1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

TÁC GIA VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

35 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Gia Văn Xuôi Việt Nam Hiện Đại
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở đây, người viết mạo phép tiếp nhận các quan điểm nghiên cứu, tìm hiểu về một số vấn đề, một số nhà văn để đưa ra sự đánh giá và minh chứng cho sự đánh giá của mình về nhận định: Sự vận

Trang 2

2

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 3

1 Sự vận động của tiến trình văn học 3

2 Các yếu tố chi phối đến sự vận động của tiến trình văn học 4

3 Sự gắn liền của tiến trình văn học với sự thay đổi các kiểu nhà văn, các tác gia văn học tiêu biểu 5

3.1 Kiểu nhà văn lãng mạn (giai đoạn 1930 – 1945) 6

3.1.1 Hoàn cảnh ra đời kiểu nhà văn lãng mạn 6

3.1.2 Đặc điểm 7

3.1.2.1 Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo 8

3.1.2.2 Thạch Lam 9

3.2 Kiểu nhà văn hiện thực (giai đoạn 1930 – 1945) 11

3.2.1 Hoàn cảnh xuất hiện kiểu nhà văn hiện thực 11

3.2.2 Đặc điểm 12

3.2.2.1 Vũ Trọng Phụng 13

3.2.2.2 Nam Cao 15

3.3 Kiểu nhà văn cách mạng (năm 1945 – 1975) 18

3.3.1 Hoàn cảnh xuất hiện kiểu nhà văn cách mạng 18

3.3.2 Đặc điểm 18

3.3.2.1 Hồ Chí Minh 20

3.3.2.2 Nguyễn Thi 23

3.4 Kiểu nhà văn hậu chiến 25

3.4.1 Hoàn cảnh xuất hiện kiểu nhà văn hậu chiến 25

3.4.2 Đặc điểm 26

3.4.2.1 Nguyễn Huy Thiệp 27

3.4.2.2 Nguyễn Minh Châu 31

NHẬN XÉT 33

KẾT LUẬN 35

Trang 3

3

MỞ ĐẦU

Nghiên cứu về tiến trình văn học là nghiên cứu ở phạm vi rộng, phải xét trên nhiều phương diện, yếu tố Vì vậy trong giới nghiên cứu cũng đã có nhiều quan điểm và hướng nghiên cứu khác nhau về vấn đề này Ở đây, người viết mạo phép tiếp nhận các quan điểm nghiên cứu, tìm hiểu về một số vấn đề, một

số nhà văn để đưa ra sự đánh giá và minh chứng cho sự đánh giá của mình về nhận định: Sự vận động của tiến trình văn học gắn liền với sự thay đổi các kiểu nhà văn, các tác gia văn học tiêu biểu

Đối tượng và phạm vi tìm hiểu, đánh giá

Người viết tập trung vào sự vận động của tiến trình văn học; vào văn xuôi của một số kiểu nhà văn tiêu biểu, các tác gia văn học tiêu biểu

NỘI DUNG

1 Sự vận động của tiến trình văn học

Tiến trình văn học là sự vận động, phát triển nội tại của các nguyên tắc tư tưởng - nghệ thuật trong hoạt động tư duy sáng tạo, vừa là một bộ phận của tiến trình lịch sử, vừa là một hiện tượng có tính đặc thù, nó luôn ở trạng thái động chứ không nhất thành bất biến

Các quy luật vận động nội tại của tiến trình văn học:

Thứ nhất, là một bộ phận của lịch sử xã hội, cũng như bản thân văn học, tiến trình văn học không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ phổ biến với các hình thái ý thức xã hội khác, các loại hình nghệ thuật khác và chịu sự chi phối của cơ sở kinh tế Đồng thời, nó có mục đích tự thân của nó, nên nó có tính độc lập tương đối thể hiện sự đặc thù của hình thái nghệ thuật Do vậy, từ trong vận động nội tại của tiến trình văn học, đã phải tuân thủ quy luật giao lưu ảnh hưởng giữa các hiện tượng văn học

Thứ hai, quy luật vận động của văn học luôn có sự kế thừa và cách tân, đồng thời còn có sự lặp lại của những hiện tượng văn học không cùng nguồn cội phát sinh

Thứ ba, tiến bộ nghệ thuật và tính vĩnh hằng của các giá trị thẩm mỹ thể hiện quy luật không lặp lại của nghệ thuật Văn học nhân loại luôn vận động theo chiều hướng phát triển Ý nghĩa của tiến bộ văn học không giống với tiến

bộ của khoa học hoặc triết học Trong khoa học, cái mới bao giờ cũng thay thế

Trang 4

4

cái cũ, cái cũ hòa tan hoàn toàn trong cái mới Còn trong văn học, cái cũ hoặc là tồn tại trong cái mới, hoặc là được cái mới kế thừa và cách tân Tiến bộ nghệ thuật cần được hiểu như là sự nâng cao, sự hoàn thiện loại hình và trình độ tư duy hình tượng, mở ra cho nghệ thuật những khả năng to lớn trong nhận thức, khám phá, chiếm lĩnh thế giới hiện thực, đồng thời thỏa mãn ngày càng cao khát vọng thẩm mỹ của con người

2 Các yếu tố chi phối đến sự vận động của tiến trình văn học

Lịch sử xã hội

Những sự kiện lịch sử lớn đều có tác động đến văn học Vì vậy, tiến trình văn học là một phương diện của tiến trình lịch sử xã hội Phần lớn các nhà nghiên cứu chia lịch sử văn học theo các cột mốc lịch sử xã hội Chẳng hạn, ở nước ta, những người làm lịch sử văn học viết, dựa vào sự tồn tại của các triều đại phong kiến để phân kỳ tiến trình lịch sử văn học Người ta phân kỳ văn học trung đại nước ta theo thời đại văn học, như văn học Lý – Trần, văn học thời Lê – Nguyễn (bắt đầu từ Nguyễn Trãi) Đến khi Pháp mở đầu cuộc xâm lược vào Việt Nam bằng cuộc tấn công vào Đà Nẵng 1858 đến khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập năm 1930 là văn học cận đại, từ 1930 trở về sau là văn học hiện đại

Phương pháp sáng tác

Phương pháp sáng tác là hệ thống những nguyên tắc tư tưởng – nghệ thuật thúc đẩy, chi phối quá trình sáng tạo của tác giả, từ việc chọn lựa đề tài đến việc khái quát, đánh giá đời sống thông qua thế giới hình tượng Nói đến phương pháp là nói đến thế giới quan, nảy sinh trong một điều kiện lịch sử nhất định, lặp

đi lặp lại trong sáng tác, tạo thành những đặc điểm chung của một giai đoạn, một thời kỳ văn học Ở Việt Nam, chúng ta có sự tồn tại song hành của văn học lãng mạn, văn học hiện thực, manh nha văn học cách mạng vào những năm 1930 –

1945, để cuối cùng nền văn học cách mạng chiếm ưu thế với sự hình thành chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa

Trào lưu văn học

Một số nhà nghiên cứu dựa vào khuynh hướng sáng tác, coi như là phương pháp sáng tác đã được khách quan hóa thành phương thức tư duy hình tượng tạo thành những trào lưu văn học Khuynh hướng tạo ra một phong trào sáng tác được đông đảo tác giả tuân theo, với một tuyên ngôn nghệ thuật, một cương lĩnh sáng tạo hình thành các trào lưu văn học, cao hơn, các trường phái văn học

Trang 5

5

Thể loại văn học

Một số nhà nghiên cứu cho rằng thể loại văn học là yếu tố chính của tiến trình văn học Mỗi thể loại, nhất là thể loại lớn, thể hiện một thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực của con người Mỗi thời đại lịch sử có một thể loại riêng, trong đó những thể loại trung tâm thể hiện tâm thức, tầm nhìn những quan niệm và chuẩn mực giá trị của con người thời đại Vì vậy, lịch sử văn học trước hết là lịch sử hình thành, phát triển, tương tác giữa các thể loại

Phong cách

Sự vận động của phong cách theo nghĩa rộng là sự tiến hóa của văn học,

nó chính là những tổ hợp các đặc điểm hình thức nghệ thuật mang tính ổn định, bền vững Có hai phong cách: phong cách tiên phát, sơ khởi (mô phỏng, giản dị giống như thật) và phong cách thứ sinh (bài trí, hình thức, ước lệ) Tiến trình văn học từ phục hưng, chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa hiện thực được xếp vào loại sơ khởi tiên phát, còn chủ nghĩa lãng mạn vào loại thứ sinh

Sự luân chuyển của các loại hình ý thức nghệ thuật, đặc trưng nghệ thuật ngôn từ và thực tiễn văn học

Căn cứ vào sự luân chuyển của các loại hình ý thức nghệ thuật, vào đặc trưng nghệ thuật ngôn từ và thực tiễn văn học để phân chia thành ba thời kỳ văn học Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ thống ngự của thế giới quan thần thoại và ý thức nghệ thuật mang tính cơ sở Đó là thời kỳ sáng tác truyền miệng, tồn tại cùng trạng thái nguyên hợp, do đó không có lý thuyết văn chương, không có tuyên ngôn, cương lĩnh sáng tạo Các phạm trù thi pháp nói lên sự hiện hữu của văn học chỉ đơn giản là tác giả, thể loại, phong cách Thời kỳ thứ hai là thời kỳ cổ đại Hy Lạp đến giữa thế kỷ XVIII, bao gồm nhiều giai đoạn nhỏ, chịu sự thống ngự của chủ nghĩa truyền thống, thể hiện thi pháp phong cách, thi pháp thể loại Thời kỳ thứ ba, bắt đầu từ thế kỷ ánh sáng với sự ra đời chủ nghĩa lãng mạn, thể hiện ý thức sáng tạo mang tính cá nhân và thi pháp tác giả trở thành ưu việt, thể hiện ý thức thời đại…

3 Sự gắn liền của tiến trình văn học với sự thay đổi các kiểu nhà văn, các tác gia văn học tiêu biểu

Ở mỗi kiểu nhà văn, người viết sẽ tìm hiểu một vài đặc điểm chung và đi sâu tìm hiểu hai nhà văn tiêu biểu Thông qua sự thay đổi từ kiểu nhà văn này đến kiểu nhà văn khác, ta sẽ thấy được những nét đặc trưng riêng của từng giai đoạn văn học, từ 1930 đến nay, nghĩa là một phần thấy được sự vận động của tiến trình văn học Tất nhiên sự phân chia các mốc 1930 – 1945, 1945 – 1975,

1986 – nay là dựa vào hoàn cảnh lịch sử, vậy nên có thể cách tìm hiểu này vẫn còn ở mức tương đối chứ chưa hẳn toàn diện, tuyệt đối Tuy nhiên, cách chia

Trang 6

6

như vậy là phù hợp với quan điểm của người viết, bởi người viết đề cao mối quan hệ giữa hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội với các nhà văn (quan điểm, khuynh hướng, phương pháp sáng tác)

3.1 Kiểu nhà văn lãng mạn (giai đoạn 1930 – 1945)

3.1.1 Hoàn cảnh ra đời kiểu nhà văn lãng mạn

Cuộc Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 đã đánh đổ chế độ phong kiến Sự kiện này là một bước ngoặt vĩ đại không chỉ đối với Pháp mà còn đối với cả Châu Âu Chính sự sụp đổ của chế độ phong kiến và sự hình thành quan hệ xã hội mới đã tác động sâu sắc đến tư tưởng tình cảm của mọi tầng lớp trong xã hội Đối với lớp người thuộc ý thức hệ quý tộc (lớp người cũ), họ cảm thấy bất mãn với trật tự xã hội mới (các đặc quyền, đặc lợi của họ trước kia hoàn toàn mất sau cuộc cách mạng này), lo sợ trước các phong trào quần chúng, hoang mang vì tương lai mờ mịt đồng thời luyến tiếc thời oanh liệt không còn nữa Một

bộ phận tầng lớp tiểu tư sản bị phá sản khi cách mạng nổ ra nên họ có tâm trạng

bi đát Đối với những người ủng hộ cách mạng lại cảm thấy bất mãn với thành quả đạt được, từ đó dẫn tới khuynh hướng thoát ly hiện thực Cách mạng tư sản Pháp kết hợp với triết học duy tâm cổ điển Đức, chủ nghĩa xã hội không tưởng

và vác trào lưu tiền đề là cơ sở xã hội, văn hóa, tư tưởng của chủ nghĩa lãng mạn phương Tây để sản sinh ra chủ nghĩa văn học lãng mạn

Nằm trong giai đoạn thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858 - 1945), tức

là giai đoạn hình thành và tồn tại của chế độ thực dân nửa phong kiến, lịch sử xã hội và văn hoá Việt Nam có sự biến đổi sâu sắc Đây là thời kỳ đấu tranh dân tộc

và đấu tranh giai cấp hết sức gay gắt, đế quốc Pháp và phát xít Nhật ráo riết thực hiện các chính sách đàn áp về chính trị, bóc lột về kinh tế, đầu độc về văn hoá Năm 1930 cũng là thời điểm ra đời của Đảng cộng sản Đông Dương và những chặng đường phát triển của cách mạng dân tộc dân chủ cũng có tác động nhiều mặt tới đời sống chính trị xã hội lúc bấy giờ Từ đó dẫn đến những cuộc tranh đấu trên lĩnh vực tư tưởng và ý thức hệ, những tác động qua lại vô cùng phức tạp của các khuynh hướng và phương pháp sáng tác khác nhau Hệ tư tưởng tư sản cấu kết với hệ tư tưởng phong kiến lỗi thời, đối lập với chúng là hệ tư tưởng vô sản cùng những khát vọng dân tộc dân chủ của các tầng lớp nông dân, tiểu tư sản thành thị yêu nước Về văn hóa, những luồng văn hóa phương Tây ngày càng tác động một cách toàn diện sâu sắc đến đời sống xã hội Việt Nam, chế độ học hành thi cử bằng chữ Hán bị xoá bỏ, chữ Hán và Nho giáo dần mất đi địa vị độc tôn Trong giai đoạn này, báo chí và hoạt động xuất bản ngày càng rầm rộ, chữ quốc ngữ khẳng định được vị thế của mình, văn học bắt đầu bước vào hiện đại hoá

Trang 7

7

Văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp du nhập vào Việt Nam với hạt nhân là tính tự do cá nhân được đề cao, đem đến một tư tưởng mới mẻ cho một nền văn học bị kìm hãm bởi những quan niệm phong kiến đã không còn hợp lý Những tác giả nhanh chóng tiếp thu những cái hay của văn học lãng mạn và tạo thành trào lưu sáng tác lãng mạn Đây cũng chính là điều kiện để tạo ra các kiểu nhà văn lãng mạn

3.1.2 Đặc điểm

Những năm 1930 – 1945, văn đàn có sự xuất hiện của văn xuôi lãng mạn với đại diện tiêu biểu là nhóm Tự lực văn đoàn: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam,

Cuộc đấu tranh đòi giải phóng con người trong tình yêu đã xuất hiện manh nha ở một vài tác phẩm lãng mạn trước 1930 nhưng chưa mạnh mẽ và quyết liệt, còn lại tiếng vang nhất cho đến nay là “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách Tác phẩm viết về mối tình đ p đẽ, lãng mạn của một đôi trai tài gái sắc Đạm Thủy – Tố Tâm Kết thúc bi kịch của mối tình này cho thấy cuộc đấu tranh của con người để đến với tình yêu tự do mới bắt đầu bước vào giai đoạn đầu,

Những năm 1940 - 1945, trước sự kêu gọi đấu tranh giải phóng dân tộc, một số nhà văn lãng mạn rơi vào trạng thái bế tắc, các tác phẩm tuyệt đối hóa cá nhân một cách quá mức trong khi đất nước đang bước vào giai đoạn mới, đòi hỏi văn học có những chức năng mới Văn học lãng mạn kết thúc là một sự tất yếu, hợp với quy luật của lịch sử, nhường chỗ cho chủ nghĩa văn học khác với những chức năng khác

Kiểu nhà văn lãng mạn (giai đoạn 1930 – 1945) có những quan điểm mới

về cái đ p, nội dung, đề tài,… Họ là những trí thức, tiểu tư sản phản ứng chống lại xã hội đương thời, muốn thoát li thực tế tìm đến một thế giới khác giúp con người quên đi cuộc sống chán ghét Vì vẽ ra một cuộc sống làm thỏa mãn “cái tôi” bị tổn thương của con người nên thế giới trong văn xuôi của kiểu nhà văn lãng mạn là thế giới mộng tưởng, đề cao tình cảm và tự do cá nhân Họ đã giải phóng cái tôi cá nhân một cách triệt để sau hàng nghìn năm bị kìm hãm, đề cao

Trang 8

3.1.2.1 Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo

Phần lớn các nhà văn lãng mạn thường xây dựng những mâu thuẫn, xung đột được đẩy lên đến mức đỉnh điểm, đòi hỏi được giải quyết Để từ đó, họ miêu

tả cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, cái bảo thủ lạc hậu và cái tiến bộ trong những mối quan hệ, đặc biệt là tình yêu

Loan trong “Đoạn tuyệt” của Nhất Linh là một cô gái tân học, yêu Dũng nhưng cuối c ng phải lấy Thân – con một gia đình giàu có – để hài lòng cha m , tránh rắc rối Loan bắt đầu dấn thân vào một cuộc phiêu lưu đau khổ, nhẫn nại sống bên cạnh một người chồng mình không yêu, phải làm công việc nặng nề, phải hầu hạ m chồng như tôi tớ, bị m chồng đối xử độc ác cay nghiệt, phải chịu cảnh chồng chung, bị mang tiếng giết chồng, bị bắt bỏ t tưởng không còn nhìn thấy được tự do, cuối c ng nhờ trạng sư bào chữa bảo vệ, Loan được tòa xử trắng án và có cơ hội tìm lại được hạnh phúc với Dũng, “đoạn tuyệt” chuỗi ngày sống trong đau khổ và cay đắng Tác giả đã xây dựng nhân vật Loan ban đầu chịu sự chi phối và phải đối đầu với những nỗi đau từ tư tưởng cũ: “Cha m đặt đâu con ngồi đấy”, gia đình chồng bảo thủ phong kiến (trọng nam khinh nữ, chữa bệnh bằng b a chú,…), quan hệ giữa m chồng và nàng dâu, vợ lớn vợ bé bất hòa,… Nhưng sau c ng, nhờ vào cái “rủi” mà cô gái ấy lại có cơ hội trở về với tư tưởng tiến bộ của mình, được sống là chính mình

Hay trong “Hồn bướm mơ tiên” – tiểu thuyết đầu tay của Khái Hưng, truyện kể về chuyện tình lãng mạn giữa Ngọc – một thanh niên tây học với Lan – một thiếu nữ đ p giả trai đi tu Khi về thăm bác là sư trụ trì ch a Long iáng, Ngọc đã gặp chú tiểu Lan, ban đầu từ lòng cảm mến, Ngọc đã đem lòng yêu Lan sau khi biết Lan là gái Mối tình của hai người đ p đẽ, trong sáng, nhưng không thể tiến xa hơn vì d yêu, Lan đã phải đấu tranh với tình cảm đó của mình, vượt lên trên những cám dỗ ngọt ngào của tình yêu để kiên định theo đuổi con đường chân tu mà mình đã chọn Ngọc chấp nhận điều đó, chỉ thỉnh thoảng đến ch a thăm Lan cho thỏa miền mong nhớ

Đến với Hoàng Đạo, “Con đường sáng” là truyện dài duy nhất của nhà văn Câu chuyện kể lại biến chuyển tâm lý tạo chuyển biến cuộc đời của một

Trang 9

9

thanh niên trí thức ở Hà Nội trước 1945 – Duy Người thanh niên trí thức tiểu tư sản Việt Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX này theo đuổi lý tưởng: “phải tu luyện hằng ngày để hiểu biết thêm và làm cho người khác cũng hiểu biết như mình” Sau khi trải qua tất cả những lạc thú của cuộc sống thành thị, Duy trở về nông thôn, đem hết tâm sức và khả năng của mình giáo dục dân quê, dạy họ cách sinh hoạt, làm việc văn minh và hiệu quả nhằm giúp họ thực hiện khát vọng đổi đời

Như vậy, các nhà văn luôn muốn tìm ra con đường để giải thoát con người

cá nhân khỏi những ràng buộc cũ, từ đó mà lý tưởng hóa nhân vật, và cuối c ng đứng hẳn về cái mới

3.1.2.2 Thạch Lam

Nói về văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945, Thạch Lam cũng thuộc nhóm Tự lực văn đoàn, nhưng người viết chủ ý tìm hiểu tác giả này ở phần riêng, vì ông là nhà văn mang một mảng màu đặc biệt

Cũng giống các nhà văn trong Tự lực văn đoàn, Thạch Lam là người luôn chắt chiu cái đ p và sáng tác của ông là sự tìm kiếm cái đ p bị đánh mất Đối với nhà văn, cái đích cần khám phá là bí mật của tâm hồn con người, là đích đến cuối cùng của ngòi bút Tuy nhiên, điều tạo nên sự khác biệt ở Thạch Lam là sự hài hoà giữa hiện thực và lãng mạn, giữa thơ và văn xuôi, kết tinh thành truyện ngắn trữ tình: tự sự nhưng đầy chất thơ

Thạch Lam đã từng nêu ra quan điểm: “Đối với tôi, văn chương không phải một cách đem đến sự thoát li hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa thay đổi cái thế giới giả dối

và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn” Với Thạch Lam, nhà văn d có lãng mạn đến đâu vẫn không thoát li khỏi cuộc sống, thể hiện mối đồng cảm, lòng trắc ẩn với cuộc sống và những người lao động nghèo khổ Thạch Lam là cây bút lãng mạn giàu chất hiện thực Trên bề mặt, tác phẩm của Thạch Lam thuộc chủ nghĩa tình cảm, một nhánh của văn học lãng mạn, song ở bề sâu, truyện ngắn của ông lại rất giàu tính hiện thực Cũng chính

vì vậy, quan điểm nghệ thuật của Thạch Lam vừa hướng đến sự trau chuốt về ngôn từ, lời văn, hình ảnh, chất thơ,… (vị nghệ thuật) mà cũng vừa hướng đến cái cao cả của tâm hồn, sự sẻ chia (vị nhân sinh)

Thạch Lam không thi vị hoá hình tượng người tri thức tiểu tư sản như các nhà văn lãng mạn cùng thời, nhân vật của ông chân thực và gần gũi, thường được đặt trong những khó khăn, trở ngại, thậm chí tuyệt vọng Truyện Thạch Lam không có chuyện, thế giới nhân vật là những con người bình thường, có ngoại hình mờ nhạt, số phận không sắc nét (bởi Thạch Lam không thi vị hoá

Trang 10

họ Phố huyện trong “Hai đứa trẻ” có nguyên mẫu từ phố huyện Cẩm iàng, nơi tuổi thơ Thạch Lam đã từng trải, nghĩa là một hình ảnh mang vốn sống rất riêng

tư Câu chuyện nhà văn kể với chúng ta cũng chẳng có gì đặc biệt, chỉ là những sinh hoạt thường ngày về một chiều tới khuya của một chị một em theo lời m dặn trông coi một gian hàng tạp hoá bé xíu, lãi lời chẳng bao nhiêu, nhưng ngày nào hai đứa trẻ cũng ngồi đợi chuyến tàu đêm từ Hà Nội vụt qua phố huyện rồi mới đóng cửa hàng đi ngủ Trong lúc chờ tàu, hai chị em (chủ yếu là Liên) ngồi ngắm nhìn, lắng nghe khung cảnh nhịp điệu phố huyện diễn ra trước mắt từ lúc chiều tối cho tới tận khuya Chỉ bấy nhiêu mà tác giả gợi bao xúc cảm trắc ẩn xót xa trong lòng người đọc Sức lay động chủ yếu của “Hai đứa trẻ” chủ yếu xuất phát từ bức tranh phố huyện và bức tranh tâm trạng, những rung động sâu

xa tinh tế trong tâm hồn nhân vật Liên, nhân vật trữ tình hoá thân của tác giả

Truyện “Dưới bóng hoàng lan” cũng là một truyện không có cốt truyện Chàng trai tên Thanh ra tỉnh làm việc, sau hai năm có dịp trở về ngôi nhà cũ, thăm lại mảnh vườn có cây hoàng lan toả bóng, gặp lại người bà hiền hậu và cô hàng xóm dịu dàng Tất cả vẫn như xưa, trong lành, ấm áp, thân thuộc Bà chàng mái tóc bạc phơ, còn cô gái xinh xắn trong tà áo trắng, mái tóc buông lơi trên cổ nhỏ Thanh được ngắm nhìn lại cây hoàng lan thân mộc, lá cành xoè rủ tán, màu hoa có nắng vàng và hương mát thơm, dịu dàng hư thoảng Bữa cơm có Nga

c ng ăn, ấm cúng, thấm đầy những săn sóc âu yếm Họ dắt nhau ra vườn hái hoàng lan như những ngày xa xưa nào Sáng hôm sau, Thanh ra đi, nhắn gửi lại lời từ biệt cô gái và biết rằng “Nga sẽ vẫn đợi chàng, nhớ mong chàng như ngày trước” Tất cả là những cảm xúc rất thơ, rất ngọt ngào trìu mến êm ả trong lành: Hạnh phúc là sự yên tĩnh trong tâm hồn

Rõ ràng, nhân vật trong tác phẩm của Thạch Lam luôn phải đối mặt với

“cơm, áo, gạo, tiền”, nhưng thẳm sâu trong tâm hồn họ vẫn còn chan chứa những nét đ p, vẫn dịu nh , vẫn hài hoà gắn bó trong tình yêu thương, tình người đằm thắm

Nhìn chung, kiểu nhà văn lãng mạn (giai đoạn 1930 – 1945) thường gắn với trào lưu văn học lãng mạn, có quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật và tuân

Trang 11

11

thủ phương pháp sáng tác của chủ nghĩa lãng mạn Họ sáng tạo dựa trên các nguyên tắc của văn học lãng mạn: Lấy bản ngã làm trung tâm; thể loại, hình thức biểu đạt phong phú, tự do Riêng nhà văn Thạch Lam, ông có những nét đặc điểm của lãng mạn kết hợp với hiện thực

3.2 Kiểu nhà văn hiện thực (giai đoạn 1930 – 1945)

3.2.1 Hoàn cảnh xuất hiện kiểu nhà văn hiện thực

Ở phương Tây, hạn chế của giai cấp tư sản đã lộ rõ Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và vô sản ngày càng trở nên gay gắt Chủ nghĩa lãng mạn cũng không còn phù hợp nữa (vì văn học nghệ thuật phải nhìn thẳng vào hiện thực mà chủ nghĩa lãng mạn thì quá ảo mộng) Quan niệm duy vật, phép biện chứng, thuyết tiến hóa luận khiến nguyên tắc lý tính bị thay thế bởi nguyên tắc lịch sử - cụ thể, theo nguyên tắc điển hình hóa Từ những cơ sở trên, kết hợp với việc kế thừa những dòng văn học đã xuất hiện từ chủ nghĩa lãng mạn (văn học châm biếm với thơ ngụ ngôn, kịch hiện thực,…), chủ nghĩa hiện thực của phương Tây đã ra đời

Ở Việt Nam, những năm 1929 – 1933, cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra Thực dân Pháp ra sức vơ vét, bóc lột để b đắp cho những thiệt hại của chúng: chúng tăng thuế, bắt phu, bắt lính, lạm phát giấy bạc,… Ngày 9/2/1930 cách mạng tư sản thất bại Họ đã tiến hành bạo động nhưng thất bại, trí thức tiểu tư sản trở nên hoang mang, tìm đường thoả hiệp với thực dân, một số thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc bằng con đường văn chương Tháng 9/1939 chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, mặt trận dân chủ tan vỡ, bọn thống trị ở Đông Dương thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ mà nhân dân ta vừa giành được, Đảng phải rút vào hoạt động bí mật Tất cả những bất ổn – bất lợi về mặt chính trị, kinh tế đã khiến đời sống nhân dân ta ngày càng lầm than, đói khổ hơn Cuộc sống những con người nhỏ bé lại tiếp tục bị đẩy vào vòng xoáy mưu sinh, đôi lúc là mắc k t ở cuối con đường Và đỉnh điểm là cả nước phải đối mặt với nạn đói 1945, gây ra sự mất mát đau thương

Trên văn đàn Việt Nam, Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn… đã khơi dòng cho khuynh hướng hiện thực khi các tác phẩm bắt đầu thể hiện màu sắc phong tục, nếp sống của một số miền đất, một số người Đến khoảng những năm 30 của thế kỉ XX cây bút hiện thực phê phán Nguyễn Công Hoan là người bắt đầu đi theo khuynh hướng tả chân, lấy cuộc sống hiện thời, lấy cái đã và đang xảy ra làm nội dung tác phẩm Và từ những năm 1930 đến trước 1945 khuynh hướng văn học hiện thực phát triển rầm rộ, quy mô, nhiều cây bút tài năng đã xuất hiện như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Đình Lạp…và Nam Cao được đánh

Trang 12

12

giá là người có công đưa văn học hiện thực lên một trình độ mới, trình độ miêu

tả tâm lý, khái quát hiện thực

3.2.2 Đặc điểm

Những năm 1930 đến 1935, các sáng tác của Nguyễn Công Hoan (tập truyện “Kép Tư Bền”); Vũ Trọng Phụng (“Cạm bẫy người”, “Kĩ nghệ lấy Tây”,…) đã thể hiện tinh thần phê phán tính chất bất công, vô nhân đạo của xã hội đương thời, đồng thời bộc lộ sự cảm thông thương xót đối với những nạn nhân của xã hội đó

Những năm 1936 đến 1939, do tình hình xã hội có nhiều thuận lợi cho sự phát triển của văn học hiện thực, các cây bút hiện thực chủ nghĩa như Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng… đã đạt tới độ chín muồi về tài năng, liên tiếp cho ra đời những tác phẩm xuất sắc Tất cả đều tập trung phê phán tố cáo mãnh liệt những thủ đoạn áp bức bóc lột, chính sách bịp bợm, giả dối của giai cấp thống trị, đồng thời phơi bày nỗi thống khổ của nhân dân với thái độ cảm thông sâu sắc

Những năm 1940 đến 1945, cảm hứng phê phán vẫn là chủ đạo song có thêm những nét đặc sắc mới được thể hiện nổi bật nhất trong những sáng tác của Nam Cao Nếu Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố thiên về tả thực phản ánh xã hội đương thời thì Nam Cao không chỉ miêu tả mà còn phân tích lí giải những hiện tượng, những vấn đề của hiện thực đó Ngòi bút Nam Cao luôn có xu hướng phân tích xã hội qua việc phân tích tâm lý nhân vật Có thể nói, đến Nam Cao, cảm hứng phê phán đã trở thành cảm hứng phân tích phê phán Như vậy, văn học hiện thực phê phán Việt Nam trải qua ba chặng đường phát triển và đã đạt được thành tựu xuất sắc ở giai đoạn cuối Dòng văn học này thực sự đã góp phần không nhỏ vào công cuộc hiện đại hoá nền văn học dân tộc

Bức tranh xã hội lúc đó ảm đạm, nhiều bi kịch, nhiều tệ nạn xã hội, làng quê xơ xác, tiêu điều, người nông dân bị đẩy đến đường c ng để rồi liều lĩnh, biến chất, trở thành nạn nhân của xã hội Ở thành thị, các phong trào do thực dân

đề xướng như: “Âu hoá”, “Vui vẻ trẻ trung”, thi thể thao, cải cách y phục… ngày càng lộ rõ chân tướng và tạo ra nhiều nghịch cảnh Kiểu nhà văn hiện thực lúc bấy giờ đã phanh phui, bóc trần bộ mặt xã hội đó Họ làm nổi bật thực trạng

xã hội Việt Nam trước cách mạng xây dựng trên sự bóc lột của người giàu đối với người nghèo, phơi bày tất cả sự giả dối, những mâu thuẫn trớ trêu, nghịch cảnh phi đạo lí, đánh trúng vào bọn thực dân tư sản và bọn nhà giàu ở thành thị, bọn cường hào ác bá ở nông thôn, bọn quan lại ở các phủ huyện,… Từ đó, các nhà văn hiện thực phê phán kịch liệt xã hội thực dân phong kiến đương thời với những sản phẩm thối nát của nó Đồng thời thể hiện thái độ và lên tiếng bênh

Trang 13

13

vực những người nghèo khổ Hơn nữa, các nhà văn hiện thực, lớp trí thức mới vốn xuất thân từ tầng lớp trung lưu, thậm chí trong những gia đình nghèo, vất vả kiếm sống Vì thế mà họ gần gũi, thấu hiểu và luôn đứng về phía người lao động

để miêu tả qua những trang viết

Về quan niệm sáng tác, Vũ Trọng Phụng đã từng nói trong bài bút chiến với nhóm Tư lực văn đoàn: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết Tôi và những người c ng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời” Hay với Nam Cao, ông đã có những luận điểm sâu sắc trong tác phẩm “ iăng sáng” từ lời nói nhân vật Điền: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” Còn trong “Đời thừa”, qua nhân vật

Hộ, Nam Cao khẳng định thiên chức nhà văn Hộ hiểu rất rõ trách nhiệm của người cầm bút, Hộ có lương tâm nghề nghiệp nhưng vì miếng cơm manh áo mà anh phải đi ngược lại nhưng sau đó anh tự cảm thấy tủi nhục vì phải sống đời thừa Những phát ngôn, sự gửi gắm của tác giả vào mỗi nhân vật cũng chính là thứ để nêu lên quan điểm của các nhà văn hiện thực: nhà văn phải biết cầm bút

để phản ánh hiện thực đời sống, nghệ thuật phải vì đời sống của con người -

“nghệ thuật vị nhân sinh”

3.2.2.1 Vũ Trọng Phụng

Vũ Trọng Phụng được xem là “một thiên tài yểu mệnh” Chỉ ở lại với cuộc đời trong 27 năm, nhưng trong khoảng 8 năm sáng tác, ông đã để lại khối lượng tác phẩm đáng kinh ngạc và rất có giá trị Khác với những nhà văn c ng thời, Vũ Trọng Phụng không nh nhàng, êm sương như Thạch Lam, không chua xót đớn đau như Ngô Tất Tố, ông chọn cho mình một lối đi khác Không chỉ là cây tiểu thuyết đại tài, Vũ Trọng Phụng còn được mệnh danh là “ông vua phóng

sự đất Bắc”, một trong những cây bút sắc sảo của chủ nghĩa hiện thực phê phán trên văn đàn và báo chí Việt Nam

Vũ Trọng Phụng chưa từng được học qua bất kì trường lớp đào tạo viết lách nào hết, có chăng chỉ là những năm tháng ít ỏi ở bậc tiểu học giúp ông biết được cái chữ Có lẽ, tất cả những điều nhà văn viết đều được đúc kết từ cuộc đời bất công, vốn thiệt thòi của ông: cha mất sớm, m vất vả nuôi ăn học, nghèo khó, lam lũ từ nhỏ, lớn lại cật lực kiếm đồng mưu sinh và nuôi bà nội, m ,… Thậm chí đến lúc sắp mất ông vẫn bị cái nghèo ám riết không buông Chính những trải nghiệm đó đã tạo nên một Vũ Trọng Phụng thấu hiểu – sâu cay!

Vũ Trọng Phụng không dùng ngòi bút để chống lại một thành phần, một giai cấp, cũng không trực tiếp chỉ trích sự mục nát, thối rữa của xã hội Việt Nam dưới ách thống trị thực dân, mà ông mô tả sự tha hoá của con người trên toàn

Trang 14

14

diện xã hội, dưới chiều sâu, qua nhiều từng lớp, nhiều hạng người, mỗi người có một cách tha hoá khác nhau trước thế lực của dục vọng và tiền bạc Chỉ trong vòng một năm, bốn cuốn tiểu thuyết để đời lần lượt xuất hiện trên các báo, thu hút sự chú ý của công chúng: “ iông tố”, “Số đỏ”, “Vỡ đê”, “Làm đĩ”,…

Đến với “Số đỏ”, ta bắt gặp những cảnh chân thật và trần trụi nhất của thói kệch cỡm, lố lăng của thời kỳ này Tiểu thuyết tập trung đề cập và phê phán tầng lớp tiểu tư sản Hà Thành đầu thế kỉ XX Ông đã xây dựng nhân vật chính là Xuân - cái thằng “lươn l o”, ranh mưu, dựa vào nó mà đào sâu phê phán sự rởm đời của giới thượng lưu thành thị Từ những bước “lên đời” đáng kinh ngạc của một thằng lưu manh đầu đường, câu chuyện đã chuyển hướng nói về “tấn trò đời” của những diễn viên đại tài, những bậc thượng lưu, tri thức của xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc: bà Phó Đoan, cụ cố Hồng, vợ chồng Văn Minh, cô Hoàng Hôn, ông Phán mọc sừng, cô Tuyết, cậu Tú Tân, nhà mỹ thuật TYPN, ông đốc

tờ Trực Ngôn,… Không những diễn trong cuộc sống, diễn với những người thân

mà họ diễn cả với chính bản thân mình Họ nói những lời bay bổng, những chuyện cao siêu học thức dù chẳng hiểu gì, họ sống phô trương, dối gian lừa lọc… Chừng ấy con người chỉ là phần nhỏ góp mặt trong một bức tranh chân thật về cuộc sống của lớp thị dân “cách tân”, “âu hóa” lúc bấy giờ

Bên cạnh đó, Vũ Trọng Phụng đã để nhiều phóng sự nổi tiếng như “Cạm bẫy người”, “Kỹ nghệ lấy Tây”, “Cơm thầy cơm cô”, “Lục sì” góp phần tạo nên danh hiệu “Ông vua phóng sự đất Bắc” Đến với “Kỹ nghệ lấy Tây”, người đọc

sẽ bắt gặp hình ảnh phụ nữ, đàn ông đi kiếm chồng, vợ giàu Từ khi nào mà việc lấy chồng Tây, lấy vợ đầm lai như một nghề, hôn nhân lại thành việc “chia hạng người”, “đào mỏ vàng”? Có lẽ là từ lúc nghề lấy Tây thỏa mãn sự thiếu tiền của người An Nam và sự thiếu tình dục của người Tây phương trên đất thuộc địa Cái cảnh ngã giá “mua - bán” vợ trong “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) lại được diễn ra ngay xã hội này Đồng tiền mang sức mạnh vạn năng! Con người dần thay đổi theo xã hội, bị tha hóa dưới thế lực đồng tiền Dưới thế lực của đồng tiền, con người chấp nhận bán rẻ bản thân, làm nô lệ cho những dục vọng thấp hèn Họ không sống theo luân thường đạo lý, nhân nghĩa hay liêm sỉ nữa, họ đặt đồng tiền lên đầu quả tim Và dĩ nhiên trong cái thế sự đó, ái tình là một thứ xa

xỉ, yêu đương mà không có tiền quả là cái thứ tình ngu muội Tất cả đang núp bóng dưới một xã hội được cho là văn minh! Cây bút có sức sáng tạo dồi dào ấy, tác phẩm toát lên niềm căm phẫn mãnh liệt về cái xã hội thối nát ấy, con người bản lĩnh nghệ thuật già dặn ấy đã tạo nên một tiếng nói riêng đặc sắc; tiếng cười mỉa mai, đả kích hả hê; tiếng lòng căm phẫn, hằn học xã hội giả dối, vô luân Tất

Trang 15

“Nghiệp văn chương”

Trong những tác phẩm của Nam Cao, ông viết rất nhiều về những phận đời trong xã hội Trong đó tập trung vao hai đề tài chính: người nông dân nghèo

và trí thức nghèo

Người nông dân trong những trang viết của Nam Cao là tầng lớp thấp bé

và bị đối xử bất công nhất trong xã hội Họ bị cả xã hội rẻ rúng, bị đẩy vào bước đường cùng trở nên lưu manh, tha hóa Thế nhưng cho d xấu xa, tha hóa tới cỡ nào thì ẩn sâu trong họ cũng có những nét tốt đ p đáng trân trọng Họ cũng có những ước mơ đơn thuần, giản dị về mái ấm gia đình, cũng khát khao trở thành người lương thiện Có thể nói Nam Cao đã xây dựng nên những nhân vật đã trở thành hình ảnh kinh điển trong văn học Việt Nam Đó là những người nông dân

bị đẩy vào bước đường cùng trở nên bần cùng, bất hạnh như Lão Hạc, người đang bà trong “Một bữa no”; hay là tên lưu manh, nát rượu chuyên rạch mặt ăn

vạ như Chí Phèo; là người phụ nữ xấu xí tận c ng như Thị Nở,… nhưng tận sâu bên trong họ là vẻ đ p đáng được nâng niu

Đến với “Chí Phèo”, người đọc nhận thấy một cách tiếp cận vô cùng mới

mẻ và đặc biệt của một nhà văn tuổi nghề còn non trẻ Chí Phèo và Thị Nở là hai nhân vật được nhà văn xây dựng nên với những cái xấu xí tận cùng về hình thức Thế nhưng, ngòi bút nhân văn của Nam Cao đã khiến cho người đọc tiếp cận tới phần “Người” nằm sâu xa đâu đó trong phần “Con” của nhân vật Ông phản ánh hiện thực thực đến trần trụi nhưng ẩn sâu trong đó là cả một sự đồng cảm với những phận người thấp bé dưới đáy của xã hội Nhân vật Chí Phèo chính là hiện thân cho tấn bi kịch của người nông dân nghèo Chí cũng đã từng khao khát về một gia đình nhỏ có chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải, cùng nhau nuôi lợn

Trang 16

Người trí thức nghèo có lẽ là đề tài ám ảnh và trăn trở nhất của Nam Cao Ông tập trung miêu tả sự khủng hoảng tinh thần của những người tri thức đương thời như anh giáo Thứ, nhân vật Hộ, Đó có thể là bóng dáng của những nhà văn như Nam Cao, những ông giáo khổ trường tư vật lộn trong cuộc đấu tranh giữa lương tâm nghệ thuật và nhu cầu cơm áo Con người phải đứng giữa hai lựa chọn lớn của cuộc đời: Sống với đam mê, cầm bút để say sưa viết nên những trang viết chân chính hay lo toan gánh nặng cơm áo hằng ngày? Họ bị bóp ngh t giữa những suy nghĩ, dằn vặt khi lựa chọn nên dần rơi vào túng quẫn, để rồi chết dần chết mòn theo năm tháng

Nhiều tác phẩm của Nam Cao xoay quanh “cái hàng ngày”, chủ yếu liên quan đến cuộc sống riêng tư của các nhân vật, những sự kiện vặt vãnh, nhỏ nhoi

mà nhà văn gọi là “những chuyện không muốn viết” Nhưng đâu ai ngờ, những cái vặt vãnh hàng ngày lại có một sức mạnh ghê gớm Chỉ có tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng cũng đủ sức kéo Điền đang nhởn nhơ trên chín tầng mây với ánh trăng giống xuống mặt đất với biết bao cực khổ lầm than ( iăng sáng) Miếng cơm, manh áo hàng ngày c ng với những xích mích vặt vãnh, những ghen tuông vớ vẩn, những đố kị nhỏ nhen cũng dư thừa sức mạnh khống chế, giam cầm chung thân mấy anh giáo khổ trường tư trong cái ao t ngột ngạt của những kiếp Sống mòn Cả lý tưởng nhân đạo cao cả, cả hoài bão nghệ thuật chân chính đều có nguy cơ chết mòn trước sự tấn công quyết liệt, dai dẳng và tàn bạo của cái đói (Đời thừa),… Từ những chuyện vụn vặt đời thường, Nam Cao đã chạm đến những vấn đề lớn lao của con người

Trang 17

17

Khi nhìn vào cuộc sống và tình hình đất nước, Nam Cao đã xây dựng hình tượng nhân vật để thể hiện giá trị nhân đạo - nghệ thuật vị nhân sinh Nghệ thuật không nên lãng mạn rời xa thực tế mà phải luôn bám sát vào đời sống của con người Nghệ thuật sinh ra từ những chất liệu của cuộc sống và quay trở lại phục

vụ con người ,phục vụ cuộc sống Thực tế đòi hỏi người cầm bút – những người được gọi là tầng lớp trí thức phải tham gia vào đấu tranh Lên án những bất công trong xã hội, phản ánh hiện thực khổ đau của người dân để đồng cảm xót thương hơn cho số phận của họ

Nhà văn cũng quan niệm sống đã rồi hãy viết Nghĩa là nhà văn khi cầm bút để xây dựng nhân vật nào đó thì đòi hỏi phải hiểu về cuộc sống, tính cách cũng như những điều sâu xa trong tâm hồn của họ Đôi mắt của nhà văn phải nhìn mọi việc một cách đa chiều trên nhiều phương diện Nếu viết về đề tài người nông dân, hay người trí thức, ít nhất nhà văn cũng phải trải qua cuộc sống

đó hoặc hiểu rõ về tầng lớp này thì mới có thể viết lên những trang văn chân thực

Hơn nữa, Nam Cao quan niệm nghệ thuật đòi hỏi phải sáng tạo và nhà văn phải luôn nghiêm túc trong quá trình lao động sáng tạo Ông đã từng khẳng định điều này trong truyện ngắn “Đời thừa”: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay làm theo một và kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có” Mỗi nhà văn phải có trách nhiệm với những gì mình viết, khi cầm bút viết ra bất cứ điều gì nhà văn cũng phải suy xét cẩn thận và tận tâm, viết bằng cả trái tim và khối óc của mình Trong “Đời thừa” ông đã viết :“Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện” Đây là quan niệm tạo nên một phong cách vô cùng đặc biệt trong sáng tác của Nam Cao

Nhìn chung, kiểu nhà văn hiện thực (giai đoạn 1930 – 1945) sáng tác trên quan điểm: “nghệ thuật vị nhân sinh”, gắn với trào lưu văn học hiện thực, tuân thủ phương pháp sáng tác của chủ nghĩa hiện thực Họ đã tập trung vào phản ánh hiện thực xã hội và con người Đó là những nhân vật phản diện trở thành nhân vật trung tâm, lấy cảm hứng phê phán làm cảm hứng nổi bật Đó là những con người nhỏ bé, những con người dưới đáy xã hội, những thân phận bị sỉ nhục, những con người bị đồng tiền làm cho khốn đốn,… Đặc biệt, những nhà văn hiện thực đã xây dựng được nhân vật điển hình nảy sinh từ những hoàn cảnh điển hình

Ngày đăng: 10/11/2022, 10:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w