PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong đời sống tinh thần của con người tôn giáo luôn đóng một vai trò nhất định. Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử loài người, tôn giáo ra đời và trở thành một hiện tượng xã hội. Có nhiều tôn giáo khác nhau trên thế giới nhưng nhìn chung mọi tôn giáo đều hướng tới con người với những giá trị tốt đẹp. Chủ nghĩa cộng sản không phủ nhận tuyệt đối tôn giáo mà dung hòa tôn giáo trong đời sống, chính trị, xã hội để phát triển. Ở nước ta cũng vậy, tôn giáo đóng vai trò nhất định trong đời sống tinh thần. Nhìn chung mọi giáo lý của các tôn giáo đều chứa đựng tính nhân văn sâu sắc. Những chiết lý ấy giúp cho con người sống với nhau gần gũi hơn, có trách nhiệm hơn với bản thân, cộng đồng, với sự phát triển chung của toàn xã hội. Tôn giáo là sự tự do tín ngưỡng của mỗi công dân. Vì vậy trong định hướng trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa, Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng vai trò của các tôn giáo. Mặt khác ở Việt Nam trong lịch sử, tôn giáo đã bị lợi dụng để phục vụ cho mục đích chính trị, và ngày nay vẫn còn tồn tại những kẻ lợi dụng tôn giáo để chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa của ta. Chính vì thế mà mỗi người dân cần xác định rõ tư tưởng tự do tín ngưỡng phải đi đôi với chấp hành pháp luật của Đảng và nhà nước. Đó cũng là lý do chúng em quyết định chọn đề tài “ Chính sách tôn giáo của Việt Nam trong thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội” làm đề tài nghiên cứu, để trước hết mỗi thành viên trong nhóm sẽ có những hiểu biết nhất định về các tôn giáo ở Việt Nam. Đồng thời xác định rõ cách nhìn nhận , lựa chọn tín ngưỡng góp phần vào sự phát triển chung của xã hội. 2. Mục đích nghiên cứu Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội ra đời và biến đổi theo sự biến động của hoàn cảnh lịch sử xã hội. Cũng từ đó, chúng ta còn biết một cách khái quát rằng, tôn giáo còn tồn tại trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vậy, trong quá trình xây dựng đó, tôn giáo còn tồn tại là do những nguyên nhân cụ thể gì? Mặt khác, ở nước ta hiện nay tôn giáo đang có xu hướng phát triển, trước tình hình đó, để góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước, cần phải thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng về vấn đề tôn giáo như thế nào? Trên đây chính là những mục đích mà nhóm chúng em muốn hướng tới khi nghiên cứu đề tài: “ Chính sách tôn giáo của Việt Nam trong thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội” 3. Nội dung nghiên cứu Tôi chọn nghiên cứu về đề tài: “ Chính sách tôn giáo của Việt Nam trong thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội” Kết cấu bài tiểu luận bao gồm phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo và nội dung có bốn chương: Chương 1. Tìm hiểu chung về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam Chương 2. Những nguyên nhân chủ yếu cho sự tồn tại các tôn giáo ở nước ta. Chương 3: Tôn giáo trong tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 4. Kết quả nghiên cứu Hiểu được bản chất , nguồn gốc và các vấn đề của tôn giáo. Biết được nguyên nhân tồn tại và nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nắm vững và biết vận dụng nhiều quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước ta trong quá trình học tập, công tác.
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
4 Kết quả nghiên cứu 3
PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 TÌM HIỂU CHUNG VỀ TÔN GIÁO VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM 4
1.1 Tôn giáo và ý nghĩa của tôn giáo trong đời sống 4
1.2 Các tôn giáo phổ biến ở nước 5
CHƯƠNG 2: NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU CHO SỰ TỒN TẠI CÁC TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA 7
2.1 Nguyên nhân nhận thức 8
2.2 Nguyên nhân kinh tế 8
2.3 Nguyên nhân tâm lý 8
2.4 Nguyên nhân chính trị - xã hội 8
2.5 Nguyên nhân văn hóa 9
CHƯƠNG 3 TÔN GIÁO TRONG TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 10
3.1 Các vấn đề tôn giáo ở Việt Nam 10
3.2 Nguyên tắc giải quyết của Đảng và Nhà nước 13
3.3 Quan điểm, chính sách của Đảng - Nhà nước đối với tôn giáo 14
KẾT LUẬN CỦA NHÓM 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong đời sống tinh thần của con người tôn giáo luôn đóng một vai trònhất định Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử loài người, tôn giáo ra đời vàtrở thành một hiện tượng xã hội Có nhiều tôn giáo khác nhau trên thế giớinhưng nhìn chung mọi tôn giáo đều hướng tới con người với những giá trị tốtđẹp Chủ nghĩa cộng sản không phủ nhận tuyệt đối tôn giáo mà dung hòa tôngiáo trong đời sống, chính trị, xã hội để phát triển Ở nước ta cũng vậy, tôn giáođóng vai trò nhất định trong đời sống tinh thần Nhìn chung mọi giáo lý của cáctôn giáo đều chứa đựng tính nhân văn sâu sắc Những chiết lý ấy giúp cho conngười sống với nhau gần gũi hơn, có trách nhiệm hơn với bản thân, cộng đồng,với sự phát triển chung của toàn xã hội Tôn giáo là sự tự do tín ngưỡng của mỗicông dân Vì vậy trong định hướng trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa,Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng vai trò của các tôn giáo Mặt khác ở ViệtNam trong lịch sử, tôn giáo đã bị lợi dụng để phục vụ cho mục đích chính trị, vàngày nay vẫn còn tồn tại những kẻ lợi dụng tôn giáo để chống phá nhà nước xãhội chủ nghĩa của ta Chính vì thế mà mỗi người dân cần xác định rõ tư tưởng tự
do tín ngưỡng phải đi đôi với chấp hành pháp luật của Đảng và nhà nước Đó
cũng là lý do chúng em quyết định chọn đề tài “ Chính sách tôn giáo của Việt
Nam trong thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội” làm đề tài
nghiên cứu, để trước hết mỗi thành viên trong nhóm sẽ có những hiểu biết nhấtđịnh về các tôn giáo ở Việt Nam Đồng thời xác định rõ cách nhìn nhận , lựachọn tín ngưỡng góp phần vào sự phát triển chung của xã hội
2 Mục đích nghiên cứu
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội ra đời và biến đổi theo sự biến
Trang 4quát rằng, tôn giáo còn tồn tại trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Vậy,trong quá trình xây dựng đó, tôn giáo còn tồn tại là do những nguyên nhân cụ thểgì?
Mặt khác, ở nước ta hiện nay tôn giáo đang có xu hướng phát triển, trướctình hình đó, để góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước, cần phải thựchiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng về vấn đề tôn giáo như thế nào?Trên đây chính là những mục đích mà nhóm chúng em muốn hướng tới khi
nghiên cứu đề tài: “ Chính sách tôn giáo của Việt Nam trong thời kì quá độ từ
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội”
3 Nội dung nghiên cứu
Tôi chọn nghiên cứu về đề tài: “ Chính sách tôn giáo của Việt Nam trong
thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội”
Kết cấu bài tiểu luận bao gồm phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo
và nội dung có bốn chương:
Chương 1 Tìm hiểu chung về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam
Chương 2 Những nguyên nhân chủ yếu cho sự tồn tại các tôn giáo ở nướcta
Chương 3: Tôn giáo trong tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam
4 Kết quả nghiên cứu
Hiểu được bản chất , nguồn gốc và các vấn đề của tôn giáo Biết đượcnguyên nhân tồn tại và nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong quá trình xâydựng chủ nghĩa xã hội Nắm vững và biết vận dụng nhiều quan điểm, chính sáchtôn giáo của Đảng và nhà nước ta trong quá trình học tập, công tác
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TÌM HIỂU CHUNG VỀ TÔN GIÁO VÀ TÔN GIÁO
Ở VIỆT NAM 1.1 Tôn giáo và ý nghĩa của tôn giáo trong đời sống
1.1.1Tôn giáo là gì?
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại
và tồn tại phổ biến ở hầu hết các cộng đồng người trong lịch sử hàng ngàn nămqua Nhìn chung bất cứ một tôn giáo nào, với hình thái phát triển của nó đều baogồm: ý thức tôn giáo và hệ thống tổ chức tôn giáo cùng với những hoạt độngmang tính chất tín ngưỡng nghi thức của nó
Tôn giáo không thuần tuý chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là hiệntượng văn hoá, lịch sử, một lực lượng có thực trong đời sống xã hội Trong quátrình hoạt động thực tiễn, con người phải đối mặt với thế giới hiện thực, đối mặtvới các hiện tượng diễn ra trong tự nhiên và trong xã hội như: sấm, chớp, mâymưa, bão lũ đối mặt với các hiện tượng phân hoá giàu nghèo, những bất công
xã hội, sự xung đột giữa các bộ tộc, bộ lạc, chiến tranh, bệnh tật Đó là nhữnghiện tượng có thật, nhưng qua phản ánh của tôn giáo lại trở thành siêu nhiên,thần thánh Điều này đã được Ph.Ăngghen khẳng định: "Tất cả mọi tôn giáochẳng qua là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc con người của những lựclượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong
đó những lực lượng trần thể đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế
Trang 6Tuy nhiên, dù hiểu theo cách nào thì mọi tôn giáo đều chứa đựng mộtgiá trị văn hoá, đạo đức, đạo lý tốt đẹp phù hợp với xã hội, với truyền thống baođời của dân tộc.
1.1.2 Ý nghĩa của tôn giáo đối với đời sống
Hiện nay, trên tinh thần đổi mới nhận thức về tôn giáo, Đảng và Nhà nước
ta đã nhận định tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, trong tôn giáo cónhững giá trị tốt đẹp về đạo đức, văn hóa Vấn đề tôn giáo đã được nhiều nhàkhoa học quan tâm nghiên cứu Các giáo lý tôn giáo đều chứa đựng một số giá trịđạo đức nhân bản rất hữu ích cho việc xây dựng nền đạo đức mới và nhân cáchcon người Việt Nam hiện nay Giá trị lớn nhất của đạo đức tôn giáo là góp phầnduy trì đạo đức xã hội, hoàn thiện nhân cách cá nhân, hướng con người đến Chân
- Thiện - Mỹ Tuy nhiên, đạo đức tôn giáo cũng còn nhiều yếu tố tiêu cực, nóhướng con người đến hạnh phúc hư ảo và làm mất tính chủ động, sáng tạo củacon người Vấn đề đặt ra là, cần nhận điện đúng vai trò của tôn giáo nhằm pháthuy những giá trị tốt đẹp của tôn giáo và hạn chế những tác động tiêu cực của nóđối với việc hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam hiện nay Trong xu thếđổi mới hiện nay, cùng với những chuyển biến căn bản trong đời sống kinh tế -
xã hội, sự đổi mới trong tư duy lý luận, trong nhận thức về tôn giáo cũng đã vàdang diễn ra
Trước đây, trong một thời gian dài, chúng ta đã coi tôn giáo như là "tàn dưcủa xã hội cũ, là kết quả sai lầm trong nhận thức của con người Tôn giáo bị xemnhư cái đối lập với chủ nghĩa xã hội, với khoa học, kỹ thuật hiện đại và cần phảiloại bỏ
Tuy nhiên trong tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước
ta đã có những nhận định mang tính khách quan, khoa học về tôn giáo, xác địnhtôn giáo còn tồn tại lâu dài và có một số giá trị đạo đức phù hợp với lợi ích của
Trang 7toàn dân, với công cuộc xây dựng xã hội mới và do vậy, cần phát huy những giátrị tốt đẹp về văn hóa, đạo đức của tôn giáo Điều này có ý nghĩa quan trọngtrong việc họach định chính sách tôn giáo, bảo vệ và tu tạo các di sản văn hóatôn giáo.
Việc tìm hiểu, chỉ ra chân giá trị của các tôn giáo còn có ý nghĩa nhấtđịnh trongcông cuộc đổi mới hiện nay, khi mà chúng ta cần phải huy động mọinguồn lực tham gia vào sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủnghĩa, trong đó có vấn đề quan trọng là củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và kếthừa, phát huy những giá trị văn hóa đạo đức trong tôn giáo vào việc xây dựngnền đạo đức mới, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
1.2 Các tôn giáo phổ biến ở nước
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, trong đó có 6 tôn giáo chính, tồn tại
và phát triển cùng với tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đó là: Phậtgiáo, Thiên Chúa giáo, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Hòa Hảo, đạo Cao Đài Mỗimột tôn giáo đều mang những nét đặc trưng riêng, tuy vậy các tôn giáo đều cóchung một đặc điểm đó là khuyến khích giáo dân của đạo mình làm những việctốt đạo đẹp đời , hoạt động tôn giáo trên khuôn khổ của pháp luật Việt Nam
1.2.1 Đạo Phật
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ VI, đến đời Lý (thế kỷthứ XI) Phật giáo ở vào giai đoạn cực thịnh và được coi là hệ tư tưởng chínhthống Phật giáo được truyền bá rộng rãi trong nhân dân và có ảnh hưởng sâu sắctới đời sống xã hội, để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực văn hoá, kiến trúc Nhiềuchùa, tháp được xây dựng trong thời kỳ này.Nhà nho Lê Quát học trò Chu Văn
An đã lấy làm khó chịu khi toàn dân theo Phật: “Phật chỉ lấy điều họa phúc màđộng lòng người, sao mà sâu xa và bền chắc đến như vậy? Trên từ vương công,
Trang 8dưới đến thứ dân, hễ làm cái gì thuộc về Phật, thì hết cả gia tài cũng khôngtiếc ”
Phật giáo Việt Nam kết hợp chặt chẽ việc đạo với việc đời Vốn là mộttôn giáo xuất thế, nhưng vào Việt Nam Phật giáo trở lên rất nhập thế: các caotăng được nhà nước mời tham chính trong những việc hệ trọng Phật tử Việt Namhăng hái tham gia vào các hoạt động xã hội, các phong trào đấu tranh đòi hòabình và độc lập dân tộc, đỉnh cao là sự kiện hòa thượng Thích Quảng Đức tựthiêu vào mùa hè năm 1963 Với tín điều giáo lý đạo Phật luôn răn dạy người tasống làm việc thiện , tránh xa cái ác
1.2.2 Đạo Thiên Chúa
Vào thế kỷ XVI, Công giáo (Thiên chúa giáo) truyền vào Việt Nam do cácgiáo sĩ Bồ đào nha, Tây ban nha và sau là Pháp Sự truyền đạo giai đoạn đầu ítgặp trở ngại do tính khoan dung của người Việt Nam và tính không đối dầu củatôn giáo bản địa nhưng sự truyền đạo đạt kết quả không cao Sau đó Pháp vậnđộng Giáo Hoàng cho phép độc quyền truyền đạo tại Việt Nam Hội truyền giáoPa-ri được thành lập năm 1660 cùng nhà nước Pháp tuyển chọn, đào tạo giáo sĩ,
cử sang hoạt động ở Việt Nam và một số nước khác
Trong những năm gần đây Công giáo nước ta có chiều hướng phát triển
Số lượng tín đồ tăng do sự gia tăng dân số tự nhiên và một số tín đồ khô đạo,nhạt đạo trở lại sinh hoạt Số tín đồ Công giáo nước ta hiện nay khoảng 5 triệu,hiện nay đang có cuộc sống ổn định và phấn khởi trước cuộc đổi mới và chínhsách tôn giáo của Đảng đang chăm lo cải thiện đời sống và tham gia vào các hoạtđộng xã hội nhân đạo, an ninh trật tự, phòng chống các tệ nạn xã hội và thể hiệncuộc sống theo phương châm “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa yêu nước”
Trang 91.2.3 Đạo Tin Lành
Đạo Tin Lành du nhập vào Việt Nam khoảng cuối thế kỷ XIX và đầu thế
kỷ XX do tổ chức Tin lành “Liên hiệp phúc âm truyền giáo” (CMA) truyền vào.Năm 1911 tổ chức này đã xây dựng được cơ sở đầu tiên ở Đà Nẵng Các Hộithánh tin lành được lần lượt được xây dựng tại các địa phương Năm 1927, TổngHội thánh Tin lành Việt Nam được thành lập Đến năm 1930, một tổ chức thứhai là Giáo hội Cơ đốc Phục lâm được truyền vào nước ta
Trong thời gian gần đây, cùng với trào lưu đổi mới Tổng Liên hội Tinlành đã hoạt động trở lại Đặc biệt đạo Tin lành chú trọng phục hồi và phát triển
ở Tây nguyên, truyền đạo ở các vùng núi phía Bắc trong các đồng bào dân tộcthiểu số với phương pháp truyền đạo khá đa dạng và linh hoạt Ngoài việc truyềnđạo trực tiếp, các Giáo hội Tin lành thường thông qua các hoạt động khoa học,văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế, đầu tư kinh doanh tranh thủ cảm tình của quầnchúng để truyền đạo Hiện nay một số thế lực phản động trong và ngoài nước đãbịa đặt ra cái gọi là Nhà nước Đềga độc lập và Tin Lành Đềga ở Tây Nguyênnhằm tuyên truyền, kích động cho sự chia rẽ, ly khai Nhà nước Việt Nam đãkiên quyết bác bỏ cái gọi là “Nhà nước Đềga độc lập”, coi đây là âm mưu chia rẽ
sự toàn vẹn lãnh thổ và gây mất an ninh trật tự của đất nước và khẳng định ởViệt Nam không có cái gọi là đạo Tin Lành Đềga ngoài đạo Tin Lành đã tồn tại
ở nước ta trong nhiều năm qua
1.2.4 Đạo Hồi
Người theo đạo Hồi ở Việt Nam hầu hết là người dân tộc Chăm Đạo Hồi
du nhập vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ X – XIV bằng con đường hòa bìnhcùng với quá trình tan rã của quốc gia Chiêm Thành (Chămpa) và sự suy giảmdần của đạo Hindu - tôn giáo chính thống của người Chăm
Trang 10Do vị trí địa lý và hoàn cảnh truyền đạo, điều kiện sống và sự giao lưucủa đồng bào Chăm với bên ngoài nhất là với thế giới Hồi giáo mà ở Việt Namhình thành 2 khối Hồi giáo với nhiều khác biệt đáng kể: Hồi giáo vùng NinhThuận, Bình Thuận là Hồi giáo không chính thống gọi là Chăm Bani, đượm sắcthái của yếu tố sinh hoạt và tôn giáo bản địa Hồi giáo ở TP Hồ Chí Minh, AnGiang, Đồng Nai, Tây Ninh gọi là Chăm Islam theo Hồi giáo chính thống, không
bị pha trộn với phong tục, tập quán, tín ngưỡng cũ và thường xuyên liên hệ vớithế giới Hồi giáo Campuchia và Malaysia
Hiện nay các tín đồ Hồi giáo sinh hoạt bình thường, vừa tuân phục cácgiáo luật khắt khe vừa thực hiện tốt các nghĩa vụ công dân, tôn trọng sự lãnh đạocủa Đảng cộng sản và sự quản lý của chính quyền mong muốn được sinh hoạttôn giáo hợp pháp, muốn duy trì mối quan hệ với thánh địa Mecca Nói chungtrong những năm qua tín đồ Hồi giáo tăng chậm do đồng bào Chăm thường sống
ở những vùng có kinh tế khó khăn, có thu nhập thấp, diện nghèo còn cao và rấtcần có sự quan tâm hỗ trợ của các cấp chính quyền để xây dựng cuộc sống mớitốt đẹp hơn
1.2.5 Đạo Cao Đài
Đạo Cao đài do một số người thuộc tầng lớp trên (tư sản, địa chủ, tiểu tưsản), công chức chủ trương, ban đầu vốn là một trào lưu chính trị với mục đíchthành lập đạo để tập hợp lực lượng quần chúng mà chủ yếu là nông dân chống lại
sự kỳ thị, bóc lột, chèn ép của thực dân Pháp Song sau đó trào lưu này đã nhanhchóng trở thành một tôn giáo lớn tại Nam bộ cho đến tận ngày nay
Sau năm 1975, các chức sắc và hơn 1 triệu tín đồ các hệ phái chủ yếu tutại gia Trong thời kỳ đổi mới, các hệ phái đã sinh hoạt trở lại với sự giúp đỡ củaĐảng và Nhà nước Nhiều hệ phái được thừa nhận tư cách pháp nhân như Tiênthiên, Minh Chơn đạo, Bạch Y Liên Đài Các hệ phái tổ chức các đại hội Qua
Trang 11đó, lòng tin vào chính sách tôn giáo của Đảng được củng cố trong tín đồ Nhữngnhân tố tích cực của Đạo được khơi dậy, khắc phục một bước tình trạng mấtđoàn kết trong chức sắc Xu thế chung là tín đồ đạo Cao Đài muốn hành đạothuận lợi trong khuôn khổ luật pháp và làm tròn nghĩa vụ công dân.
1.2.6 Đạo Hòa Hảo
Phật giáo Hòa Hảo ra đời ngày 15 tháng 5 năm 1939 tại làng Hòa Hảo,Châu Đốc, An Giang và phát triển chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long Sự rađời của Phật giáo Hòa Hảo Hảo gắn với đặc điểm tâm lý, lối sống đạo đức, tínhcách, đời sống tín ngưỡng của nông dân Nam Bộ và liên quan đến môi trườngkinh tế - xã hội - chính trị ở đây trong khoảng thời gian hai cuộc chiến tranh thếgiới
Đạo Hoà Hảo phát triển ở miền Tây Nam Bộ, kêu gọi mọi người sống hòahợp
Tôn giáo này đánh giá cao triết lý "Phật tại tâm", khuyến khích nghi lễ thờcúng đơn
giản (chỉ có hoa và nước sạch) và loại bỏ mê tín dị đoan Những buổi lễđược tổ chức
rất đơn giản và khiêm tốn, không có ăn uống, hội hè Lễ lộc, cưới hỏi hay
ma chay
không cầu kỳ như thường thấy ở những tôn giáo khác Đạo không có tu sĩ,không có tổ chức giáo hội mà chỉ có một số chức sắc lo việc đạo và cả việc đời
Trang 12
CHƯƠNG 2: NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU CHO SỰ TỒN TẠI
CÁC TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA
Tôn giáo là một hiện tượng chỉ tồn tại trong một giai đoạn nhất định của lịch sử xã hội, từ đầu thời công xã nguyên thuỷ trở về trước là chưa có, và đến thời kỳ cộng sản chủ nghĩa cũng sẽ không tồn tại tôn giáo Nhưng trong lòng xã hội xã hội chủ nghĩa vẫn sẽ tồn tại tôn giáo Tại sao vậy ?
Xuất phát từ bản chất mang cả hai phương diện xã hội và giai cấp như
đã trình bày ở trên, tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng như trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa xã hội vẫn sẽ tồn tại, bởi nó vẫn chưa mất hết những giá trị tích cực cũng như vẫn còn có những nền tảng để tiếp tục tồn tại.
2.1 Nguyên nhân nhận thức
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, trình độ nhận thức, trình độdân trí của nhân dân đã có những tiến bộ nhất định, nhưng vẫn còn nhiều hạnchế, vì thế, nhân dân chưa nhận thức được hoặc nhận thức chưa đầy đủ các hiệntượng diễn ra trong tự nhiên và trong xã hội Sự hạn chế đó làm cho nhân dân dễđến với tín ngưỡng tôn giáo
Hiện nay, nhân loại đạt được những thành tựu lớn lao về khoa học vàcông nghệ, nhất là những tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin, công nghệsinh học, công nghệ vật liệu mới đã giúp con người có thêm những khả năng
để nâng nhận thức và vai trò làm chủ tự nhiên, xã hội của mình lên một tầm caomới Song, hiện thực khách quan là vô cùng, vô tận, tồn tại đa dạng và phongphú, còn đặt ra nhiều vấn đề mà hiện tại khoa học chưa thể làm rõ Những sứcmạnh tự phát của tự nhiên, xã hội đôi khi rất nghiêm trọng vẫn tác động và chiphối đời sống con người Do đó, tâm lý sợ hãi, trông chờ, nhờ cậy và tin tưởngvào thánh thần, Phật vẫn còn tồn tại trong ý thức của nhiều người
Trang 132.2 Nguyên nhân kinh tế
Kinh tế là một vấn đề nhạy cảm, là xương sống của mỗi quốc gia sựphát triển hay tụt hậu của một nền kinh tế theo bất kì xu hướng nào đều ảnhhưởng sâu sắc tới đời sống của con người Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, nhất làgiai đoạn đầu của thời kỳ quá độ vẫn còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiềuhình thức sở hữu Con người luôn phải chịu sự chi phối của những qui luật kinh
tế khách quan đó Đặc biệt trong thời kì này còn nhiều thành phần kinh tế vậnhành theo cơ chế thị trường với những lợi ích khác nhau giữa các giai cấp, tầnglớp vẫn là một thực tế, trong nền kinh tế đó, con người vẫn chịu sự tác độngchi phối bởi các yếu tố tất nhiên, ngẫu nhiên, may rủi Đời sống vật chất, tinhthần của nhân dân chưa cao Điều đó, làm cho con người vẫn tin vào lực lượngsiêu nhiên, cầu xin công việc làm ăn gặp nhiều may mắn
2.3 Nguyên nhân tâm lý
Tôn giáo đã tồn tại lâu đời trong lịch sử nhân loại, ăn sâu vào tiềm thứccủa nhiều người dân Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội bảo thủ nhất.Những niềm tin tôn giáo ảnh hưởng sâu đậm trong nếp nghĩ, lối sống của một bộphận nhân dân qua nhiều thế hệ đã trở thành một kiểu sinh hoạt văn hoá tinh thầnkhông thể thiếu được của cuộc sống Vì thế, dù hiện nay nhân loại đã và đang cónhững biến đổi lớn lao về kinh tế - xã hội nhưng tín ngưỡng, tôn giáo vẫn còntồn tại bởi những lí do đó
2.4 Nguyên nhân chính trị - xã hội
Trong chủ nghĩa xã hội, nhất là giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội đang diễn ra ở nước ta, xét về mọi phương diện kinh tế, đạođức, văn hóa, chính trị, tinh thần vẫn còn mang nặng dấu vết của xã hội cũ Do
đó vẫn còn cơ sở để tín ngưỡng, tôn giáo còn tồn tại
Trang 14Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh giai cấp, đấutranh giữa cái cũ và cái mới, giữa cái lạc hậu với cái tiến bộ trên tất cả các lĩnhvực của đời sống xã hội vẫn đang diễn ra rất gay go, quyết liệt, dưới nhiều hìnhthức vô cùng phức tạp; trong đó, các thế lực phản động vẫn tìm mọi cách nuôidưỡng và lợi dụng tôn giáo để phục vụ cho mưu đồ chính trị của chúng Đây làđiều kiện cho tôn giáo còn tồn tại.
Các tổ chức và chức sắc tôn giáo đang ra sức hoạt động tuyên truyền,tìm cách lôi kéo tín đồ để duy trì sự tồn tại của tôn giáo
Tôn giáo đã tồn tại trong xã hội suốt hàng ngàn năm, và đã ăn sâu bámchặt vào nếp sống, nếp nghĩ của con người Bởi vậy không dễ dàng gì mà ngaytrong thời gian ngắn có thể loại bỏ tôn giáo ra khỏi đời sống xã hội
Ngày nay, chiến tranh hạt nhân hủy diệt có khả năng bị đẩy lùi, nhưngnhững cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố,bạo loạn còn xảy ra ở nhiều nơi, Nỗi lo sợ về chiến tranh, bệnh tật, đói nghèo cùng với những mối đe dọa khác là điều kiện thuận lợi cho tôn giáo tồn tại
Những hạn chế, yếu kém của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủnghĩa trong tổ chức, quản lý quá trình xây dựng xã hội mới; sự suy thoái vềchính trị, tư tưởng, đạo đức của một bộ phận cán bộ đảng viên gắn với tệ quanliêu, tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực, các tệ nạn xã hội nảy sinh nhưngchậm được khắc phục; công bằng xã hội cũng như quyền làm chủ của nhân dân
bị vi phạm làm cho niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, với chế độ bịsuy giảm Chính điều này cũng là cơ sở để nhân dân dễ đến với tín ngưỡng, tôngiáo
2.5 Nguyên nhân văn hóa
Văn hóa dân tộc phát triển, gắn bó mật thiết với bề dày lịch sử của mỗiquốc gia Đa số tín ngưỡng, tôn giáo đều gắn với sinh hoạt văn hoá của nhân