Cùng với quá trình đổi mới xã hội, phát triển kinh tế luôn là vấn đề được quan tâm chú ý. Việc tham gia vào WTO hay mới đây là các hiệp nghị quốc tế đã tạo điều kiện để kinh tế nước ta phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo như đúng đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta. Điều đó tạo ra nhiều cơ hội cho các thị trường kinh doanh và các ngành kinh tế trong xã hội. Và khi kinh tế phát triển, một trong các thị trường cũng bắt buộc phát triển triển để tạo tiền đề cho kinh tế, đó là thị trường lao động. Bởi lẽ không có lao động sẽ không có sãn xuất, không có hàng hóa, không có kinh doanh, càng không thể phát triển. Song, thị trường lao động của Việt Nam những năm gần đây luôn gặp phải tình trạng khó khăn như tỉ lệ thất nghiệp cao; quan hệ cung cầu lao động không cân bằng; tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”, chất lượng lao động thấp, ... Những điều này đã gây nên nhiều áp lực lớn đến việc giải quyết những vấn đề liên quan đến thị trường lao động. Vì vậy, việc làm rõ được thức trạng, tìm ra được những vấn đề còn tồn tại trong thị trường lao động Việt Nam để tìm và đưa ra những giải pháp giải quyết tình trạng đó là một việc làm rất cần thiết Nhận thấy sự cấp thiết của vấn đề này, này cùng với mong muốn học hỏi, tìm hiểu, nhóm 6 bọn em cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô, thầy giáo phụ trách bộ môn bọn em xin phép được phân tích đề tài được giao, đề tài: Nguồn nhân lực xã hội ở Việt Nam có biểu hiện cung vượt cầu về số lượng, cung thấp hơn cầu về chất lượng, cung lệch cầu về cơ cấu. Nguyên nhân của tình trạng này do đâu? Hãy nêu chính sách và biện pháp. Và dưới đây là bài thảo luận của nhóm
Một số vấn đề lý luận liên quan về nguồn nhân lực xã hội
Một số khái niệm
*Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là tổng thể tiềm năng lao động của một quốc gia được chuẩn bị ở một mức độ nhất định và có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Tiềm năng này gồm sự tổng hòa của thể lực, trí lực và phẩm chất nghề nghiệp, đáp ứng cơ cấu lao động mà nền kinh tế đòi hỏi Thể lực phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, đời sống, thu nhập, chế độ dinh dưỡng và lịch làm việc nghỉ ngơi Trí lực là nguồn lực to lớn của con người, thể hiện qua tài năng, năng khiếu, quan điểm, lòng tin và nhân cách Phẩm chất nghề nghiệp là các đặc điểm tâm lý cá nhân phù hợp với yêu cầu nghề nghiệp, giúp đạt được hiệu quả cao trong công việc.
*Khái niệm Nguồn nhân lực xã hội
Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực quốc gia được hiểu là toàn bộ những người có khả năng lao động, ở cả hai nhóm người trong và ngoài độ tuổi lao động, nên quan niệm này không loại trừ người đã nghỉ hưu Tại Việt Nam, quy định của Tổng cục Thống kê cho thấy nguồn nhân lực xã hội còn bao gồm cả những người ngoài tuổi lao động đang tham gia lao động trong nền kinh tế quốc dân.
Trong nghĩa hẹp, nguồn nhân lực xã hội được định nghĩa là tập hợp những người ở độ tuổi lao động có khả năng lao động và có nhu cầu lao động Do đó, nguồn nhân lực xã hội không bao gồm những người có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu làm việc.
Một số quan điểm khác nhau được đề cập ở trên dẫn đến vài khác biệt trong cách tính quy mô nguồn nhân lực Tuy nhiên, những chênh lệch này không đáng kể vì phần lớn nguồn nhân lực đến từ số người trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc, chiếm đa số và định hình quy mô tổng thể của nguồn lực lao động.
Tóm lại, nguồn nhân lực xã hội là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động.
Vai trò và cơ sở hình thành nguồn nhân lực xã hội
Ở góc độ kinh tế, tiêu dùng của con người là nguồn động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Trước nguồn lực có hạn, con người ngày càng mong muốn thỏa mãn nhu cầu vật chất và nâng cao chất lượng cuộc sống, khiến tiêu dùng và khả năng đáp ứng ngày càng tốt lên trở thành động lực chính cho tăng trưởng và tiến bộ xã hội Trong nền kinh tế thị trường, quy mô và cơ cấu tiêu dùng quyết định quy mô và cơ cấu của sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
Trong vai trò người sản xuất, con người là yếu tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Khả năng thể lực và trí tuệ của mỗi người là yếu tố cơ bản nhất, quyết định sự tiến bộ của sản xuất và xã hội Nhờ sự tiến bộ của khoa học công nghệ và sản xuất tiên tiến, vị trí của lao động chân tay và lao động trí tuệ sẽ có sự thay đổi, và lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò quyết định trong quá trình phát triển.
- Cơ sở hình thành nguồn nhân lực
Dân số đóng vai trò là nền tảng tự nhiên hình thành nguồn nhân lực xã hội, thể hiện ở quy mô (số lượng) và chất lượng của lực lượng người dân trong một cộng đồng cư trú trên một vùng lãnh thổ—từ hành tinh, châu lục, khu vực cho tới quốc gia—tại một thời điểm nhất định.
Dân số luôn biến động theo thời gian và không gian; những biến động này ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của từng cá nhân, gia đình và toàn xã hội Để đánh giá và dự báo tình hình dân số, người ta dựa trên hai chỉ tiêu cơ bản là quy mô dân số và cơ cấu dân số, qua đó hiểu rõ sự phân bổ về tuổi, giới và các yếu tố khác Hiểu rõ quy mô và cơ cấu dân số giúp hoạch định chính sách, quản lý nguồn lực và phát triển kinh tế - xã hội một cách hiệu quả.
- Quy mô dân số và quy mô nguồn nhân lực: Quy mô dân số lớn thì quy mô nguồn nhân lực cũng lớn và ngược lại Quy mô nguồn nhân lực cũng tác động trở lại với quy mô dân số Tốc độ tăng dân số cũng ảnh hưởng đến tốc độ tăng và quy mô nguồn nhân lực.
- Cơ cấu dân số và cơ cấu nguồn nhân lực: Cơ cấu dân số (theo giới tính, theo độ tuổi, theo nghề nghiệp, trình độ) quyết định cơ cấu nguồn nhân lực Cơ cấu dân số trẻ thì cơ cấu nguồn nhân lực cũng trẻ và ngược lại, cơ cấu dân số có tỷ lệ nữ lớn hơn thì cơ cấu nhân lực cũng có tỷ lệ nữ lớn.
- Chất lượng dân số: Chất lượng dân sô có thể thông qua các chỉ tiêu tổng hợp: chỉ số phát triển con người HDI theo ba căn cứ: thu thập bình quân quốc dân đầu người, trình độ dân trí, tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học.
- Chất lượng nguồn nhân lực: Gồm những tiêu chí sau:
+ Sức khoẻ thể lực và trí lực
+ Trình độ học vấn: Trình độ văn hoá của nguồn nhân lực được threer hiện thông qua các quan hệ tỷ lệ:
Số lượng và tỷ lệ biết chữ
Bài viết phân tích số lượng tham gia và tỷ lệ vượt qua các cấp học từ tiểu học tới trung học cơ sở, phổ thông trung học, cao đẳng, đại học và trên đại học, đồng thời làm rõ trình độ chuyên môn kỹ thuật thông qua các chỉ tiêu phản ánh trình độ kỹ thuật Các chỉ tiêu này cho thấy quy mô tham gia giáo dục ở từng cấp và mức độ đạt được kiến thức kỹ thuật, từ kiến thức cơ bản đến trình độ chuyên môn cao Việc đánh giá trình độ kỹ thuật bằng các chỉ tiêu liên quan giúp nhận diện khả năng đáp ứng nhu cầu lao động, sự tiến bộ của hệ thống giáo dục và tiềm năng phát triển nguồn nhân lực.
Số lượng lao động được đào tạo và chưa được đào tạo
Cơ cấu lao động được đào tạo
Phân bố dân số quyết định cách phân bổ nguồn nhân lực và ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng Ở những khu vực mật độ dân số thưa, nguồn nhân lực còn dồi dào và có tiềm năng thúc đẩy các hoạt động kinh tế - xã hội; trong khi đó, tại các vùng đông dân, nguồn nhân lực dồi dào nhưng tài nguyên thiên nhiên đã cạn kiệt, dẫn đến tình trạng dư thừa lao động và khó khăn khai thác nguồn lực Vì vậy, việc điều phối và phân bổ nguồn lực cần dựa trên sự cân bằng giữa mật độ dân số, khả năng khai thác tài nguyên và mục tiêu tăng trưởng bền vững.
I.3 Các yếu tố cấu thành và chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực xã hội
I.3.1 Các yếu tố cấu thành.
Nguồn nhân lực là nguồn lực cốt lõi và trung tâm của mọi tổ chức, đóng vai trò thiết yếu để duy trì và thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Khác với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực được nhận diện qua các yếu tố cơ bản phân biệt, giúp đánh giá và tối ưu hóa đóng góp của con người cho hệ thống tổ chức Vì vậy, quản trị nguồn nhân lực tập trung vào phát triển và tận dụng tối đa nguồn lực này để tăng hiệu suất và sự bền vững của tổ chức.
Số lượng nguồn nhân lực trong tổ chức là tổng số người được tuyển dụng, trả công và ghi danh vào danh sách nhân sự của tổ chức đó Đây là nguồn lực được huy động thực tế để thực hiện các mục tiêu của tổ chức, nhằm duy trì và phát triển hoạt động Quản trị nguồn nhân lực hiệu quả dựa trên đánh giá quy mô, cơ cấu và khả năng đáp ứng của lực lượng lao động, từ đó đảm bảo tổ chức có đủ nhân sự cho mọi hoạt động và chiến lược.
Chất lượng nguồn nhân lực là một trạng thái nhất định tồn tại bên trong nguồn nhân lực, thể hiện các yếu tố cấu thành nên bản chất của nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu nhất định.
– Khả năng về sức khỏe của nguồn nhân lực: là trạng thái về thể chất cũng như tinh thần của con người.
Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực là thước đo kiến thức phổ thông về xã hội và tự nhiên, thể hiện qua các chỉ số như tỷ lệ biết chữ và số người tham gia các lớp học Trình độ văn hóa này quyết định khả năng tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo trình độ khoa học kỹ thuật vào các hoạt động của tổ chức, từ đó tăng cường năng lực thích ứng, đổi mới và hiệu quả công việc.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực là sự hiểu biết và khả năng thực hiện một chuyên môn, nghề nghiệp nào đó trong tổ chức, được thể hiện ở cơ cấu lao động được đào tạo, cơ cấu cấp bậc đào tạo (sơ cấp, trung cấp, cao cấp), cơ cấu lao động kỹ thuật và đội ngũ các nhà chuyên môn, cùng với cơ cấu trình độ đào tạo Đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức và khả năng áp dụng trình độ khoa học kỹ thuật vào hoạt động của tổ chức.
Cơ cấu tuổi của nguồn nhân lực là tổng thể số lượng lao động ở các độ tuổi khác nhau trong tổ chức Cấu trúc này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả làm việc và kết quả đạt được, từ đó tác động đến mục tiêu cuối cùng của tổ chức Tùy từng công việc và mục tiêu tổng thể, tổ chức cần tuyển dụng và sắp xếp nhân sự ở độ tuổi phù hợp nhằm đáp ứng đòi hỏi của công việc Quản lý tốt cơ cấu tuổi giúp tối ưu hoá nguồn lực, cân bằng giữa kinh nghiệm và sức trẻ, và nâng cao khả năng thích nghi trước biến động của thị trường lao động.
Đặc điểm của nguồn nhân lực xã hội
a) Quy mô nguồn nhân lực xã hội
Quy mô dân số lớn có thể đi đôi với quy mô nguồn lực lớn, và ngược lại quy mô dân số nhỏ có thể đi đôi với quy mô nguồn lực nhỏ; tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của dân số và của nguồn lực xã hội có thể không đồng bộ trong cùng một thời kỳ Cơ cấu nguồn lực xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ và khai thác nguồn lực để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội.
Cơ số dân số quyết định cơ cấu nguồn nhân lực; dân số trẻ đi kèm với nguồn lực trẻ và ngược lại, dân số già đi kèm với nguồn lực già Vì vậy, biến động về cơ cấu dân số tác động trực tiếp đến thị trường lao động, nhu cầu đào tạo và kế hoạch tuyển dụng của các doanh nghiệp và nền kinh tế.
Cơ cấu nguồn nhân lực có thể phân ra nhiều loại, nổi bật là cơ cấu theo độ tuổi, cơ cấu theo giới tính, cơ cấu theo ngành nghề và cơ cấu theo vùng miền Việc phân tích và quản lý các cơ cấu này giúp doanh nghiệp nắm bắt xu hướng tuyển dụng, phân bổ nhân lực hiệu quả và xây dựng kế hoạch đào tạo, phát triển nhân sự phù hợp với chiến lược tổ chức và thị trường lao động từng vùng, ngành nghề.
Cơ cấu nguồn nhân lực theo độ tuổi là sự phân bổ lực lượng lao động ở các độ tuổi khác nhau Cơ cấu này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công việc và kết quả hoạt động của tổ chức, đồng thời tác động đến mục tiêu cuối cùng của tổ chức Do đó, tùy từng công việc và mục tiêu của tổ chức mà cần có chiến lược tuyển dụng và sắp xếp nhân sự sao cho độ tuổi phù hợp đáp ứng đúng yêu cầu công việc và tối ưu hóa hiệu suất làm việc.
Cơ cấu nguồn nhân lực giới tính và dân tộc:
Hiện nay, nữ giới ngày càng đảm nhận vai trò quan trọng và giữ các vị trí nhất định trong các tổ chức Vai trò của phụ nữ trong công việc được khẳng định ngày càng rõ và tỷ lệ nhân lực nữ trong các tổ chức cũng tăng lên Bên cạnh đó, chính sách ưu tiên tuyển dụng lao động là con em của các dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước trong các tổ chức đặc thù, đặc biệt là các cơ quan nhà nước, nhằm nâng cao trình độ văn hóa, tăng khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật, cải thiện chất lượng cuộc sống và năng lực làm việc của họ trong tổ chức.
Cơ cấu nguồn nhân lực theo ngành nghề
Cơ cấu nguồn nhân lực của nền kinh tế được phân chia thành ba khu vực chính: Khu vực I là Nông – lâm – ngư nghiệp; Khu vực II là Công nghiệp – xây dựng; Khu vực III là Dịch vụ Hiện nay, khu vực II và khu vực III chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn nhân lực và đóng vai trò chủ đạo cho tăng trưởng kinh tế.
Cơ cấu nguồn nhân lực theo vùng miền
Cơ cấu nguồn nhân lực phân theo hai khu vực thành thị và nông thôn cho thấy sự chênh lệch lớn: khu vực thành thị đang tăng lên trong khi khu vực nông thôn giảm sút do quá trình đô thị hóa Sự dịch chuyển này ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực xã hội, đặt ra yêu cầu nâng cao trình độ đào tạo, cải thiện hạ tầng và điều kiện sống ở nông thôn, đồng thời củng cố nguồn lực tại khu vực thành thị để bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững.
Chất lượng dân số quyết định chất lượng nguồn nhân lực xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tham gia và đóng góp cho sự phát triển của quốc gia Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong nguồn nhân lực xã hội Những yếu tố chủ yếu gồm thể lực, trí lực và phẩm chất tâm lý-xã hội, phản ánh sự cân bằng giữa sức khỏe thể chất, năng lực nhận thức và đặc điểm tâm lý-xã hội của mỗi cá nhân.
Là sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần của con người Sức khỏe cơ thể là sự cường tráng, là năng lực lao động chân tay; sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của sự hoạt động thần kinh, là khả năng vận động trí tuệ, biến tư duy thành hoạt động thực tiễn Trong mối quan hệ với phát triển kinh tế, việc đảm bảo các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe làm tăng chất lượng nguồn nhân lực cả trong hiện tại lẫn tương lai Người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại năng suất lao động cao nhờ sự bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung trong khi làm việc Việc chăm sóc tốt sức khỏe dân số làm tăng nguồn nhân lực trong tương lai bằng việc kéo dài tuổi lao động Nhà nước sử dụng các chính sách dân số, chính sách y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chính sách thể dục thể thao để có sức khỏe, đảm bảo thể lực cho người dân, người lao động
Trí lực là một yếu tố không thể thiếu của nguồn nhân lực Để đảm bảo trí lực,
Nhà nước sử dụng các chính sách giáo dục, đào tạo; tạo điều kiện cho các tầng lớp dân cư, người lao động được học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghề nghiệp; đồng thời với sự phát triển của khoa học công nghệ, đòi hỏi người lao động phải có trình độ học vấn cơ bản, không ngừng học tập và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động tốt để có khả năng tiếp thu và áp dụng công nghệ mới: làm việc chủ động, linh hoạt và sáng tạo, sử dụng được các công cụ, phương tiện lao động hiện đại, tiên tiến Trí lực của nguồn nhân lực thường được xem xét đánh giá trên hai giác độ: trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động.
-Trình độ văn hóa: Được đánh giá qua trình độ lao động phổ thông, trong đó bao gồm:
Rbc : Tỷ lệ biết chữ của dân số từ 10 tuổi trở lên (%), tính theo công thức sáu:
Số người biết chữ từ 10 tuổi trở lên trong năm xác định
Tổng số dân 10 tuổi trở lên trong cùng năm
Số năm đi học trung bình của dân số (tính từ 25 tuổi trở lên); Tỷ lệ lao động đạt trình độ học vấn phổ thông theo cấp học.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật:
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo (RLđt)
Trong đó: Lđt: số lao động qua đào tạo.
∑L: tổng lao động (gồm lao động qua đào tạo và chưa qua đào tạo)
- Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo theo các cấp trình độ (RLđti)
Trong đó: L i đt là số lao động đã qua đào tạo ở các bậc trình độ
- Tỷ lệ lao động biết ngoại ngữ và trình độ đạt được
- Tỷ lệ lao động biết tin học và trình độ đạt được
Chỉ số đánh giá tổng hợp HDI:
Chỉ số HDI được tính dựa trên chỉ ba tiêu:
- GNP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương (Iw)
- Trình độ học vấn (tỷ lệ biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp hay số năm đi học trung bình); (Ie)
- Tuổi thọ bình quân (Ia)
Iw: Chỉ số về thu nhập đầu người;
Ie: Chỉ số về giáo dục
Ia: Chỉ số về tuổi thọ trung bình
Phẩm chất tâm lý- xã hội: Ngoài yếu tố thể lực và trí lực, quá trình lao động đòi hỏi người lao động phải được học tập, bồi dưỡng và rèn luyện hàng loạt phẩm chất như tính kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao, …
Các chính sách nhằm cân bằng
Nguồn nhân lực được hiểu là tổng số người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia vào lực lượng lao động Để tăng nguồn nhân lực, cần tăng quy mô dân số vì lực lượng lao động chiếm một tỷ lệ nhất định trong dân số Mục tiêu là tăng tỷ lệ lực lượng lao động trong dân số thông qua các chính sách sinh đẻ hợp lý, nhằm duy trì tháp dân số ở mức cân bằng và bền vững.
Nội dung cơ bản của chính sách quản lý chất lượng giáo dục đào tạo bao gồm:
Chúng ta thường xuyên hoàn thiện và đổi mới hệ thống chính sách, mục tiêu và chương trình giáo dục và đào tạo, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở từng giai đoạn và thích ứng với những biến đổi trong nước và trên thế giới.
Quản lý chặt chẽ các điều kiện hoạt động và phát triển của các trường lớp giáo dục và đào tạo là nền tảng đảm bảo chất lượng Không thể đảm bảo chất lượng nếu không đáp ứng các điều kiện tiêu chuẩn do Nhà nước quy định Do đó, cần quản lý chặt chẽ đầu vào và các quy trình giáo dục và đào tạo của các trường, lớp; đồng thời tổ chức đánh giá chất lượng thông qua các tổ chức thẩm định chất lượng ở các cấp Công tác thanh tra giáo dục ở tất cả các cấp và tại các cơ sở giáo dục và đào tạo cũng phải được tổ chức tốt để duy trì và nâng cao chất lượng.
I.5.3 Chính sách di dân, di chuyển lực lượng lao động
Thực hiện các chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội có hiệu quả cao ở những vùng dân cư và lao động có ý định di dân, đồng thời xây dựng các chính sách kinh tế - xã hội ưu đãi nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào các khu vực kém phát triển, với mục tiêu tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện các dịch vụ xã hội, cùng cơ hội thăng tiến thuận lợi cho người dân Các biện pháp này đồng thời hạn chế xuất cư ngược dưới dạng di dân tự do và thực hiện hiệu quả các chương trình động viên cho đồng bào dân tộc thiểu số tham gia vào công nghiệp hóa và hiện đại hóa vùng miền Chính sách tiền lương và thu nhập được thiết kế để hấp dẫn lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật đến vùng sâu, vùng xa và vùng kém phát triển Duy trì và tăng cường dân cư, lực lượng lao động ở vùng thu hút chủ yếu phải dựa trên các biện pháp kinh tế - xã hội, công tác tuyên truyền giáo dục và thuyết phục chứ không phải bằng biện pháp hành chính.
I.5.4 Chính sách tạo việc làm
Tạo việc làm là hoạt động nhằm cung cấp các yếu tố và điều kiện để người lao động có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế, tạo thu nhập và thực hiện các công việc được pháp luật cho phép; đồng thời nó thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động bằng cách đảm bảo quyền lợi, an toàn và môi trường làm việc thuận lợi cho người lao động.
Việc làm có thể được tạo ra từ nhiều nguồn khác nhau: nhà nước, các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân và bản thân người lao động tự tạo việc làm cho mình Vai trò của nhà nước là xây dựng chính sách, hỗ trợ đào tạo nghề và đầu tư hạ tầng để khơi dậy cơ hội việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp đóng vai trò trực tiếp bằng cách mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ và mở rộng hoạt động kinh doanh, từ đó tạo ra nhiều vị trí việc làm Cá nhân và người lao động có thể tự lực tìm kiếm và sáng tạo công việc thông qua khởi nghiệp, cung cấp dịch vụ hoặc tham gia các chương trình đào tạo nghề để nâng cao năng lực Khi các nguồn lực này được kết hợp hiệu quả, cơ hội có việc làm cho người lao động sẽ được tăng lên và nền kinh tế sẽ phát triển bền vững.
- Chính sách tạo việc làm là tổng thể các công cụ và biện pháp nhằm tạo việc làm cho người lao động.
Có rất nhiều chính sách giúp tạo việc làm cho người lao động:
+ Chính sách đầu tư : chính sách này giúp thu hút đầu tư ở trong và ngoài nước hình thành nên các doanh nghiệp ,các khu kinh tế,khu công nghiệp,phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế từ đó tạo việc làm cho người lao động
Chính sách hỗ trợ tài chính dành cho các tổ chức, cá nhân khởi nghiệp và thành lập các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp nhằm thu hút lao động và thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp; đồng thời, chính sách đào tạo được thiết kế để nâng cao kỹ năng và kiến thức cho người lao động, đáp ứng nhu cầu sử dụng xã hội và tạo điều kiện thuận lợi cho họ tìm kiếm việc làm tốt, có thu nhập cao và tham gia hoạt động khởi nghiệp.
+ Chính sách hỗ trợ sử dụng, chuyển giao công nghệ.
+Các chương trình,dự án của nhà nước thu hút người lao động vào làm việc.
+ Các chương chình di dân xây dựng vùng kinh tế mới.
+Chính sách hỗ trợ khởi nghiệp,phát triển kinh tế tư nhân,kinh tế hộ gia đình…
+ Các chương trình xuất khẩu lao động
I.5.5 Chính sách xuất khẩu lao động
Thực hiện hiệu quả chính sách xuất khẩu lao động sẽ giảm tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây ra và tạo động lực tích cực cho người lao động Người lao động được học hỏi phong cách lao động mới, kỹ năng và kỷ luật làm việc do các tổ chức lao động ở nước ngoài truyền đạt, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung Hoạt động xuất khẩu lao động không chỉ nâng cao trình độ nghề mà còn mở rộng quan hệ đối ngoại và tăng cường hợp tác quốc tế, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
I.5.6 Chính sách về việc làm
- Chính sách phát triển kinh tế-xã hội nhằm tạo việc làm
Nhà nước ban hành chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo việc làm cho người lao động, xác định mục tiêu giải quyết việc làm trong chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bố trí nguồn lực để triển khai thực hiện các chính sách về việc làm. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.
- Khuyên khích phát triển thị trường lao động
Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia tạo việc làm và tự tạo việc làm có thu nhập từ mức lương tối thiểu trở lên, nhằm đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội và thị trường lao động.
Nhà nước có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, phát triển thị trường lao động và bảo hiểm thất nghiệp
- Chính sách cấp chứng chỉ kỹ năng nghề
Pháp luật quy định Nhà nước có chính sách đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia gắn với việc nâng cao trình độ kỹ năng nghề
I.5.7 Chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động
Chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động là tập hợp các quyết định của nhà nước nhằm xác định mục tiêu, lựa chọn giải pháp và công cụ thực hiện để đào tạo và giải quyết việc làm cho người lao động, nhằm đáp ứng nhu cầu sống cơ bản và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
+ Chính sách đãi ngộ, thu hút giáo viên đào tạo giáo dục nghề nghiệp: Tiền lương, tiền thưởng; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên.
+ Chính sách đối với cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp: Tập trung xây dựng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp, hoàn thiện tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ giáo dục nghề nghiệp đến cấp quận, huyện.
Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam
Thực trạng cung cầu lao động Việt Nam
1 Cung vượt cầu về số lượng
-Tình trạng thất nghiệp của lao động Việt Nam còn cao: Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn, tháp dân số tương đối trẻ và bắt đầu bước vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” với nguồn nhân lực dồi dào nhất từ trước đến nay Tính đến hết năm 2017, dân số nước ta đạt 96,02 triệu người, trong đó nữ chiếm khoảng48,94% Gia tăng dân số trong những năm qua kéo theo gia tăng về lực lượng lao động Nhìn chung, mỗi năm Việt Nam có khoảng gần 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động, đây là một lợi thế cạnh tranh quan trọng của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Xét cơ cấu lực lượng lao động theo giới tính, nam giới chiếm trên 50% tổng số lao động, nhưng sự chênh lệch này không quá lớn và cho thấy lao động nữ vẫn chiếm phần lớn nguồn lực lao động Tỷ lệ thất nghiệp ở nữ giới cao hơn nam giới do các yếu tố như hạn chế về sức khỏe, mâu thuẫn giữa sinh đẻ và làm việc, và khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp sau sinh.
Với dân số khoảng 94 triệu người vào năm 2018; trong đó lực lượng lao động từ
Với 54,61 triệu người từ 15 tuổi trở lên, chiếm khoảng 59,5% dân số, Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng với nguồn lao động dồi dào và ổn định; tuy vậy, chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế, khi tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo còn thấp và thiếu hụt lao động có tay nghề cao vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động và hội nhập kinh tế.
Vì vậy, một lượng lớn lao động vẫn thất nghiệp đang gây gánh nặng cho nền kinh tế, cho thấy nguồn cung lao động có dấu hiệu dư thừa nhưng ở một số ngành vẫn đang thiếu hụt Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp ở mức độ nhất định cũng kích thích sự cạnh tranh trên thị trường lao động, buộc doanh nghiệp cải thiện tuyển dụng, đào tạo và đãi ngộ để thu hút và giữ chân người lao động có kỹ năng.
Quý I năm 2018, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trên toàn quốc ước đạt 55,1 triệu người, giảm 70,7 nghìn người so với quý trước, trong đó phần giảm chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn, nhưng lại tăng 586,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Xu hướng giảm của quý I được cho là phổ biến do kỳ nghỉ Tết cổ truyền và các lễ hội khiến người dân kéo dài thời gian nghỉ làm và làm giảm nhu cầu tìm kiếm việc làm trong cộng đồng.
Quý I năm 2018 ghi nhận lực lượng lao động ở độ tuổi làm việc đạt 48,4 triệu người, giảm 122,0 nghìn người so với quý trước nhưng tăng 497,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Lực lượng lao động ở khu vực thành thị là 16,1 triệu người, chiếm 33,3% tổng lực lượng lao động ở độ tuổi của cả nước Lực lượng lao động nữ trong độ tuổi là 22,1 triệu người, chiếm 45,8% tổng số lao động trong độ tuổi trên toàn quốc.
Trong quý I năm 2018, ước tính có 54,0 triệu người lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm, giảm 66,1 nghìn người so với quý trước nhưng tăng 622,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm ở khu vực thành thị chiếm 31,9% tổng số người có việc làm, trong khi lao động nữ từ 15 tuổi trở lên có việc làm chiếm 48,1% tổng số người có việc làm Trong khu vực Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản có ước tính 20,9 triệu người có việc làm, chiếm 38,6% tổng số người có việc làm, giảm 1,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Theo số liệu mới nhất, ngành Công nghiệp và xây dựng có 14,4 triệu người lao động, chiếm 26,7% lực lượng lao động, tăng 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Khu vực Dịch vụ có 18,7 triệu người, chiếm 34,7% lực lượng lao động, tăng 0,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
-Số người thất nghiệp trong quý I năm 2018 là 1,1 triệu người, giảm 4,6 nghìn người so với quý trước, giảm 35,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn quốc quý I năm 2018 ước là 2,01%, giảm 0,01 điểm phần trăm so với quý trước, giảm 0,09 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Số thanh niên (người từ 15 đến 24 tuổi) thất nghiệp trong quý I năm
2018 ước khoảng 547 nghìn người, chiếm 49,4% tổng số người thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong quý I năm 2018 ước là 7,25%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Quý I năm 2018 ghi nhận tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước đạt 1,48%, giảm 0,1 điểm phần trăm so với quý trước (giảm chủ yếu ở khu vực thành thị) và giảm 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ này ở khu vực thành thị ước khoảng 0,55%, còn ở khu vực nông thôn khoảng 1,94%.
Trong quý I năm 2018, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức phi nông nghiệp ước đạt 56,8%, giảm 0,05 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Sự sụt giảm này diễn ra chủ yếu ở khu vực thành thị, trong khi ở khu vực nông thôn tỷ lệ này cao hơn, đạt 63,8% so với 48,3% ở khu vực thành thị, tức là ở nông thôn cao gấp khoảng 1,3 lần so với thành thị.
Trong quý I, lao động có việc làm đã qua đào tạo từ trình độ Sơ cấp nghề trở lên ước tính đạt 11,6 triệu người, chiếm 21,5% tổng số lao động có việc làm trên cả nước.
Trong quý I năm 2018, thu nhập bình quân tháng từ công việc chính của lao động làm công hưởng lương đạt 5,8 triệu đồng Mức thu nhập này tăng gần 263 nghìn đồng so với quý trước và tăng 147 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
Nhìn tổng thể, thị trường lao động Việt Nam vẫn là một thị trường dư thừa lao động và phát triển không đồng đều, với mất cân đối cung cầu nghiêm trọng giữa các vùng miền, khu vực và ngành nghề kinh tế Sự chênh lệch này thể hiện rõ ở mức độ thiếu hụt nhân lực ở một số ngành công nghiệp trọng điểm và khu vực đô thị, đồng thời tồn tại dư thừa lao động ở các vùng nông thôn và các ngành nghề ít hấp dẫn Để thúc đẩy tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu lao động, cần tăng cường đào tạo và nâng cao kỹ năng, cải thiện kết nối giữa nhu cầu doanh nghiệp và nguồn lực lao động ở các khu vực khác nhau.
Khuyến nghị, chính sách
Giải pháp
Phát triển thị trường lao động có ý nghĩa then chốt trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư và nâng cao năng suất lao động, hướng nền kinh tế đi đúng định hướng Để đạt được mục tiêu này, cần khắc phục những tồn tại, nhược điểm của thị trường lao động những năm qua và xây dựng hệ thống thông tin thị trường ngày càng đầy đủ nhằm kết nối cung - cầu lao động và dự báo xu hướng thị trường Việc dự báo thông tin thị trường giúp liên kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, bảo đảm nguồn lực được đào tạo đúng nhu cầu và được bố trí hiệu quả, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực và đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững.
Đẩy mạnh mở rộng cầu lao động và giải quyết dần mất cân đối cung–cầu lao động bằng các giải pháp phát triển kinh tế và khuyến khích đầu tư thông qua quy hoạch phát triển kinh tế, từ đó nâng cao và giữ vững vị trí về chỉ số năng lực cạnh tranh Chính sách khuyến khích dành cho doanh nghiệp có kỹ thuật, công nghệ cao và các ngành kinh tế mũi nhọn sẽ thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng trưởng nguồn nhân lực chất lượng Đồng thời mở rộng và nâng cao chất lượng vườn ươm doanh nghiệp, để hình thành một thị trường lao động phong phú và tạo nhiều chỗ làm việc mới.
Hai là: Phát triển thông tin thị trường lao động hoàn thiện hơn, trong đó chú trọng:
Thu thập hệ thống dữ liệu cung – cầu lao động tương đối đầy đủ và có hệ thống là nền tảng của Đề án phát triển thông tin thị trường lao động giai đoạn 2016 – 2020 Đề án chỉ đạo xây dựng và tổ chức triển khai các giải pháp thu thập và cung cấp dữ liệu về cung lao động từ các địa phương, từ tổ dân phố lên cấp thành phố, nhằm đảm bảo dữ liệu đầy đủ về các thông số cung lao động, địa chỉ của từng lao động đang làm việc, người có nhu cầu tham gia lao động và nguồn cung lao động mới Song song đó, thu thập thông tin cầu lao động từ các doanh nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động là chìa khóa để có bức tranh thị trường lao động đầy đủ và cập nhật.
Xử lý, phân tích, tổng hợp, truyền tải, cung cấp và báo cáo thông tin thị trường lao động một cách toàn diện và có hệ thống Trên cơ sở cơ sở dữ liệu được xử lý khoa học và hiệu quả, chúng tôi tạo nền tảng tin cậy cho việc thực hiện dự báo về xu hướng tuyển dụng, nguồn cung lao động và diễn biến thị trường Thông tin thị trường lao động được trình bày rõ ràng, cập nhật thường xuyên và dễ tiếp cận để hỗ trợ quyết định chiến lược cho doanh nghiệp và các bên liên quan.
Xây dựng một bộ phận dự báo có nghiệp vụ cao tại Trung tâm Dịch vụ Việc làm, đảm nhận chức năng dự báo ngắn hạn và trung hạn về thị trường lao động Bộ phận này cung cấp thông tin chiến lược cho doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, giúp nắm bắt xu hướng thị trường lao động, lên kế hoạch tuyển dụng và định hướng đào tạo nhân sự phù hợp với nhu cầu thực tế.
Việc tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia hoạt động thông tin thị trường lao động ở địa phương, cơ sở được xây dựng nhằm nâng cao năng lực và chất lượng công tác Đồng thời triển khai hệ thống tổ chức và quy trình thu thập, xử lý thông tin thị trường lao động một cách hiệu quả, khoa học và đồng bộ Nhờ đó dữ liệu thông tin thị trường lao động được thu thập đầy đủ, chính xác và kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả tham mưu và định hướng chính sách tại địa phương và cơ sở.
Ba là: Xác định mục tiêu đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn cung lao động phù hợp với nhu cầu của xã hội:
- Hoàn thiện và luôn điều chỉnh quy hoạch mạng lưới đào tạo nghề nghiệp
Chính sách đào tạo được tổ chức cho các đối tượng ưu tiên và khuyến khích lực lượng lao động tham gia đào tạo ở những lĩnh vực có nhu cầu lao động cao và được dự báo sẽ phát triển theo định hướng của nền kinh tế, nhằm nâng cao kỹ năng nghề, đáp ứng thị trường lao động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
- Thông qua hệ thống dịch vụ việc làm tư vấn nghề nghiệp cho lao động xác định mục tiêu nâng cao chất lượng sức lao động, nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường sức lao động để có chất lượng và hiệu quả, tăng thu nhập và tái sản xuất sức lao động
- Tích cực thực hiện phân luồng đào tạo cho phù hợp với kết quả dự báo về cầu lao động.
Quy hoạch mạng lưới dịch vụ việc làm và xây dựng hệ thống dịch vụ việc làm hiệu quả, đáp ứng công tác thu thập, xử lý thông tin, kết nối cung cầu, tư vấn và dự báo thông tin thị trường lao động; mở rộng và nâng cao hiệu quả sàn giao dịch việc làm định kỳ, tiến tới tổ chức giao dịch hàng tuần; giải quyết tốt bảo hiểm thất nghiệp, chú trọng tiêu chí đào tạo lại và đưa lao động nhanh chóng trở lại thị trường lao động, đồng thời kết nối những người được đào tạo xong gia nhập thị trường lao động.
Trong năm nay, cần điều tra và nắm bắt thông tin thị trường lao động ở khu vực kinh tế phi chính thức để xây dựng các giải pháp quản lý hiệu quả và ban hành các chính sách phù hợp Việc này giúp ưu tiên các lĩnh vực phụ trợ cho khu vực kinh tế chính thức, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Kết quả là nâng cao quản trị thị trường lao động, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và tăng tính cạnh tranh giữa các khu vực kinh tế.
Có chính sách chống cạnh tranh không lành mạnh Khi người lao động vào làm việc cho một đơn vị (nhất là việc làm có kỹ thuật cao) được đào tạo đầy đủ,năng suất lao động tốt bị một đơn vị khác nâng cao giá thuê để thu hút người lao động đó; vì thế có chế tài quy định chặc chẽ, trừ trường hợp lý do chính đáng về hợp lý hóa gia đình nhưng 2 đơn vị đó phải cách xa với độ xa nhất định không thể đi làm việc hằng ngày được.
Kiến nghị
Để khắc phục thực trạng mất cân đối cung – cầu trên, đề nghị Chính phủ tập trung chỉ đạo một số vấn đề sau:
Hoàn chỉnh các quy định của pháp luật nhằm hướng dẫn các doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn và tổng công ty lớn, khi đầu tư các dự án quy mô lớn phải báo cáo trước về công nghệ, quy mô, thời điểm đầu tư, lộ trình đi vào sản xuất và dự kiến nhu cầu nhân lực; đồng thời có kế hoạch chuẩn bị nguồn nhân lực với địa phương và chịu trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực phù hợp trước và trong quá trình đầu tư Cùng với việc mở rộng và thu hút đầu tư trong và ngoài nước, nhà nước cần có chính sách giảm dần quy mô doanh nghiệp siêu nhỏ (vốn dưới 5 tỷ đồng và dưới 10 lao động) nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, hiện đại của các doanh nghiệp, tăng cường đầu tư trang thiết bị và nâng cao kiến thức cho mỗi người lao động để đáp ứng yêu cầu sản xuất và công nghệ ngày càng cao.
Để xây dựng hệ thống thông tin quốc gia về thị trường lao động và tăng cường đầu tư, cần đảm bảo sự thông suốt của thông tin từ Trung ương đến địa phương và giữa các vùng; đồng thời tập trung chỉ đạo thực hiện hiệu quả Thông tư số 25/2009/TT-BLĐTBXH ngày 14/7/2009 về thu thập và xử lý thông tin cung cầu lao động, phục vụ công tác quản lý lao động – việc làm và kịp thời cung cấp thông tin phục vụ nghiên cứu, phân tích, dự báo và xây dựng chính sách thị trường lao động phù hợp với thực tế.
Cần tổ chức tuyên truyền và phổ biến các quy định của pháp luật lao động, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động nâng cao nhận thức cho người lao động và doanh nghiệp về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động Khuyến khích các địa phương và doanh nghiệp xây dựng chính sách thu hút và sử dụng lao động phù hợp, như nhà ở cho công nhân tại khu công nghiệp, khu chế xuất và hỗ trợ lao động ngoại tỉnh hòa nhập với môi trường sống mới, nhằm tạo điều kiện để người lao động yên tâm gắn bó làm việc trong tỉnh và với doanh nghiệp.
- Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội, gắn đào tạo nghề với việc làm Đặc biệt, đẩy nhanh việc xã hội hóa công tác dạy nghề, tạo điều kiện khuyến khích doanh nghiệp tuyển dụng và đào tạo nghề cho người lao động.
C Kết luận Đảng, nhà nước, các doanh nghiệp hay chính bản thân người lao động phải quan tâm tạo mọi điều kiện để nâng cao, phát triển nguồn nhân lực không chỉ về số lượng và còn về chất lượng Không ngừng tăng cung song cung phải có chất lượng cao và phù hợp với cơ cấu cầu trong các doanh nghiệp Phải đảm bảo một nguồn nhân lực chất lượng cao dồi dào, cơ cấu cung- cầu lao động hợp lý và ổn định, giàu trí tuệ, giàu ý chí và khát vọng, có lý tưởng cách mạng soi sáng Như vậy sẽ tạo nên một nền tảng nhân lực lao động vững chắc, trở thành động lực để kinh tế nước ta phát triển, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Do vậy trong bất cứ xã hội nào, một đất nước nào, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng Đặc biệt ở nước ta, vấn đề này lại được coi trọng hơn bao giờ hết
MỘT SỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO