bắt đầu xuất khẩu những sản phẩm sữa bột đầu tiên vào khu vực Trung Đông, với thị trường chủ yếu là Iraq theo chương trình đổi dầu lấy lương thực của Liên Hợp Quốc Đây là dấu mốc đánh dấu hoạt động đầu tiên trên thị trường thế giới của công ty Từ đó đến nay, trải qua nhiều năm nỗ lực tìm kiếm thị trường, tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, hiện sản phẩm của Vinamilk đã được xuất khẩu đến 43 nước trên thế giới với hàng loạt sản phẩm đa dạng, như: sữa bột, bột dinh dưỡng, sữa đặc, sữa nước, sữa đậu nành, yogurt, nước trái cây, kem… Các sản phẩm của Vinamilk hiện có mặt tại hàng loạt các quốc gia, như:

Campuchia, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Canada, Mỹ, Australia Ngoài ra, Công ty đang tiếp tục tìm kiếm và mở rộng thị trường sang châu Âu, châu Phi, Nam Mỹ

Trong khoảng thời gian gần 20 năm gia nhập thị trường quốc tế đó, đã có những dấu mốc quan trọng quyết định tới những thành công của Vinamilk như hiện nay

- Năm 2010, sau khi được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp phép đầu tư ra nước ngoài, Vinamilk đã mua 19,3% cổ phần của Công ty Miraka Limited tại New Zealand Đây có thể nói là dự án đầu tư nhà máy đầu tiên của Vinamilk ở thị trường thế giới

- Tháng 5/2013, HĐQT Vinamilk tiến hành lựa chọn đại diện thương mại của Vinamilk tại thị trường Hoa Kỳ Ngày 18/6/2013, HĐQT Vinamilk đã phê chuẩn tăng vốn đầu tư vào Công ty Miraka, đồng thời phê chuẩn đầu tư vào Công ty Sữa Driftwood sau khi Vinamilk được FDA (Cục Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ) cấp số đăng kí được xuất hàng vào Mỹ Đến tháng 5/2016, VNM đã tăng vốn đầu tư, mua trọn 100% cổ phần của Công ty Driftwood

- Ngày 25/5/2016, Vinamilk đã khánh thành Nhà máy sữa Angkor tại

Phnompenh, Vương quốc Campuchia sau 10 năm thâm nhập và tìm hiểu thị trường này Đến tháng 3/2017, VNM đã sở hữu 100% nhà máy sữa này Liên tục trong cuối tháng 5/2016, Vinamilk đã tổ chức nhiều sự kiện tại Myanmar, Campuchia, Thái Lan đánh dấu sự mở rộng đầu tư, mở rộng thị phần của Vinamilk tại nước ngoài, đặc biệt trong khu vực Asean

Trang 3

- Ngày 12/5/2017 tại Bắc Kinh, Vinamilk đã đạt được bản ghi nhớ hợp tác cung cấp sản phẩm sữa của Vinamilk vào thị trường Trung Quốc - 1 thị trường rất lớn và tiềm năng với dân số cao nhất thế giới, tổng giá trị thị trường sữa lên đến khoảng 30 tỉ USD/năm

Câu 2: Môi trường kinh doanh quốc tế thường bao gồm môi trường chính trị,

pháp luật, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa

Môi trường chính trị là đề cập tới chính phủ, mối quan hệ giữa chính phủ với doanh nghiệp, và mức độ rủi ro chính trị ở một nước Kinh doanh quốc tế có nghĩa là phải làm việc với các mô hình chính phủ khác nhau, các mối quan hệ và mức độ rủi ro khác nhau

Trên thế giới, tồn tại nhiều hệ thống chính trị khác nhau, ví dụ các nước dân chủ đa đảng, các nước một đảng, nước quân chủ lập hiến, nước quân chủ chuyên chế hoặc nước độc tài chuyên chế Ngoài ra, chính phủ còn thường thay đổi bởi các lý do khác nhau như theo các cuộc tổng tuyển cử thông thường, hay bầu cử bất thường, chết, đảo chính, chiến tranh Mối quan hệ giữa doanh nghiệp

và chính phủ ở các nước khác nhau cũng khác nhau Có thể ở một nước, doanh nghiệp được đánh giá cao, là nguồn tạo động lực tăng trưởng của nền kinh tế Nhưng cũng có thể ở một quốc gia khác, doanh nghiệp bị đánh giá tiêu cực như những tổ chức bóc lột sức lao động của người công nhân Hoặc ở một quốc gia khác, vai trò của doanh nghiệp có thể đánh giá mang lại cả lợi ích và hạn chế Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và chính phủ có thể khác nhau, thay đổi từ mối quan hệ tích cực tới tiêu cực phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp hoạt động, vào mối quan hệ với người dân ở nước sở tại và người dân ở nước đầu tư Để hoạt động kinh doanh quốc tế hiệu quả, một doanh nghiệp quốc tế phụ thuộc vào quan điểm, nhất trí của chính phủ nước ngoài và cần phải hiểu biết về mọi khía cạnh liên quan tới môi trường chính trị

Một mối quan tâm đặc biệt của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế là mức độ rủi ro chính trị tại một quốc gia cụ thể Rủi ro chính trị là khả năng các hoạt động của chính phủ mang lại những kết quả không mong muốn cho doanh nghiệp ví dụ như quốc hữu hóa tài sản đầu tư, hay các quy định hay chính sách quy định hạn chế các hoạt động của doanh nghiệp Thông thường, rủi ro gắn liền với tính bất ổn và một nước được coi là bất ổn, hay có mức độ rủi ro chính trị cao nếu như chính phủ dễ bị thay đổi, có bất ổn xã hội, có bạo loạn, cách mạng nổi dậy hay chiến tranh, khủng bố, vân vân… Các doanh nghiệp thường ưu tiên các quốc gia ổn định và có ít rủi ro chính trị, thu nhập của doanh nghiệp cần được tính toán trên cơ sở của các rủi ro Đôi khi các doanh nghiệp thường kinh doanh tại các quốc gia khi các rủi ro tương đối cao Trong trường hợp này, các doanh nghiệp sẽ quản trị và kiểm soát rủi ro thông qua bảo hiểm, quyền sở hữu

Trang 4

và quản trị doanh nghiệp, kiểm soát cung ứng và thị trường, chương trình hỗ trợ tài chính…

Môi trường kinh tế giữa các nước khác nhau cũng khác nhau Các nước

về mặt kinh tế thường được chia ra làm ba loại chính – nước phát triển hoặc nước công nghiệp phát triển, nước đang phát triển và nhóm các nước chậm phát triển Tại mỗi một nhóm nước, các chỉ số về kinh tế khác nhau nhiều nhưng chủ yếu có thể cho rằng các nước phát triển là nước giầu, nước đang phát triển là nước đang chuyển đổi từ nghèo sang giầu hơn và các nước nghèo Sự phân biệt

về môi trường kinh tế giữa các quốc gia này chủ yếu dựa trên chỉ số thu nhập quốc dân trên đầu người (GDP/người) Mức độ phát triển kinh tế của mỗi nước cũng quyết định về nền giáo dục, cơ sở hạ tầng, công nghệ, chăm sóc y tế và các lĩnh vực khác Nước có mức độ phát triển kinh tế cao sẽ có chất lượng cuộc sống cao hơn các nước có mức độ phát triển kinh tế thấp

Ngoài việc phân nhóm nước dựa trên mức độ phát triển kinh tế, các nước còn được phân loại dựa trên thể chế thị trường – có thể là nước có nền thị trường

tự do, hoặc nền kinh tế kế hoạch tập trung hoặc nền kinh tế hỗn hợp Nền kinh tế thị trường tự do là những nền kinh tế mà chính phủ ít tác động vào các hoạt động kinh doanh, các quy luật thị trường như quy luật cung cầu, quy luật giá trị được vận hành để ra các quyết định về khâu sản xuất và giá cả Nền kinh tế kế hoạch tập trung là nền kinh tế tại đó chính phủ quyết định việc sản xuất và giá cả dựa trên những dự báo về cầu và khả năng cung theo mong muốn Nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế tại đó một số hoạt động được điều tiết bởi cung cầu thị trường và một số hoạt động khác, có thể là vì lợi ích quốc gia hoặc cá nhân mà chính phủ đứng ra trực tiếp điều tiết Cuối thế kỷ XX đã chứng kiến sự dịch chuyển đáng kể của các quốc gia sang việc theo đuổi nền kinh tế thị trường tự

do và nền kinh tế hỗn hợp Rõ ràng trình độ kinh tế cùng với giáo dục, cơ sở hạ tầng… cũng như mức độ kiểm soát nền kinh tế của chính phủ sẽ ảnh hưởng mọi khía cạnh, mọi mặt của hoạt động kinh doanh và một doanh nghiệp cần am hiểu

về môi trường này nếu như doanh nghiệp muốn kinh doanh quốc tế thành công

Môi trường văn hóa là một trong những cấu phần quan trọng của môi trường kinh doanh quốc tế và là nội dung có tính thách thức nhất đối với kinh doanh quốc tế Điều này bởi vì môi trường văn hóa thường khó nhận biết, môi trường văn hóa được hiểu là các giá trị và niềm tin được chia sẻ và được cho là đúng bởi một nhóm, một cộng đồng Văn hóa quốc gia được hiểu là những niềm tin và giá trị được chia sẻ bởi cả một quốc gia Niềm tin và giá trị thường được hình thành bởi các yếu tố như lịch sử, ngôn ngữ, tôn giáo, vị trí địa lý, chính phủ

và đào tạo; vì vậy các doanh nghiệp cần phải phân tích văn hóa để hiểu về các yếu tố này

Câu 3: Câu nói trên hoàn toàn không đúng, bời vì:

Trang 5

Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, khu vực DNNVV chiếm trên 95% tổng số doanh nghiệp đăng ký, tạo ra khoảng 60% GDP, tạo ra hơn 90% việc làm cho người lao động Tuy nhiên, các DNNVV đã và đang đối mặt với nhiều vấn đề làm ảnh hưởng đến hiệu quả, sức cạnh tranh, như quy mô vốn nhỏ, khả năng tiếp cận vốn yếu; trang thiết bị, công nghệ lạc hậu; chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản lý còn yếu kém

Đối với các DNNVV Việt Nam, trình độ, năng lực tiếp cận tiêu chuẩn quốc

tế trong quản trị doanh nghiệp có hạn chế rất lớn, nhiều doanh nghiệp chưa

có chiến lược kinh doanh mà vẫn chủ yếu kinh doanh dựa trên kinh nghiệm, kinh doanh theo phi vụ Các chiến lược phân phối, chiến lược truyền thông

và xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp Việt Nam cũng còn nhiều yếu kém: tầm hoạt động và mạng lưới phân phối sản phẩm hẹp; hoạt động xúc tiến thương mại còn giản đơn, sơ lược và không có hiệu quả thiết thực; chi phí cho hoạt động xúc tiến thương mại chỉ dưới 1% doanh thu (so với tỷ lệ 10% đến 20% của doanh nghiệp nước ngoài)

Vì vậy, Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhất là khi Việt

Nam đã là thành viên của WTO và đang tham gia mạnh mẽ tiến trình khu vực, tiến tới việc hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, cùng nhiều hiệp định tự do thương mại khác, việc nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành vấn đề sống còn của các doanh nghiệp nói chung, đặc biệt là DNNVV

Chìa khóa để nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV Việt Nam đó là yêu cầu nguyên nhân lực chất lượng cao có hiểu biết về kiến thức kinh doanh quốc tế và từ đó triển khai vận dụng để đưa doanh nghiệp phát triển

Câu 4:

Toàn cầu hoá KH&CN làm các nước đang phát triển nằm ở vị thế không thuận lợi trong cạnh tranh nguồn lực KH&CN và hệ quả là khoảng cách phát triển KH&CN giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển sẽ tiếp tục nới rộng

Toàn cầu hoá R&D hiện tại đã tạo ra hình thức cạnh tranh mới trong thị trường nguồn lực của các nước phát triển Tiến trình phát triển trong lịch sử thế giới luôn luôn đi cùng với cạnh tranh tài nguyên, nhưng ngày nay, cạnh tranh tài nguyên thiên nhiên truyền thống sẽ dần nhường cho cạnh tranh về tri thức và nhân tài Đối với các nước đang phát triển, chảy máu chất xám nhân tài KH&CN ngày càng trầm trọng thêm Đồng thời, sản phẩm của các công ty đa quốc gia sẽ gây ra xung đột lớn hơn đối với công nghiệp nội địa của các nước đang phát triển

Đặc trưng cơ bản của toàn cầu hoá về Khoa học và Công nghệ

Trang 6

Thứ nhất, toàn cầu hoá hoạt động KH&CN ngày càng gia tăng Toàn cầu

hoá về KH&CN đang tạo ra tác động to lớn và sâu rộng bao hàm đối tượng nghiên cứu, phương hướng, phạm vi, trình độ nghiên cứu khoa học Toàn cầu hoá về KH&CN cũng đồng thời tạo ra tác động to lớn đối với phương thức trao đổi và hợp tác học thuật, phát triển nghiên cứu tích hợp các ngành khoa học, và giữa các cộng đồng khoa học Điều này có nghĩa là các dự án nghiên cứu ngày càng tăng độ phức tạp, phạm vi nghiên cứu của nhiều dự án khoa học vượt ra ngoài phạm vi quốc gia, đòi hỏi các nhà khoa học đến từ các nước khác nhau trao đổi, hợp tác với nhau để hoàn thành

Thứ hai, mức độ toàn cầu hoá R&D của các công ty đa quốc gia không ngừng tăng Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế, người ta đã phát hiện ra rằng

đối với doanh nghiệp tham gia thì mức độ toàn cầu hoá kinh doanh tăng nhanh hơn là mức độ toàn cầu hoá R&D Điều này có nghĩa là giữa mức độ toàn cầu hóa R&D của doanh nghiệp và mức độ toàn cầu hoá kinh doanh của doanh nghiệp đã xuất hiện sự không tương xứng Cạnh tranh quốc tế gay gắt trong điều kiện toàn cầu hóa đã xác định ngày càng rõ hơn nguồn tri thức là kêt quả của R&D trở thành nguồn lực cốt lõi trong kinh doanh của doanh nghiệp Trong tình thế như vậy, các doanh nghiệp kinh doanh đa quốc gia đã dần tăng cường thực hiện R&D ở nước ngoài, và do vậy toàn cầu hoá R&D của các công ty đa quốc gia trở thành xu thế quan trọng trong toàn cầu hóa kinh tế thế giới

Thứ ba, công nghệ thông tin đã tạo điểu kiện đẩy nhanh tiến trình toàn cẩu hoá về KH&CN Sự phát triển nhanh chóng công nghệ thông tin đã tác động

sâu rộng đến phương thức sinh hoạt và làm việc của nhân loại, tạo khả năng

bố trí nguồn lực KH&CN thông qua mạng; cho phép các nhà khoa học nâng cao đáng kể năng lực tiếp nhận thông tin KH&CN quốc tế

Từ những khía cạnh nêu trên cho thấy quán trình toàn cầu hoá thị trường và

toàn cầu hoá sản xuất không thể tách rời quá trình phát triển Khoa học và Công nghệ Trong tiến trình phát triển kinh tế thế giới, KH&CN luôn đóng

một vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất và trong bối cảnh toàn cầu hóa Cuộc cách mạng về KH&CN toàn cầu những năm cuối thế kỷ XX đến nay đã làm thay đổi căn bản kết cấu nền KH&CN quốc tế, trong đó các nước phát triển thu lợi nhiều nhất Riêng đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, vẫn có thể tận dụng lợi thế "người đi sau" để "đi tắt, đón đầu"

Câu 5:

Thế giới đương đại đang có những chuyển biến lớn lao với nhiều sự kiện diễn ra một cách nhanh chóng, phức tạp, khó lường, trung tâm kinh tế toàn

Trang 7

cầu chuyển dịch mạnh về khu vực châu Á - Thái Bình Dương, kéo theo xu thế liên kết kinh tế - thương mại được thúc đẩy mạnh mẽ tại khu vực

Sự phát triển vượt bậc về khoa học - công nghệ trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã thúc đẩy sự hình thành, vận động một trật tự kinh tế thế giới với nhiều xu hướng mới Trong khi Mỹ xem xét lại thỏa thuận thương mại với nhiều đối tác, rút khỏi Hiệp định thương mại TPP thì Trung Quốc đang giương cao ngọn cờ toàn cầu hóa kinh tế với chiến lược "Vành đai con đường" và thúc đấy ký kết Hiệp định RCEP Theo dự báo, đến năm 2030, các nước đang phát triển sẽ đóng góp 2/3 tăng trưởng toàn cầu và một nửa sản lượng toàn cầu và sẽ là những điểm đến chính của thương mại thế giới

Việt Nam ngày càng có quan hệ sâu rộng với Trung Quốc trong hầu hết các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế thương mại

*Các xu thế chuyển dịch kinh tế thế giới:

- Thứ nhất, toàn cầu hóa, liên kết kinh tế quốc tế có phần chững lại do phản

ứng của những nước từng đi đầu toàn cầu hóa, như Anh, Mỹ, EU…Trung Quốc từng bước cạnh tranh với Mỹ trong vai trò dẫn dắt toàn cầu hóa và liên kết kinh tế quốc tế Có thể kể đến như việc Trung Quốc đơn phương thực hiện cam kết tại Hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu năm

2015 (COP21), trong khi Mỹ rút khỏi cam kết này; Trung Quốc đưa ra một loạt sáng kiến lớn, như “Sáng kiến Vành đai và Con đường” (BRI); thành lập Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB), Quỹ Con

đường tơ lụa; thúc đẩy ký kết Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)… trong khi Mỹ đơn phương rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đàm phán lại một loạt cam kết song phương, đa phương về kinh tế, trong đó có Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA); Hiệp định Thương mại tự do Mỹ - Hàn Quốc… Những điều này đã làm thay đổi sự chênh lệch vốn có về vị thế, ảnh hưởng của Mỹ và Trung Quốc, trực tiếp tác động đến những khuôn khổ, cách thức quan hệ

cố hữu trong trật tự kinh tế và an ninh ở các cấp độ khu vực, thế giới

- Thứ hai, toàn cầu hóa chuyển dần sang khu vực hóa thương mại với sự ra

đời của nhiều cơ chế/sáng kiến ở cấp độ khu vực, sẽ có sự kết hợp giữa bảo hộ và khu vực hóa các chuỗi giá trị, thay đổi theo từng lĩnh vực Sự phân cực kinh tế sẽ làm gia tăng sự khác biệt về chính trị, đơn cử như nhiều cơ chế hợp tác phát triển mới ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương được hình thành, đã và đang tác động sâu sắc tới trật tự kinh tế thế giới, cục diện quan hệ quốc tế và quan hệ các nước lớn Những liên kết kinh tế

- thương mại trở thành công cụ quan trọng trong cạnh tranh chiến lược ngày càng quyết liệt giữa các nước lớn nhằm giành quyền dẫn dắt, tập hợp lực lượng ở các khu vực Để nắm ngọn cờ tập hợp lực lượng chính trị - chiến lược ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, các nước lớn đều tranh

Trang 8

thủ, lôi kéo các nước vừa và nhỏ, nhất là các nước ASEAN tham gia liên kết do mình dẫn dắt

- Thứ ba, những đột phá công nghệ trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần

thứ tư làm thay đổi những nền tảng truyền thống của kinh tế thế giới Khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ số sẽ vẫn là động lực lớn cho

sự phát triển ở cấp độ toàn cầu Những tiến bộ vượt bậc về khoa học - công nghệ từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang làm thay đổi về chất của lực lượng sản xuất, tác động mạnh mẽ đến những thay đổi trong quan hệ sản xuất, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, quy mô sản xuất, năng suất lao động… dẫn đến những thay đổi to lớn trong phương thức sản xuất

- Thứ tư, trung tâm thịnh vượng toàn cầu chuyển dịch từ Tây sang Đông,

với vai trò dẫn dắt ngày càng lớn của Trung Quốc dẫn tới sự chuyển dịch trật tự kinh tế và quyền lực trên phạm vi toàn cầu Tỷ trọng của các nền kinh tế phương Tây, kể cả Mỹ, các nước Tây Âu và Nhật Bản có xu hướng giảm dần; tỷ trọng của các nền kinh tế Trung Quốc, Ấn Độ ngày một tăng trong nền kinh tế thế giới hơn một thập niên qua Khu vực châu

Á - Thái Bình Dương tập trung 3/5 nền kinh tế lớn nhất thế giới với các quốc gia đông dân nhất thế giới, như Trung Quốc và Ấn Độ có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới với đà ổn định Những thị trường lớn

và tăng trưởng nhanh nhất này là động lực cơ bản cho các xu hướng phát triển lớn nhất trong công nghệ, thương mại và tài chính của nền kinh tế thế giới Thời gian tới, châu Á - Thái Bình Dương sẽ tiếp tục là khu vực phát triển hàng đầu với sự hiện diện của nhiều nước lớn và các nền kinh tế năng động, nằm trên tuyến hàng hải, hàng không sôi động bậc nhất thế giới, nơi hiện diện các liên minh, tổ chức, thể chế đa phương quan trọng

và tiếp tục ra đời những cơ chế/sáng kiến trên tất cả các lĩnh vực, nhất là

về kinh tế, an ninh - quốc phòng ở mọi cấp độ

*Các tác động đến thị trường Việt Nam và thế giới:

- Đây là tín hiệu xấu cho hoạt động của các định chế quốc tế, như WTO, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), nhóm 20 nền kinh tế lớn (G20) và các tổ chức khu vực như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Điều này cũng dẫn đến những hiệu ứng tự do hóa của các hiệp định thương mại tự do (FTA) mạnh mẽ hơn Bằng chứng cho thấy, kể cả khi xung đột thương mại Mỹ - Trung Quốc nhiều lần leo thang và “trồi sụt”, Mỹ nhiều lần đơn phương áp thuế đối với các nước đối tác và đồng minh, xu hướng tham gia liên kết mới thông qua các FTA

ưu đãi vẫn phát triển(3)

- Thúc đẩy sự cạnh tranh, tăng cường tiềm lực sức mạnh và năng lực sản xuất quốc gia, về tổng thể thúc đẩy sự chuyển dịch trật tự kinh tế thế giới

và những thay đổi trong quan hệ quốc tế Lịch sử thế giới chứng minh

Trang 9

rằng, các cuộc cách mạng công nghiệp luôn dẫn đến phân kỳ giai đoạn, gia tăng khoảng cách phát triển giữa những quốc gia bắt kịp và những quốc gia tụt lại phía sau(4) Do đó, trong bối cảnh thế giới mới hiện nay, để tận dụng các cơ hội và hạn chế tác động tiêu cực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các nước đang phát triển cần tăng cường liên kết, hợp tác về khoa học - công nghệ tiên tiến từ bên ngoài, từ đó, nâng cao năng lực công nghệ nội sinh của mình, tạo ra các sản phẩm và công nghệ sản xuất mới phục vụ phát triển kinh tế Điều này dẫn đến sự gia tăng các

cơ chế hợp tác mới trong khu vực và sự chuyển dịch lớn trong trật tự kinh

tế thế giới

- Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều tác động, thách thức từ sự giảm sâu của tăng trưởng kinh tế và sự chuyển dịch trật tự kinh tế thế giới Vì vậy, thích ứng với sự chuyển dịch trật tự kinh tế thế giới, chủ động tham gia quá trình định hình những “luật chơi” mới là một yêu cầu không thể không tính tới

Câu 6:

Thực thế đã thống kê toàn thế giới có tất cả 204 quốc gia Tuy nhiên, trên thực tế thì một số quốc gia tự công nhận nền độc lập nhưng lại hệ thống chính quyền lại không có đủ quyền lực hoặc không thể đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của một quốc gia độc lập Do đó, con số 204 quốc gia đã được chia thành 5 nhóm nước

cơ bản là:

– Nhóm 1: Bao gồm 193 quốc gia được công nhận và là thành viên chính thức của tổ chức Liên Hợp Quốc

– Nhóm 2: Gồm Palestine và Thành Vatican hiện đang trong quá trình quan sát

và xem xét của Liên Hợp Quốc do một số thành viên trong tổ chức này không công nhận 2 khu vực trên

– Nhóm 3: Gồm Đài Loan và Kosova không có nền độc lập trọn vẹn Mặc dù 2 khu vực này được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận khi là thành viên chính thức của nhiều tổ chức Kosova được 111/193 quốc gia của tổ chức Liên Hợp Quốc, 24/28 của tổ chức NATO, 35/61 của tổ chức Hợp tác Hồi giáo và 23/28 của Liên minh Châu Âu công nhận Đối với Đài Loan thì được 19/193 thành viên Liên Hợp Quốc và thực hiện duy trì quan hệ chính thức với nhiều quốc gia – Nhóm 4: Bao gồm Tây Sahara là một khu vực được 41 quốc gia trên thế giới

và Liên minh Châu Phi công nhận nhưng không có độc lập về chính quyền Cụ thể, hiện nay Tây Sahara vẫn đang bị chiếm đóng

– Nhóm 5: Bao gồm 6 quốc gia và vùng lãnh thổ tự tuyên bố độc lập nhưng không được thế giới công nhận là Abkhazia (Vanuatu, Nga, Tuvalu và

Venezuela công nhận), Nam Ossetia (được Nauru, Nicaragua, Nga và Venezuela

Trang 10

công nhận), Bắc Síp (được Thổ Nhĩ Kỳ công nhận), Nagorno – Karabakh, Transnistria và Somaliland

Có nhiều chỉ số khác nhau được dùng để đánh giá sự giàu có của một quốc gia, vùng lãnh thổ, nhưng thường bao gồm tổng sản phẩm trong nước (GDP), GDP bình quân đầu người hoặc tổng thu nhập quốc dân (GNI)

Khi xếp hạng dựa trên GDP, những nước giàu nhất là những nền kinh tế lớn nhất Dựa trên dữ liệu GDP năm 2021 của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF), 10 quốc gia giàu nhất thế giới gồm:

1 Mỹ - 22.996 tỷ USD

2 Trung Quốc - 17.458 tỷ USD

3 Nhật Bản - 4.937 tỷ USD

4 Đức - 4.226 tỷ USD

5 Anh - 3.187 tỷ USD

6 Pháp - 2.935 tỷ USD

7 Ấn Độ - 3.042 tỷ USD

8 Italy - 2.100 tỷ USD

9 Canada - 1.990 tỷ USD

10.Brazil - 1.609 tỷ USD

Kể từ năm 1871, Mỹ đã duy trì vị thế là nền kinh tế lớn nhất thế giới Mỹ

thường được gọi là một siêu cường tài chính, và điều này là do nền kinh tế tốt nhất chiếm gần một phần ba vốn toàn cầu được hỗ trợ bởi cơ sở hạ tầng, công nghệ hiện đại và sự giàu có tài nguyên thiên nhiên Trong khi ngành công

nghiệp Hoa Kỳ hướng đến dịch vụ, thêm gần 80% GDP, thì sản xuất chỉ thêm khoảng 15% sản lượng

Mỹ cũng có nền kinh tế công nghệ mạnh nhất thế giới với các lĩnh vực đa dạng như dầu mỏ, sắt, ô tô, hàng không vũ trụ, hóa chất, điện tử, chế biến thực phẩm

và hàng tiêu dùng Các tập đoàn lớn của Hoa Kỳ cũng thực hiện một phần đáng

kể ở cấp độ toàn cầu, với hơn một phần năm của Fortune Global 500 công ty đến từ GDP của Hoa Kỳ tăng 1,7% vào năm 2020

Thị trường tài chính của Mỹ là thị trường lớn nhất và có tầm ảnh hưởng nhất trên thế giới Tổng số tiền đầu tư nước ngoài được thực hiện tại Hoa Kỳ gần 2,4 nghìn tỷ USD và Mỹ đầu tư ở nước ngoài với số tiền tổng cộng hơn 3,3 nghìn tỷ USD

Ngày đăng: 10/11/2022, 13:20

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w