Khi áp dụng chu kỳ đốn hợp lý trên nương chè kinh doanh sẽ góp phần cải tạo bộ khung tán, tăng cường sinh trưởng của bộ lá và búp chè, sản lượng chè trong cả chu kỳ đốn.. CTII: Năm thứ n
Trang 1NGHIÊN CỨU CHU KỲ ĐỐN 3 NĂM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CHÈ KINH DOANH
Đỗ Thị Trâm, Nguyễn Văn Toàn
Summary
The research on Tea pruning with 3 years cycle, increasing
economic efficiency of the Tea production
For tea production, pruning play very important role in whole tea growing process Suitable pruning method can prolong growing duration of tea, with higher biomass (tea bud, leaves and Frame) The experiment on tea pruning with 3 year cycle (medium prune with light prune) from 2006 - 2008 period shows that: apply 3 years cycle give higher bud yield, re - conditioning plan height and canopy, increasing to yield and quality of fresch shoots The economic return of this pruning
technique was increased more than 2 millions VND per hecta as compare with control
Keywords: Tea Hybrid variety LDP2 , Pruning 3 years cycle
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Đốn là biện pháp kỹ thuật quan trọng
đặc thù bắt buộc trong canh tác cây chè
Trong quá trình khai thác nương chè kinh
doanh có hiện tượng tán chè quá cao khó
khăn cho việc thu hoạch búp, tán chè xuất
hiện nhiều cành tăm hương, vết đốn
thường có nhiều u bướu, mép tán hình
thành nhiều búp mù, đối với những nương
chè tuổi lớn còn có hiện tượng khô đầu
cành, rêu và bệnh tóc đen phát triển mạnh
Đối với những nương chè có biểu hiện trên
bắt buộc phải áp dụng các biện pháp đốn
đau, đốn lửng kết hợp với đốn phớt thành
một hệ thống thích hợp cho từng đối tượng
chè kinh doanh Việc kết hợp các kỹ thuật
đốn có thể kéo dài liên tục 2 năm, 3 năm, 4
năm, 5 năm Khoảng thời gian để hoàn
thành việc kết hợp các dạng đốn được xem
như một chu kỳ đốn chè Khi áp dụng chu
kỳ đốn hợp lý trên nương chè kinh doanh
sẽ góp phần cải tạo bộ khung tán, tăng
cường sinh trưởng của bộ lá và búp chè, sản lượng chè trong cả chu kỳ đốn Nghiên cứu chu kỳ đốn thích hợp cho nương chè kinh doanh không những nâng cao được năng suất, chất lượng mà còn tăng cao hiệu quả sản xuất chè Để đạt mục tiêu trên
chúng tôi nghiên cứu đề tài: “ghiên cứu chu kỳ đốn 3 năm nâng cao hiệu quả sản xuất chè kinh doanh”
II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thí nghiệm được tiến hành trong 03 năm 2006 - 2008, tại Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc, Phú Hộ, Phú Thọ, trên đất Ferralit đỏ vàng trên đá phiến thạch mica (theo FAO - UNESCO - WRB: HAPLIC ACRISOLS) Nghiên cứu trên giống chè lai LDP2 tuổi 8 Phân bón sử dụng trong thí nghiệm: Đạm urê (46% N), phân lân super Lâm Thao (16% P2O5), phân kali sulphat (52% K2O)
Trang 2Thí nghiệm gồm 3 công thức 3 lần
nhắc, bố trí theo khối ngẫu nhiên
Công thức I (CT): Đốn phớt 3 năm
theo quy trình (đối chứng): Mỗi năm đốn
cao thêm 3 cm so với vết đốn cũ, hái theo
quy trình
CTII: Năm thứ nhất đốn 45 cm, hái lần
đầu tạo tán bằng cao hơn 20 cm so vết đốn,
các lần sau hái tạo tán bằng theo quy trình
Năm thứ hai: Đốn cao hơn so vết đốn năm
đầu 10 cm, cao cây 55 cm, hái lần đầu tạo
tán bằng cao 10 cm so vết đốn, các lần hái
sau theo quy trình Năm thứ 3 đốn cao hơn
5 cm, cao cây 60 cm, hái lần đầu tạo tán
bằng cao 10 cm, các lần hái sau trong năm
theo quy trình
CTIII: Đốn lần đầu 55 cm, hái lần đầu
cao hơn 15 cm so với vết đốn, các lần hái sau
theo quy trình Năm thứ hai đốn cao hơn 5
cm so với vết đốn lần đầu, hái lần đầu cao 10
cm, các lần sau hái theo quy trình Năm thứ
ba đốn cao 5 cm, hái theo quy trình
Mỗi ô rộng 30 m2, các ô bố trí cắt
ngang 3 hàng chè Khoảng cách trồng 1,50
x 0,40 mét, mật độ 16.700 cây/ha Các chế
độ chăm sóc nương chè theo Quy trình 10
TCN 446-2001 Quan trắc các chỉ tiêu
nghiên cứu sử dụng các phương pháp thông
dụng về chè Số liệu được xử lí bằng phần
mềm IRRISTAT 4.0 trong Windows
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Sinh trưởng của tán chè
1.1 Các chỉ tiêu của tán sau đốn lần đầu
Sau đốn lần đầu, độ cao tán ở các
công thức thí nghiệm I, II, III tương ứng
là 65,0 cm; 45,0 cm và 55,0 cm Độ cao
đốn càng thấp thì sinh khối phần đốn càng
lớn Công thức II đốn 45 cm đạt 17,33
tấn/ha Thấp nhất là công thức đối chứng
6,67 tấn/ha, tiếp đến đốn 55 cm 11,33
tấn/ha Công thức II có độ rộng tán nhỏ
nhất 105,47 cm, công thức III là 116,00 cm, công thức đốn phớt (đ/c) là 118,40 cm (bảng 1)
Bảng 1 Các chỉ tiêu sinh khối cây chè sau
đốn lần đầu
Công thức
1 Chiều cao đốn (cm) 65,00 45,00 55,00
2 Khối lượng phần đốn (tấn/ha) 6,67 17,33 11,33
3 Rộng tán sau đốn (cm) 118,40 105,47 116,00
4 HSDT lá còn lại sau đốn (m2 lá/m2 đất) 0,93 0,49 0,62
HSDT lá sau đốn lần đầu cao nhất ở công thức I đạt 0,93, tiếp đến CTIII là 0,62, thấp nhất CTII là 0,49 Như vậy sau đốn lần đầu Công thức có độ cao đốn thấp khối lượng thân mất lớn nên có các chỉ tiêu về sinh trưởng như độ rộng tán, hệ số lá thấp
hơn công thức đối chứng (đốn phớt)
1.2 Ảnh hưởng của chu kỳ đốn đến sinh trưởng cây chè
Mục tiêu áp dụng chu kỳ đốn là tạo cho bộ khung tán chè rộng, cành cơ bản to khỏe, phân cành đều, tăng bề mặt tán, tăng
số lượng búp, búp to làm cơ sở cho vườn chè năng suất cao, tạo cho cây chè có chiều cao tán hợp lý, tiện lợi cho việc thu hái và chăm sóc Rộng tán là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến khả năng ra búp của cây Độ rộng tán cây cùng với yếu tố mật
độ và trọng lượng búp quyết định năng suất chè Trong hai năm 2006, 2007 độ rộng tán chênh lệch rất rõ: CTII nhỏ nhất
là 121,00 cm và 124,13 cm, do độ cao đốn lần đầu chỉ ở mức 45 cm; tiếp đến là CTIII đốn lần đầu 55 cm đạt 128,00 và 133,73 cm, cao nhất ở CTI đốn phớt là 134,67 cm và 140,26 cm Năm thứ 3 (2008) rộng tán CTIII tăng nhanh hơn so với CTII Sau 3 năm đốn
độ rộng tán các công thức chênh lệch nhau
Trang 3không lớn: CTII vẫn có độ rộng tán thấp
nhất là 137,86 cm, CTIII đã có độ rộng tán
tương đương công thức I đốn phớt là
141,00 cm (bảng 2)
Độ dày tán các công thức biến động
không lớn, năm 2007 các công thức đều có
tầng lá mỏng chỉ đạt từ 30,08 - 32,00 cm,
cuối năm 2006 độ dày tầng lá đạt cao nhất trong 3 năm nghiên cứu Diện tích lá trung bình biến động tương tự như độ dày tán chè Kết thúc thí nghiệm, diện tích lá ở CTIII lớn nhất đạt 23,24 cm2 HSDT lá cả 3 năm CTI (đ/c) cao nhất, thấp nhất là CTII
Bảng 2 Các chỉ tiêu sinh trưởng tán chè trong chu kỳ đốn 3 năm
Chỉ tiêu Công thức Năm
Rộng tán (cm)
Cao tán (cm)
Dầy tán (cm)
Diện tích lá
HSDT lá
đất)
I (đ/c)
2006 134,67 90,00 40,00 21,02 4,010
2007 140,26 94,06 32,00 15,59 5,030
2008 141,60 104,70 36,80 22,95 6,845
II
2006 121,00 80,00 39,56 22,86 3,080
2007 124,13 80,03 30,08 16,24 4,510
2008 137,86 87,80 37,13 22,83 5,952 III
2006 128,00 85,00 40,53 21,26 3,390
2007 133.73 85,73 31,33 15,64 4,630
2008 141,06 95,33 37,40 23,24 6,250
2 Ảnh hưởng của chu kỳ đốn đến búp chè
Bảng 3 Ảnh hưởng chu kỳ đốn đến các chỉ tiêu búp chè
Chỉ tiêu
Mật độ búp
Trọng lượng búp (gam)
Chiều dài búp (cm)
Tỷ lệ búp
mù xòe (%)
I (đ/c)
II
III
Trang 4Qua bảng 3 cho thấy: Mật độ búp trong
2 năm đầu 2006 và 2007 tăng dần theo
chiều cao đốn CTI đốn phớt có số búp/m2
là 107,97 và 125,02 búp, tiếp đến là CTIII,
thấp nhất ở CTII là 94,52 và 122,80 búp
Năm thứ 3 sau đốn thì ngược lại: CTII số
búp/m2 trung bình là 180,40 tiếp đến CTIII
là 174,48 búp, thấp nhất ở CTI là 164,96
búp Trọng lượng búp trung bình năm đầu
chênh lệch rõ CTII (đốn 45 cm) cao nhất
0,94 gam, tiếp đến ở CTIII (đốn 55 cm)
0,92 gam, cao hơn hẳn đối chứng (0,83
gam) Năm thứ 2 ở CTII và III có trọng
lượng búp cao đạt 0,85 gam và cao hơn hẳn
đối chứng là 0,80 gam Đến năm thứ 3 của
chu kỳ đốn, các CT tương đương nhau
Trung bình trong chu kỳ đốn 3 năm, CTII
và III đều cao hơn hẳn đối chứng, đạt các trị
số tương ứng là 0,88 và 0,87 gam/búp Chiều dài trung bình búp 1 tôm 2 lá không
có sự khác nhau nhiều giữa các công thức
Tỷ lệ % búp mù xòe năm đầu của CTII và III thấp nhất đạt 3,49 và 3,53%, đối chứng đạt 7,57% Năm thứ 2 và 3 đều thấp hơn hẳn so đối chứng, năm 2008 CTII có tỷ lệ búp mù xòe là 6,32%, đối chứng là 9,47% Chứng tỏ chu kỳ đốn đã hạn chế đáng kể quá trình hình thành búp mù xòe Kết quả chứng tỏ chu kỳ đốn 3 năm, ở năm thứ nhất mật độ búp chè giảm; trọng lượng búp tăng mạnh; tỷ lệ búp mù xòe giảm hẳn so với đối chứng Đến năm thứ 2 biến động tương tự như năm đầu Năm thứ 3 các chỉ tiêu búp chè vẫn có sự khác biệt rõ rệt, mật độ búp tăng so đối chứng
3 Ảnh hưởng chu kỳ đốn đến năng suất chè
Bảng 4 Ảnh hưởng của chu kỳ đốn đến diễn biến năng suất chè búp tươi
Công thức Năm Năng suất
Tổng Tấn/ha/3 năm 31,031 31,369 32,497
Trung bình
Tấn/ha 10,343 10,456 10,832
Trang 52,000
4,000
6,000
8,000
10,000
12,000
14,000
Công thức
2006
2007 2008
Hình 1 Diễn biến năng suất chè của chu kỳ đốn 3 năm Kết quả bảng 4 cho thấy năng suất chè
công thức đối chứng tăng dần trong 3 năm
thí nghiệm do nương chè thí nghiệm ở tuổi
8 vào thời kỳ đầu kinh doanh CTII năm thứ
nhất, năm thứ 2 của chu kỳ năng suất chè
giảm so đối chứng, đến năm thứ 3 năng suất
chè tăng 14,06% Trung bình cả chu kỳ
đốn, năng suất chè ở CTII tương đương đối chứng CTIII năm thứ nhất, năm thứ 2 của chu kỳ năng suất chè giảm so đối chứng song giảm ít hơn CTII, năm thứ 3 năng suất chè tăng 15,0% so đối chứng Trung bình cả chu kỳ đốn năng suất chè tăng so đối chứng
4,703% và cao hơn CTII
4 Hiệu quả kinh tế khi áp dụng chu kỳ đốn 3 năm
Bảng 5 So sánh hiệu quả kinh tế các chu kỳ đốn
Công thức
Chi
+ Công vượt đốn lần đầu (công/ha) 10,00 5,00
+ Thành tiền (đồng) - 500.000,00 250.000,00
+ Công hái chè sản lượng tăng (công) 11,30 49,00
+ Thành tiền (đồng) 452.000,00 1.960.000,00
Thu
+ Sản lượng chè
Thành tiền (đồng) (đơn giá 3000đ/kg búp) - 1.014.000,00 4.398.000,00
Cân đối đồng/ha/3 năm + 62.000,00 + 2.188.000,00
Công thức
Trang 6Chúng tôi sử dụng các định mức: Công
đốn 50.000 đồng/công; hái 40.000 đ/công;
trên cơ sở cố định các yếu tố chăm sóc, thu
hái theo quy trình là đồng đều trong các
công thức thí nghiệm Thí nghiệm chỉ tính
các yếu tố chi vượt so với đối chứng: Công
đốn lần đầu do áp dụng đốn lửng chi phí
công cao hơn so đốn phớt, các lần đốn tiếp
theo không có sự sai khác về công đốn giữa
các công thức Chi phí công lao động để thu
hoạch phần sản lượng chè tăng Phần thu
vượt do tăng NS chè bình quân trong 3 năm
với đơn giá trung bình năm 2006 - 2008 là
3000 đồng/kg búp tươi Kết quả trong chu
kỳ đốn 3 năm CTIII đã tăng giá trị thu nhập
là 2.188.000 đồng/ha so với đối chứng đốn
phớt hàng năm
IV KẾT LUẬN
1 Sau lần đốn đầu tiên, sinh khối phần
đốn tỷ lệ nghịch với độ cao đốn; độ rộng
tán và hệ số diện tích lá còn lại sau đốn
càng nhỏ khi đốn lần đầu càng thấp Trong
chu kỳ đốn ở 2 công thức thí nghiệm có độ
rộng tán, cao tán, dày tán và hệ số diện tích
lá tăng dần từ năm thứ nhất đến năm thứ 3
2 CTII chu kỳ đốn 3 năm: Năm thứ
nhất đốn ở độ cao 45 cm, hái chè lần đầu
tạo tán bằng cao 20 cm cao hơn so vết đốn,
các lần hái sau theo mặt bằng đã tạo tán
theo quy trình Năm thứ hai đốn cao hơn so
vết đốn năm thứ nhất 10 cm, hái lần đầu tạo
tán bằng ở độ cao 10 cm so với vết đốn, các
lần hái sau theo quy trình Năm thứ 3 đốn
cao hơn vết đốn năm thứ hai 5 cm, hái lần
đầu tạo tán bằng ở độ cao 10 cm so với vết
đốn, các lần hái sau trong năm theo quy
trình Năm thứ nhất và năm thứ 2 của chu
kỳ đốn, năng suất chè giảm, năm 2006 năng
suất bằng 88,33%, năm 2007 bằng 94,44%
so đ/c Kết quả NS chè tăng cao nhất ở năm thứ 3 đạt 14,77 tấn/ha, tăng 15,31% so đối chứng Trung bình cả chu kỳ đốn năng suất chỉ tương đương đối chứng Khung tán cây nhanh phục hồi, hạn chế sự hình thành búp
mù, xòe, chỉ 6,73%, búp chè to mập, 2 năm đầu mật độ búp thưa
3 CTIII chu kỳ đốn 3 năm: Đốn lần
đầu ở độ cao 55 cm, hái lần đầu ở độ cao 15
cm, các lần hái sau theo quy trình Đốn năm thứ hai cao hơn 5 cm năm thứ nhất, hái lần đầu cao 10 cm, các lần sau hái theo quy trình Năm thứ ba đốn cao hơn 5 cm, hái theo quy trình đã cho năng suất cao nhất ở năm thứ 3, Năm 2008 năng suất đạt 14.89 tấn/ha tăng 15% so đ/c Năm thứ nhất và năm thứ 2 của chu kỳ đốn, năng suất giảm không nhiều, năm 2006 năng suất bằng 96,75%, năm 2007 bằng 97,83% so đ/c, hạn chế được tỷ lệ búp mù, xòe trung bình là 7,69% Năng suất trung bình cả chu kỳ đốn cao hơn 4,703%, tăng giá trị thu nhập là 2.188.000 đồng/ha so với đối chứng TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Djemukhatze K M., 1982 Cây chè
miền Bắc Việt Nam NXB Nông nghiệp, Hà Nội (Tài liệu dịch)
2 guyễn gọc Kính, 1980 Giáo trình
cây chè NXB Nông nghiệp, Hà Nội
3 Đỗ Văn gọc, 1994 Ảnh hưởng của
một số dạng đốn đến sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng cây chè Trung Du tuổi lớn ở Phú Hộ, Kết quả Nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ về cây chè 1989 - 1993, Viện
Trang 7Nghiên cứu Chè NXB Nông nghiệp,
Hà Nội
4 Đỗ gọc Quỹ, 1980 Trồng chè NXB
Nông nghiệp, Hà Nội
5 Đỗ gọc Quỹ, 1997 Cây chè Việt Nam
8XB Nông nghiệp, Hà Nội
6 guyễn Văn Tạo, 1998 Các phương
pháp quan trắc thí nghiệm đồng ruộng chè (Phần Nông học), Tuyển tập các công trình nghiên cứu về chè (1988 - 1997) NXB Nông nghiệp, Hà Nội
7 B C Barbora, 1996 The Planters
Handbook, Published and printed by Tocklai Experimental Stqation, Tea Research Association, Tocklai
8 Barua D ., 1989 Science and Practice
in Tea Culture, Calcutta - Jorhat, India, First Published
9 Goodchild A., 2002 Growth of Tea
Shoots following Pruning, Tea Research Institute of East Africa Kericho, Kenya
8gười phản biện: 8guyễn Văn Viết
Trang 8T¹p chÝ khoa häc vµ c«ng nghÖ n«ng nghiÖp ViÖt Nam
8