Tóm tắt: Xuất khẩu rau quả được coi là một trong những ngành hàng triển vọng của Việt Nam và đang đạt được những thành công trên một số thị trường khó tính như Nhật Bản.. Bài viết tập t
Trang 1sang thị trường Nhật Bản
Trần Kim Anh1
1 ThS., Trường Đại học Thương mại
2 Chika Motomura (2019), “Japanese Processed Vegetable
Market Update 2019”, GAIN Report Number:JA9709.
3 Kiyoko Ozawa (2015), “Fresh fruit and vegetables to
Japan - market trend and jaepa benefits”, Euromonitor
International, Fresh Foods in Japan Report, Agriculture
and Rural Areas in Japan.
4 Nguồn: https://www.trademap.org/Country_SelProduct Country _TS.aspx.
Tóm tắt: Xuất khẩu rau quả được coi là một trong những ngành hàng triển vọng của Việt Nam
và đang đạt được những thành công trên một số thị trường khó tính như Nhật Bản Bài viết tập trung phân tích tình hình xuất khẩu rau quả của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản trong thời gian qua, đặc biệt dưới tác động của đại dịch Covid-19 diễn ra trên toàn cầu; đồng thời đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp tăng cường hoạt động xuất khẩu rau quả của Việt Nam nhằm đáp ứng những yêu cầu của thị trường tiềm năng nhưng khó tính này, cũng như vượt qua được cuộc khủng hoảng kinh tế y tế Covid-19.
Từ khóa: Nhật Bản, rau quả, thị trường, xuất khẩu
1 Nhu cầu nhập khẩu rau quả của
Nhật Bản
Người Nhật hàng ngày có nhu cầu cao
trong việc sử dụng rau quả, chi phí cho nhu
cầu rau quả tăng lên đáng kể trong tổng chi
phí sinh hoạt của người dân Nhật Bản trong
những năm qua12 Việc tiêu thụ rau quả ở
Nhật Bản tăng là do chế độ ăn kiêng truyền
thống, sự gia tăng ý thức về sức khỏe quốc
gia và sự sẵn có của một loạt các loại trái
cây và rau quả Xu hướng tiêu dùng tiếp tục
phát triển do sự tăng trưởng số lượng các hộ
gia đình độc thân, dân số già và nhu cầu tăng
mạnh mẽ về thực phẩm tiện lợi Trong khi
đó, sản xuất trong nước với giá thành cao, do
chi phí lao động cao và năng suất sản xuất
thấp3 Chính vì vậy, Nhật Bản cần nhập khẩu
một lượng rau quả khá lớn để đáp ứng nhu
cầu của người tiêu dùng Trong giai đoạn
2016-2018, mồi năm Nhật Bản phải chi trả
gần một trăm tỷ USD để nhập khẩu rau quả Năm 2020, đại dịch Covid-19 đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Nhật Bản, tuy nhiên, mặt hàng rau quả vẫn giữ được tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu, ước đạt giá trị hơn 9 tỷ USD, trong đó mặt hàng hoa quả tươi và nhóm rau quả chế biến
có xu hướng tăng lên so với năm 2019
về thị trường nhập khẩu, Nhật Bản chủ
yếu nhập rau quả từ Trung Quốc, Mỹ, Thái Lan, Mexico, Hàn Quốc Nhìn chung, Trung Quốc là thị trường lớn nhất, có ưu thế cao nhất ở mặt hàng rau tươi và rau quả chế biến, chiếm hơn 1/2 tổng kim ngạch nhập khấu rau tươi và 2/5 tổng kim ngạch nhập khấu rau quả chế biến của Nhật Bản năm
2020 (Hình 1) Mỹ là nước thứ 2 với thế mạnh ở cả 3 loại sản phẩm Năm 2020, Việt Nam đứng thứ 7 trong số các quốc gia xuất khẩu rau quả chế biến sang Nhật Bản với hơn 72 triệu USD và đứng thứ 10 trong việc xuất khẩu rau tươi và trái cây tươi sang Nhật Bản, đạt gần 84 tỷ USD4
Trang 2Trần Kim Anh
Hình 1: Cơ cấu thị phần của tốp 5 quốc gia và Việt Nam xuất khẩu rau quả
sang Nhật Bản năm 2020 phân theo nhóm sản phẩm
Sản phẩm chế biến từ rau, quả,
các loại hạt và bộ phận của cây
Khác
Trái cây và vỏ có thể ăn được
Nguồn: Trademap ITC, 2020, List of supplying markets for the product imported by Japan
về chủng loại rau quả nhập khâu, đôi với
mặt hàng rau, Nhật Bản chỉ nhập khẩu rau
tươi khi trái mùa hoặc khi sản xuất trong
nước không đáp ứng đủ nhu cầu nội địa
Nhật Bản nhập khẩu nhiều loại rau từ nhiều
nước khác nhau, nhưng nguồn cung chủ yếu
là từ Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, Thái Lan,
trong đó mặt hàng hành tươi được nhập khâu
nhiều nhất với 298.783 tấn, tương đương
hơn 219 triệu USD năm 2020 (bảng 1)
Bảng 1: Kim ngạch nhập
Ngoài ra, Nhật Bản cũng nhập khẩu nhiều loại rau khác như cà rốt, củ cải, bắp cải Với mặt hàng trái cây, do người Nhật rất thích ăn chuối nên hàng năm đây là mặt hàng được nhập khẩu với số lượng lớn Năm
2020, nước này nhập tới 1.068.680 tấn chuối, đạt giá trị gần 1 tỷ USD (bảng 1) Bên cạnh đó các loại quả tươi như kiwi, bơ, cam quýt, dứa cũng rất được ưa thích ở thị trường này
khẩu một số loại rau và trái cây vào Nhật Bản năm 2020
Nguồn: Tổng hợp từ https://www.trademap.org/Country_SelProductCountry_TS.aspx
2 Thực trạng xuất khẩu rau quả Việt xuất khẩu tăng trưởng tốt trong nhóm hàng
Nam sang thị trường Nhật Bản nông, thủy sản và xuất khâu rau quả Ngoài Trong vài năm gần đây, ngành hàng rau các thị trường truyền thống như Trung Quốc, quả Việt Nam đã có bước đột phá, có tốc độ Hàn Quốc, rau quả Việt Nam đã từng bước
Trang 3khăng định chât lượng, chinh phục được
những thị trường khó tính như Mỹ, Nhật
Bản, EU, Canada, Australia Theo số liệu
của Bộ Nông nghiệp và phát triền nông thôn,
tông giá trị kim ngạch xuât khâu rau quả của Việt Nam đạt khoảng 3,26 tỷ USD năm
2020, so với năm 2019 đã giảm 0,48 tỷ USD, tương đương với mức giảm 13%
Hình 2: Mức tăng/giảm trị giá xuất khẩu của một số nhóm hàng
năm 2020 so vói năm 2019
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Xuất khẩu rau quả năm vừa qua giảm
mạnh bởi nhiều mặt hàng có giá trị xuất
khẩu lớn giảm như: thanh long - mặt hàng
chiếm thị phần cao nhất với khoảng 36%
tồng giá trị xuất khẩu, giảm gần 10%; chuối
chiếm trên 5%, giảm 13%; sầu riêng giảm
56%; vải giảm 22%; dưa hấu giảm 36%5
Điều này có thể được giải thích do dịch bệnh
Covid-19 diễn ra trên toàn cầu đã làm cho
giao thương bị đứt gãy tại một số thị trường,
việc xuất khẩu một số loại hàng hóa như
xăng dầu, giày dép, dệt may và rau quả của
Việt Nam bị giảm tốc cả về mặt giá trị và
lượng xuất khẩu (hình 2)
5 Bích Hồng, “Xuất khẩu rau quả năm 2020 giảm 13% so
với năm ngoái”, https://bnews.vn/xuat-khau-rau-qua-nam-
2020-giam-13-so-voi-nam-ngoai/l 83521 html.
Hiện nay, Trung Quốc đứng vị trí thứ nhất
về thị trường nhập khẩu rau quả của Việt
Nam, chiếm khoảng 56% thị phần theo số
liệu của Tổng cục Hải quan Tuy nhiên với tình hình dịch bệnh Covid-19, giá trị xuất khẩu rau quả giảm khoảng 25% so với năm
2019 do thị trường Trung Quốc giảm nhập khẩu mạnh Tuy vậy, xuất khẩu rau quả sang các thị trường khác vẫn tăng trưởng tốt như Hoa Kỳ tăng khoảng 11%; Thái Lan tăng trên 140%; Hàn Quốc tăng 11%; Nhật Bản tăng 5%
Trong nhiều năm gần đây, Nhật Bản là một trong những thị trường xuất khẩu rau quả lớn của Việt Nam, thường xuyên nằm trong top 5 thị trường tiêu thụ rau quả, đồng thời Việt Nam cũng là quốc gia đứng thứ 15 trong số các nước xuất khẩu rau quả vào Nhật Bản Sở dĩ Việt Nam có cơ hội xuất khẩu rau quả sang Nhật Bản là do sự khác biệt giữa các mùa vụ, khác biệt về vùng, vì nhiều loại rau củ Việt Nam cung ứng được thì Nhật Bản không tự trồng được
Trang 4Trần Kim Anh
Hình 3: Thị phần và giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Nhật Bản
giai đoạn 2015 - 2020
■■M Giá trị (triệu USD) I " Thị phần (%)
Nguồn: Tông hợp số liệu từ Tông cục Hải quan
2.1 về kim ngạch xuất khẩu
Hình 3 cho thấy, kim ngạch xuất khẩu rau
quả của Việt Nam sang Nhật Bản không
ngừng tăng lên trong giai đoạn 2015-2020
Năm 2015, tổng kim ngạch xuất khẩu rau
quả của Việt Nam sang Nhật Bản đạt khoảng
74 triệu USD và chiếm thị phần khoảng
52,36% trong tổng kim ngạch xuất khẩu vào
Nhật Bản, con số này tăng lên khoảng
127,67 triệu USD và 66,2% vào năm 2020
Theo lộ trình cắt giảm thuế quan của
VJEPA, từ 01/4/2016, Nhật Bản tiếp tục cắt
giảm thuế quan đối với một số mặt hàng rau
quả khác như tiêu, rau chân vịt, ngô, khoai tây đông lạnh Hơn nữa trong thời gian qua, những lô hàng như xoài, thanh long ruột
đỏ của Việt Nam đã lần lượt được xuất khẩu sang Nhật Bản vào giữa năm 2016 và năm
2017 Đây là lí do tại sao kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam tăng mạnh so với những năm trước và tăng kỷ lục vào năm
2017, cụ thể xuất khẩu rau quả của Việt Nam chiếm đến hơn 75% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa vào Nhật Bản với trị giá đạt hơn 127 triệu USD
Bảng 2: Giá trị rau quả nhập khẩu của Nhật Bản từ Việt Nam
Mã
2017 (triệu USD)
2018 (triệu USD)
2019 (triệu USD)
So sánh (%) 18/17 19/18
07 Rau, củ, thân cây có thê
08 Trái cây và vỏ có thê ăn
20 SP chế biến từ rau, quả,
Nguồn: Tổng họp từ https://www.trademap.org/Country_SelProductCountry_TS.aspx
Trang 52.2. Các chủng loại rau quả xuất sang
thị trường Nhật Bản
Các chủng loại rau quả của Việt Nam xuất
khẩu sang Nhật Bản ngày càng đa dạng hơn,
gần đây còn có sự gia tăng về sản lượng xuất
khẩu của một số loại rau quả Các sản phâm
xuất khẩu chủ yếu là rau tươi, rau quả đóng
hộp, sấy khô, hoặc muối, đông lạnh, rau gia
vị và nước quả cô đặc
Trong cơ cấu xuất khẩu mặt hàng rau quả,
nhóm sản phẩm chế biến từ rau, quá, hạt và
bộ phận của cây có xu hướng gia tăng mạnh,
từ hơn 41,07 triệu USD năm 2017 lên đến
hơn 64 triệu USD năm 2019, chiếm tỷ trọng
cao trong cơ cấu mặt hàng rau quả với mức
tăng trưởng cao, lần lượt là 17 và 34%
Trong khi đó, nhóm hàng rau củ thân cây có
thể ăn được lại giảm mạnh, năm 2019 đạt
mức giá trị là 45,04 triệu USD, giảm một
nửa so với năm 2017 Nhóm hàng trái cây và
vỏ có thề ăn được trong giai đoạn 2017-2019
tuy duy trì được mức trị giá cao nhưng tỷ
trọng trong cơ cấu vẫn còn thấp, chưa xứng
với tiềm năng (bảng 2)
Các mặt hàng rau quả Việt Nam xuất
khẩu sang thị trường Nhật Bản khá đa dạng,
phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Tuy
nhiên các quy định về nhập khâu rau quả của
thị trường này rất nghiêm ngặt vì họ sợ lây
lan dịch bệnh và sâu hại từ nước xuất khâu
nên là rào cản lớn hạn chế các mặt hàng xuất
khẩu của Việt Nam Tính đến nay, mới chỉ
có 4 loại quá được cấp phép nhập khẩu vào
Nhật Bản là chuối, thanh long (ruột trắng và
ruột đỏ), xoài và vải thiều do đã đáp ứng
được các yêu cầu trong Luật Kiếm dịch thực
vật của Nhật Bản Cuối năm 2015, 80 tấn
xoài tươi đầu tiên đã chính thức được xuất
khẩu sang Nhật Bản, đến cuối năm 2016, con số này tăng lên 934 tấn, chiếm 34% tong xuất khẩu xoài của Việt Nam Tuy nhiên trong năm 2017, xoài nhập khẩu từ Việt Nam chỉ chiếm 0,2% thị phần nhập khẩu xoài của Nhật Bản Sau trái xoài, đến tháng 4/2016, Nhật Bản cũng đã chính thức nhập khẩu chuối của Việt Nam Thị trường Nhật Bản có nhu cầu cao đối với mặt hàng chuối nhập khẩu, với sức tiêu thụ xấp xỉ 1 triệu tấn/năm Theo thống kê, hiện nay, Philippines đang là quốc gia đứng đầu về lượng chuối nhập khẩu của Nhật Bản, chiếm tới 85% thị phần Song chuối Việt Nam có một lợi thế, đó là vị ngọt phù họp với khấu
vị của người tiêu dùng Nhật Bản và có mức giá cạnh tranh hơn Trong năm 2020, sau khi chuyên gia Nhật Bản tiến hành trực tiếp kiểm tra hệ thống xử lý khử trùng vái thiều của Việt Nam, lô vải thiều chính vụ Bắc Giang đã lần đầu được xuất khẩu qua đường hàng không đến Nhật Bản Trong ngày mở bán đầu tiên, lô vải thiều tươi này đã được bán hết chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ Đáng chú ý, phía doanh nghiệp và người tiêu dùng Nhật Bản đánh giá rất cao về chất lượng quả vải Việt Nam Khởi đầu thành công đã mở ra cơ hội xuất khẩu rất lớn cho quả vải thiều tươi đến với thị trường khó tính này, đến nay, xuất khẩu quả vải sang Nhật Bản ước đạt 100 tấn6 Thời gian tới, bưởi, nhãn, vú sữa - những loại trái cây Việt Nam
có thế mạnh, cũng có nhiều cơ hội thâm
6 Bích Hồng, “Xuất khẩu rau quả sang thị trường “khó tính” tăng trưởng tốt”, Vietnamplus, https ://www vietnamplus.vn/xuat-khau-rau-qua-sang-thi-truong-kho- tinh-tang-truong-tot/650841 vnp.
Trang 6Trần Kim Anh
nhập vào thị trường Nhật Bản khi các thủ tục
nhập khẩu đang được nước này xem xét
Mặc dù chịu nhiều tác động tiêu cực từ
đại dịch Covid-19, Nhật Bản vẫn đẩy mạnh
nhập khẩu nhiều chủng loại trái cây, rau củ
từ Việt Nam như chuối, thanh long, vải,
khoai lang , đây cũng là những mặt hàng
được nhận định có tiềm năng xuất khấu cao
của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản Bên
cạnh rau quả tươi thì rau quả sấy khô, muối
đông lạnh, đóng hộp cũng từng bước vào thị
trường Nhật Bản với nhiều chủng loại và
cách thức chế biến Tuy nhiên, đối với
những mặt hàng này muốn xuất khẩu vào thị
trường Nhật Bản thì cần có chứng nhận vệ
sinh kiểm dịch của cơ quan có thẩm quyền
phía Việt Nam và chịu sự kiểm tra lấy mẫu
ngầu nhiên của cơ quan kiểm dịch và vệ sinh
an toàn thực phẩm của Nhật Bản, vì vậy việc
xuất khẩu cũng gặp không ít khó khăn
Tuy đã có nhiều tiến bộ trong việc đưa
sản phẩm rau quả vào thị trường Nhật Bản,
nhưng so với các quốc gia là thị trường nhập
khẩu chính của Nhật Bản như Trung Quốc,
Mỳ, Hà Lan thì chủng loại và sản lượng rau
quả xuất khẩu của Việt Nam còn thua kém
rất nhiều, mới chiếm thị phần rất nhỏ Ngoài
ra, chúng ta còn đang phải cạnh tranh với
Thái Lan, Philippines cũng như một số nước
Đông Nam Á khác về các chủng loại rau quả
phong phú của họ
2.3 Đánh giá thực trạng xuất khấu rau
quả của Việt Nam sang Nhật Bản
2.3.1 Ket quả đạt được.
Hoạt động xuất khẩu rau quả của Việt
Nam sang thị trường Nhật Bản giai đoạn
2015-2020 đã đạt được một số thành công
sau đây:
Thứ nhất, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Nhật Bản không ngừng gia tăng trong những năm qua và nhìn chung luôn ở mức cao Nhật Bản luôn nằm trong top 5 thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam Năm 2020, tuy chịu tác động của đại dịch Covid-19 nhưng tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Nhật Bản vẫn đạt mức cao 127,67 triệu USD và chiếm thị phần đến 66,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu vào Nhật Bản Trong cả giai đoạn, kim ngạch xuất khẩu năm 2017 đã có sự tăng kỷ lục so với các giai đoạn trước, vượt qua nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác như hạt điều, hạt tiêu, cao su
Thứ hai, vè chủng loại, rau quả của Việt
Nam xuất khẩu sang Nhật Bản đa dạng hơn trước Bước đầu đã xuất khẩu thêm nhiều loại trái cây tươi hơn như chuối, xoài Cát Chu, thanh long và vải thiều Điều này không chi giúp các loại trái cây Việt Nam tăng sức cạnh tranh trên trường quốc tế mà còn mở ra nhiều cơ hội xuất khấu các trái cây này sang thị trường dễ tính hơn Tuy nhiên, do các chủng loại cây trồng không đối nên các loại rau quả tươi xuất khấu thay đôi không nhiều Nhưng nhờ sự tiến bộ của công nghệ, sự phối hợp giữa các loại rau quả và hương vị trong chế biến đã tạo ra các sản phẩm mới lạ, hấp dẫn
Thứ ba, chất lượng rau quả đã được cải
thiện do việc nâng cao nhận thức của người nông dân và các doanh nghiệp trong việc đầu tư, sản xuất, chế biến, bảo quản, ứng dụng tiến bộ khoa học kỳ thuật vào các khâu trong quá trình sản xuất để đảm bảo duy trì chất lượng tươi ngon của rau quả Nhiều doanh nghiệp chế biến hàng rau quả xuất
Trang 7khẩu đã nhận được các giấy chứng nhận tiêu
chuẩn quốc tế như HACCP, ISO, BRC ,
tạo thuận lợi cho xuất khẩu rau quả của Việt
Nam sang Nhật Bản Đa số các doanh
nghiệp đều ý thức được việc phải nâng cao
chất lượng sản phẩm, vệ sinh an toàn thực
phẩm khi xuất khẩu sang thị trường khó tính
bậc nhất thế giới như Nhật Bản
Thứ tư, các doanh nghiệp Việt Nam cơ
bản đã tiếp cận được tới hệ thống các kênh
phân phối của Nhật Bản Neu như những
năm trước đây, việc xuất khẩu phải qua
trung gian như Hồng Kông, Singapore vì
chưa hiểu biết rõ về thị trường Nhật Bản, thì
hiện nay các doanh nghiệp đã có thể xuất
khẩu trực tiếp cho các nhà nhập khẩu
Thứ năm, xuất khẩu rau quả của Việt
Nam đã phát huy khá tốt các lợi thế sẵn có
trong sản xuất như điều kiện tự nhiên, nguồn
nhân công và tận dụng các ưu đãi về thuế
quan từ các hiệp định thương mại đem lại
2.3.2 Những hạn chế.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt
động xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang
Nhật Bản còn nhiều hạn chế như:
Thứ nhất, tuy kim ngạch xuất khẩu tăng
đều qua các năm nhưng vẫn chiếm một tỷ
trọng rất nhở Trong cả giai đoạn 2015-2020,
kim ngạch nhập khẩu rau quả từ Việt Nam
mới chỉ chiếm khoảng 2% so với tổng kim
ngạch nhập khẩu rau quả của Nhật Bản
(hìnhl) Đây là một con số rất khiêm tốn so
với tiềm năng và lợi thế phát triển ngành rau
quả của Việt Nam
Thứ hai, các chủng loại rau quả xuất khẩu
có đa dạng hơn nhưng xuất khẩu tươi vẫn
còn ít, đặc biệt là trái cây tươi, mới chỉ có
bốn loại được cấp phép nhập khẩu vào Nhật
Bản Trong khi đó, rau quả tươi lại được người tiêu dùng Nhật Bản ưa chuộng hơn, giá cả vừa phải, còn rau quả chế biến tốn kém chi phí mà giá lại không cạnh tranh Đây là điểm bất lợi của chúng ta so với các nước khác có khả năng cung cấp các loại rau quả tươi dồi dào, đa dạng hơn Bên cạnh đó, chất lượng rau quả xuất khẩu tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh, thương hiệu chưa được biết đến rộng rãi, đặc biệt nổi cộm là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, nên Việt Nam chưa thể khiến người tiêu dùng Nhật Bản bớt e ngại khi sử dụng sản phẩm rau quả nhập khẩu từ Việt Nam Đối với các nhà xuất khẩu, điều này cũng gây ra các tổn thất như hàng đã xuất đi nhưng bị trả lại, bị đơn vị thu mua ép giá, giảm sút uy tín
Thứ ba, giá cả rau quả xuất khẩu của Việt
Nam thường cao hơn so với các nước khác
có cùng mặt hàng rau quả xuất khẩu sang Nhật Bản như Mỹ, New Zealand hay chính trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Philippines Một số sản phẩm có cùng chất lượng nhưng giá bán lại cao hơn Giá bán cao trong khi chất lượng, mẫu mã, bao
bì, thương hiệu của Việt Nam lại chưa bằng đối thủ nên rất khó cạnh tranh Ngoài
ra, những quốc gia này hầu hết đều có thương hiệu, uy tín trên trường quốc tế Những lợi thế cạnh tranh mà Việt Nam có cũng là lợi thế cạnh tranh của các quốc gia này, thậm chí, họ còn có lợi thế hơn
Thứ tư, khả năng nắm bắt thông tin trên thị trường còn chậm, điều đó đã làm khả năng cạnh tranh rau quả của Việt Nam trên trường quốc tế thấp so với các đối thủ khác Hơn nữa, chúng ta mới chỉ chú trọng đến sản
Trang 8Trần Kim Anh
lượng xuất khẩu mà chưa quan tâm tìm hiểu
thông tin khác như về cơ cấu sản phẩm có
giá trị gia tăng cao, thời gian cung ứng, đối
thủ cạnh tranh trên thế giới , đặc biệt là ở
mức độ nông hộ, người dân hoàn toàn thiếu
thông tin thị trường
Thứ năm, tuy đã tiếp cận được hệ thống
phân phối của Nhật Bản nhưng Việt Nam
vẫn chủ yếu xuất khẩu cho các công ty
thương mại của Nhật Bản Còn việc xuất
khẩu trực tiếp cho các hệ thống bán lẻ, các
công ty chế biến còn hạn chế, các đại diện
công ty Việt Nam tại thị trường Nhật Bản
còn ít
Thứ sáu, những rào cản thương mại đang
được Nhật Bản áp dụng (thủ tục nhập khẩu,
thuế quan, các biện pháp kiểm dịch thực
vật ) cũng gây ra những ảnh hưởng cho
việc xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang
thị trường Nhật Bản Thực tế, mức thuế quan
đối với các loại rau quả nhập khẩu có giảm
đáng kể nhờ vào các hiệp định thương mại,
nhưng Nhật Bản lại tăng cường các hàng rào
kỹ thuật nên đã làm giảm đáng kể nỗ lực
xuất khẩu, cạnh tranh cho ngành rau quả của
Việt Nam
3 Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu
rau quả Việt Nam sang thị trường Nhật
Bản
3.1 Cải thiện năng lực chế biến của
các doanh nghiệp
Mặc dù năng lực cạnh tranh của Việt Nam
trong các nhóm hàng chế biến có xu hướng
giảm song đây lại là xu hướng tiêu dùng của
Nhật Bản với các yêu cầu cụ thể về rau cấp
đông, rau đóng hộp và các loại rau muối
Trong đó các loại hạt như hạt điều và hạnh
nhân, sản phẩm truyền thống từ dứa có thể là
thế mạnh cần quan tâm hơn Tuy nhiên, cần bắt kịp với xu hướng tiêu dùng của người Nhật Bản cũng như công nghệ chế biến của các nước cạnh tranh để nâng cao năng lực chế biến của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt khi việc xuất khẩu của Việt Nam nói chung và xuất khẩu hàng hóa vào Nhật Bản nói riêng vẫn còn khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19
3.2 Tuân thủ nghiêm ngặt quy định
Các doanh nghiệp xuất khẩu cần tìm hiểu
kĩ về các quy định hàng hóa của Nhật Bản
để tránh các rủi ro thương mại cũng như ảnh hưởng tới uy tín xuất khẩu của doanh nghiệp
và toàn ngành rau quả Việt Nam Như thế, việc sản xuất theo chuỗi và hình thành các vùng nguyên liệu ổn định với sự giám sát quy trình nghiêm ngặt, tăng cường truy xuất nguồn gốc từng loại rau quả là hết sức cần thiết và việc pho biến các quy chuẩn này cần
rõ ràng với người sản xuất để họ dần trở nên chuyên nghiệp và có trách nhiệm hơn Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng như các ban ngành liên quan cũng cần có sự vào cuộc mạnh mẽ hơn trong phổ biến các quy chuân hàng hóa của Nhật Bản và kiểm tra nghiêm chất lượng các sản phẩm hàng hóa này Ngoài ra, Việt Nam cũng cần đẩy mạnh việc xây dựng tiêu chuẩn Việt Nam, thương hiệu, nhãn hiệu quốc gia, phát triển
và nhân rộng việc thực hiện cấp mã số vùng sản xuất, truy xuất nguồn gốc sản phẩm Các doanh nghiệp Nhật Bản không chỉ xem kết quả xét nghiệm tồn dư về thuốc bảo vệ thực vật hoặc dư lượng kháng sinh, mà còn muốn biết cụ thể quy trình sản xuất, chế biến và đưa ra rất nhiều câu hỏi cũng như kiểm tra
Trang 9nhiều lần7 Do đó, các doanh nghiệp lần đầu
tạo quan hệ họp tác với đối tác Nhật Bản
phải kiên trì, đáp ứng được những yêu cầu
ban đầu của họ và khi đã họp tác được với
họ thì việc thương mại sẽ dề dàng hem
7 Nguyễn Trọng Khương và Trương Thị Thu Trang
(2017), “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuât khâu nông
sản của Việt Nam”, Tạp chi Nghiên cứu Lập pháp, 14: 42-
54.
3.3 Tăng cường đàm phán và xúc tiến
thương mại hàng nông sản tại Nhật Bản
Bên cạnh các hoạt động khuyến mại,
quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu
hàng hóa và tham gia các hội chợ, triên lãm
thương mại, việc thực hiện các tuần lễ văn
hoá Việt Nam - Nhật Bản cũng là cơ hội đế
các doanh nghiệp Việt Nam giới thiệu rau
quả tới người tiêu dùng và giúp các doanh
nghiệp có những thông tin thiết thực về giá
cả, mẫu mã, chất lượng sản phẩm, chiếứ
lược khuyến mãi của các đối thủ cạnh tranh
nhàm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các
doanh nghiệp tại thị trường Nhật Bản Đồng
thời, Bộ Công thương và các ban ngành liên
quan tiếp tục đàm phán và có các biện pháp
tháo gỡ các rào cản kĩ thuật và rào cản
thương mại khác
3.4 Cải thiện logistics, giảm ton thất
sau thu hoạch
Tăng cường áp dụng cơ giới hóa trong sản
xuất nông nghiệp từ sản xuất, thu hoạch, sơ
chế nông sản Bên cạnh đó cần có các
nghiên cứu các công nghệ này nhằm giảm
giá thành để có thể ứng dụng trong sản xuất
Đầu tư đồng bộ hạ tầng để giảm chi phí vận
chuyển và phát triển ngành logistics theo
chuồi cho nông sản với giá thành thấp nhằm
tăng tính cạnh tranh cho nông sản nói chung
và rau quả nói riêng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bích Hồng, “Xuất khẩu rau quả sang thị trường “khó tính” tăng trưởng tốt”,
.
https://www.vietnamplus.vn/xuat-khau-rau- qua-sang-thi-truong-kho-tinh-tang-truong- tot/650841.vnp
2 Đinh Cao Khuê, Trần Đình Thao, Nguyễn Thị Thủy (2019), “Tiềm năng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu rau quả Việt Nam sang thị trường Nhật Bản”, Tạp chỉ Khoa học nông nghiệp Việt
Nam, số 17(12), tr 1014-1022.
Nguyễn Thị cẩm Thủy và Phan Thị Diệu Linh (2018), “Tăng cường xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản”, Tạp chí Khoa
học và Đào tạo Ngân hàng, số 196, tr 57-69.
4 Nguyễn Trọng Khương và Trương Thị Thu Trang (2017), “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản của Việt Nam”,
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14, tr 42-54
5 Tổng cục Hải quan, Xuất khẩu hàng hóa sang một số nước/vùng lãnh thổ chia theo mặt hàng chủ yếu năm 2015, 2016, 2017, 2018,
2019, 2020.
6 Chika Motomura, “Japanese Processed Vegetable Market Update 2019”, GAIN Report Number: JA9709, 2019
7 Kiyoko Ozawa, “Fresh fruit and vegetables to Japan - market trend and jaepa benefits”, Euromonitor International, Fresh
Foods in Japan Report, Agriculture and Rural Areas in Japan, 2015.
8 Trademap ITC (2020), List of supplying markets for the product imported by Japan.