1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức, chia sẻ tri thức và đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp việt nam mô hình lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu

6 18 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 681,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên cơ sở lý thuyết và học thuyết nghiên cứu, bài viết xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức, chia sẻ tri thức và đổi mới sáng tạo trong các

Trang 1

MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA Tổ CHỨC,

- MÔ HÌNH LÝ THUYẾT

VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN cứu

• PHẠM THỊ THU THỦY

TÓM TẮT:

Đổi mới sáng tạo (innovation) được coi là trung tâm của năng lực cạnh tranh dài hạn của tổ chức Học thuyết về tri thức tổ chức và học hỏi tổ chức có ảnh hưởng quan trọng đến đổi mới sáng tạo của

tổ chức Dựa trên cơ sở lý thuyết và học thuyết nghiên cứu, bài viết xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức, chia sẻ tri thức và đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp Việt Nam

Từ khóa: đổi mới sáng tạo, văn hóa tổ chức, chia sẻ tri thức, doanh nghiệp Việt Nam

1 Đặt vấn đề

Cạnh tranh đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu

cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và

công nghệ làm cho đổi mới sáng tạo (ĐMST) ngày

càng trở nên cần thiết Theo nhiều học giả ĐMST

là cách thức quan trọng, thậm chí là duy nhât, để

tạo ra và duy trì năng lực cạnh tranh dài hạn của

doanh nghiệp (Drucker, 1995; Porter, 1996; Lei et

al., 1999; Chandy & Tellis, 1998)

Tại Việt Nam, theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế

giới (WIPO, 2020), chỉ số sáng tạo toàn cầu GII của

Việt Nam năm 2020 tiếp tục duy trì thứ hạng cao

đứng thứ 42 trên 131 quốc gia/nền kinh tế, tiếp tục

dẫn đầu trong nhóm các quốc gia có cùng mức thu

nhập trung bình tháp, đứng thứ 3 ở Đông Nam Á Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được, ĐMST của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều vấn đề tồn tại Theo số liệu khảo sát của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), năm

2016 chỉ có khoảng 20-30% doanh nghiệp được khảo sát là có những chính sách liên quan tới việc phát triển đổi mới sáng tạo

Cụ thể, 72% doanh nghiệp khảo sát chưa có chính sách nguồn nhân lực cho đổi mới sáng tạo; 78% chưa có chính sách đầu tư tài chính cho đổi mới sáng tạo; gần 80% chưa có chính sách hợp tác

và phát triển đối tác phục vụ đổi mới sáng tạo Năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam vẫn đang

298 SỐ 15- Tháng 6/2021

Trang 2

QUẢN TRỊ - QUẢN LÝ

còn một khoảng cách tương đối xa để tiệm cận với

các quốc gia đi đầu về đổi mới sáng tạo (Bộ

KN&CN, 2019) Bởi vậy, việc xác định các yếu tô

chính giúp thúc đẩy ĐMST cho các doanh nghiệp

Việt Nam hiện nay đang là vấn đề cấp bách

Văn hóa tổ chức và chia sẻ tri thức là một trong

những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến

ĐMST của tổ chức (Barczak et al., 2010;

Kucharska và Cửu Long, 2016) Mặc dù chủ đề

nghiên cứu về văn hóa tổ chức, chia sẻ tri thức và

ĐMST đã được nhiều học giả trên thê giới nghiên

cứu và công bô, nhưng tài liệu nghiên cứu về mối

quan hệ này vẫn còn hạn chế (Barczak và cộng sự,

2010; Kucharska và cửu Long, 2016) Hơn nữa,

Việt Nam là một quốc gia có bôi cảnh khác so với

ọác nước trên thế giới về vãn hóa, kinh tế và mức

độ phát triển Do vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ

giữa văn hóa tổ chức, chia sẻ tri thức và ĐMST

trong các doanh nghiệp tại Việt Nam có thể khác

biệt so với các nước khác

Nghiên cứu này nhằm lấp khoảng trống của các

nghiên cứu trước bằng cách đánh giá tác động của

văn hóa tổ chức, chia sẻ tri thức đến ĐMST trong

các doanh nghiệp tại Việt Nam

2 Cơ sở lý thuyết

2.1 Văn hóa tổ chức

Văn hóa của một tổ chức ảnh hưởng đến những

khía cạnh khác nhau của hành vi tổ chức và thái độ

của nhân viên Văn hóa tổ chức được xác định như

là yếu tố then chốt cho quản lý nguồn nhân lực và

lợi thế cạnh tranh của tổ chức Văn hóa tổ chức

được đánh giá theo khung các giá trị cạnh tranh

(CVF) được phát triển bởi Quinn & Rohrbaugh

(1981, 1983) Vì khung này có giá trị thực nghiệm

và được chấp nhận để xác định các loại văn hóa

chính trong một tổ chức Dựa trên khung lý thuyết

CVF, Cameron & Quinn (2011) đã phát triển công

cụ đánh giá văn hóa của một tổ chức gồm có 4 loại

hình: văn hóa gia đình, văn hóa phân cấp, văn hóa

thị trường và văn hóa sáng tạo

2.2 Chùi sẻ tri thức

Chia sẻ tri thức được định nghĩa là các hoạt động

phổ biến và chuyển giao kiến thức từ người, hoặc

nhóm tổ chức này sang người hoặc nhóm tổ chức

khác (Lee, 2001).Dawson (2001) cho thấy mục tiêu

của một tổ chức trong việc chia sẻ kiến thức là chuyển đổi kiến thức của nhân viên về tài sản và nguồn lực của tổ chức

Van den Hooff và De Ridder (2004) và De Vries, Van den Hoff và De Ridder, (2006) nhận thấy các hoạt động chia sẻ tri thức có thể được phân loại thành 2 quá trình: quyên góp tri thức và thu thập tri thức Quyên góp tri thức có thể được

mô tả với tư cách là một cá nhân sẵn sàng chia sẻ vốn tri thức và bí quyết của mình với người khác Mặt khác, thu thập tri thức có thể được mô tả như một người sẩn sàng tham khảo tri thức, áp dụng và chấp nhận vốn tri thức và bí quyết mới từ đồng nghiệp trong một tổ chức (Lin, 2007; De Vries và cộng sự, 2006)

2.3 Đổi mới sáng tạo

Lundvall (1992) định nghĩa ĐMST là một quá trình liên tục từ bỏ, tìm kiếm và khám phá để tạo ra các sản phẩm mới, các kỹ thuật mới, các hình thức

tổ chức mới và thị trường mới Theo Dibrell et al (2008), các ĐMST khác nhau về mức độ phức tạp

và có thể bao gồm cả những thay đổi nhỏ đối với các sản phẩm, dịch vụ, quy trình hiện có cho đến các sản phẩm, dịch vụ, quy trình hoàn toàn mới mà

có thuộc tính hoàn toàn mới hoặc tính năng hoạt động cực kỳ vượt trội

Theo OECD (2005) ĐMST là việc thực thi một sản phẩm (hàng hóa/dịch vụ), một quy trình mới hoặc được cải tiến đáng kể, một phương pháp marketing mới, hay một biện pháp mới mang tính

tố chức trong thực tiễn hoạt động, trong tổ chức công việc hay trong quan hệ với bên ngoài (OECD, 2005)

ĐMST có thể được phân ra nhiều loại khác nhau, nghiên cứu này tập trung vào khía cạnh kết quả của ĐMST, bao gồm ĐMST sản phẩm và ĐMST quy trình và vận dụng định nghĩa về ĐMST

do Tổ chức Hợp tác và Phát triển (OECD) đề xuất ở cấp độ doanh nghiệp

ĐMST sản phẩm (product innovation) là việc phát minh ra sản phẩm mới hoặc sản phẩm có những cải tiến đáng kể về tính năng hoạt động hoặc mục đích sử dụng như cải tiến về tiêu chuẩn kỹ thuật, linh kiện, vật liệu, phần mềm, sự thân thiện với môi trường và người sử dụng

số 15 - Tháng Ó/2Ũ21 299

Trang 3

ĐMST quy trình (process innovation) bao gồm

những thay đổi căn bản trong cách thức sản xuất,

máy móc thiết bị hoặc phần mềm Đổi mới quy

trình có thể được tiến hành nhằm cắt giảm chi phí

sản xuất hoặc phân phối, nâng cao chất lượng,

hoặc để tạo ra và/hoặc cung ứng sản phẩm mới,

hoặc cải tiến

về lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu ĐMST

trên cơ sở tổng quan hệ thống các bài báo nghiên

cứu về ĐMST đã công bô' từ những năm 1980

Crossan and Apaydin (2010) tổng hợp các lý

thuyết đã được các nhà nghiên cứu sử dụng trong

nghiên cứu như: lý thuyết học tập, lý thuyết quản

trị tri thức, lý thuyết về mạng lưới, lý thuyết thể

chế, lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực và lý

thuyết thích ứng Nghiên cứu này dựa trên lý

thuyết quản trị dựa trên tri thức

3 Lý thuyết dựa trên tri thức (KBV)

Quan điểm dựa trên tri thức về phương pháp

tiếp cận tổ chức coi các công ty là cơ quan tạo ra,

tích hợp và phân phối kiên thức đê tạo ra các giá

trị vượt trội (Narasimha 2000) Khả năng tạo ra

giá trị không dựa nhiều vào vật chất hoặc tài

chính các nguồn lực như một tập hợp các khả năng

dựa trên tri thức vô hình Ví dụ văn hóa tổ chức

và học tập tổ chức có thể là nguồn cơ bản của

năng lực cốt lõi và lợi thế cạnh tranh bền vững

(Barney, 1991)

Môi quan hệ giữa KBV và ĐMST là rất quan

trọng đô'i với tổ chức, bởi theo lý thuyết này, văn

hóa tổ chức với tư cách là tài sản vô hình được

thực hiện hiệu quả ở các câp độ khác nhau của tổ

chức, dẫn đến một số các khả năng và năng lực

độc đáo, từ đó dẫn đến hiệu suất vượt trội thông

qua đổi mới (Leal-Rodríguez và cộng sự, 2013)

4 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu

4.1 Mô hĩnh nghiên cứu về mối quan hệ giữa

văn hóa tổ chức, chia sè tri thức, đổi mới và sáng

tạo trong các doanh nghiệp Việt Nam (Hình 1)

4.2 Các giả thuyết nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu lý thuyết về các mối

quan hệ giữa văn hóa tổ chức, chia sẻ tri thức và

ĐMST, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

được hình như sau:

Hình ỉ: Mô hình nghiên cứu

4.2.1 Văn hóa tổ chức tác động đến ĐMST sản phẩm và ĐMST quy trình trong các doanh nghiệp Việt Nam

Dựa trên khung lý thuyết CVF, Cameron & Quinn (2007) đã phát triển công cụ đánh giá văn hóa của một công ty gồm có 4 khía cạnh: tính tập thể, tính sáng tạo, tính phân cấp và tính thị trường

Văn hóa gia đình

Đặc điểm của văn hóa gia đình là làm việc nhóm, tham gia các chương trình cũng như sự hòa thuận và hợp tác của nhân viên Đó là nơi thân thiện để làm việc, nơi con người sẵn sàng chia sẻ với nhau mọi thứ Đặc điểm văn hóa này ở các doanh nghiệp Việt Nam có thể thấy qua sự quan tâm của lãnh đạo đối với nhân viên và cả gia đình nhân viên Một sô nghiên cứu thực nghiệm đã quan sát thấy mối quan hệ tích cực giữa văn hóa gia đình tới chia sẻ tri thức và đổi mới và sáng tạo trong doanh nghiệp ở các nước đang phát triển (Naqshbandi và cộng sự, 2015; Zhang và cộng sự, 2008) về vấn đề này làm việc theo nhóm, cộng tác và giao tiếp nội bộ của nhân viên dường như thuận lợi cho sự đổi mới (Bủschgens và cộng sự, 2013; Hogan & Coote, 2014) Vì vậy, giả thuyết của nghiên cứu như sau:

Hla: Văn hóa gia đình có tác động tích cực đến ĐMST sản phẩm

Hlb: Văn hóa gia đình có tác động ý nghĩa đến ĐMST quy trình

Văn hóa sáng tạo

Sự sáng tạo là khả năng thích ứng nhanh và linh hoạt Đặc tính của loại vàn hóa này là tạo ra những sản phẩm, dịch vụ mới và thích nghi nhanh với

300 SỐ 15-Tháng Ó/2021

Trang 4

QUẢN TRỊ-QUẢN LÝ

những cơ hội mới Nhân viên của tổ chức phải phát

triển ý tưởng mới với sự sáng tạo và cố gắng có

những trải nghiệm mới Có sự đồng thuận nhất định

về tác động tích cực mà nền văn hóa sáng tạo đóng

góp trong việc thực hiện đổi mới, cả ở các nước

phát triển và các nước đang phát triển (Tseng,

2010; Yesil & Kaya, 2012) Do đó, giả thuyết thứ

hai trong nghiên cứu này là:

HIc: Văn hóa sáng tạo có tác động tích cực đến

ĐMST sản phẩm

Hld: Văn hóa sáng tạo có tác động tích cực đến

ĐMST quỵ trình

Văn hóa phân cấp

Văn hóa phân câp chú trọng đến những quy

định, thủ tục và những chính sách đề ra của tổ chức

đó Sự thành công của loại văn hóa này được xác

định trong sự phân công chặt chẽ và chi phí bỏ ra là

thàp Các nhà lãnh đạo được xem như những điều

phôi viên và chú trọng đến năng suất Các kết quả

thực nghiệm của hầu hết các nghiên cứu được phân

tích cho thây tác động tiêu cực của văn hóa phân

cấp về đổi mới và chia sẻ tri thức cả ở các nước phát

triển và đang phát triển (Naqshbandi và cộng sự,

2015; Yesil & Kaya, 2012)

Tuy nhiên, loại hình văn hóa này góp phần duy

trì các quy trình nhất quán, tiêu chuẩn hóa và ổn

định trong tổ chức Do đó, có thể thích hợp cho việc

thúc đẩy các chiến lược đổi mới dựa trên bắt chước

và hấp thụ công nghệ, đặc biệt là ở các công ty nhỏ

hơn và ở các nước đang phát triển (Bủschgens và

cộng sự, 2013; Naranjo - Valencia, Jimenez -

Jimenez, & Sanz - Valle, 2011) Theo cách này,

Zhang et al (2008) cung câp bằng chứng thực

nghiệm về tác động tích cực của các nền văn hóa

cứng nhắc đôi với sự đổi mới ở các nước đang phát

triển Vì vậy, giả thuyết thứ ba của nghiên cứu này

nhưsau:

Hle: văn hóa phân cấp có tác động tích cực đến

ĐMSTsản phẩm

Hìf: văn hóa phần cấp có tác động tích cực đến

ĐMST quy trình

Văn hóa thị trường

Văn hóa này hướng tới môi trường bên ngoài

thay vì các vấn đề nội bộ, tập trung vào các giao

dịch với đối tác bên ngoài như nhà cung câp, khách

hàng, nhà thầu, công đoàn Đặc tính cốt lõi của loại văn hóa này là phải có mục tiêu rõ ràng và luôn nhấn mạnh tính cạnh tranh trong công việc Kinh nghiệm kết quả đôi với các nước phát triển cho thấy ảnh hưởng tích cực của văn hóa thị trường đôi với sự đổi mới Do đó, giả thuyết sô' 4 của nghiên cứu này như sau:

Hlg: Văn hóa thị trường có tác động tích cực đến ĐMST sản phẩm

Hỉh: Văn hóa thị trường có tác động tích cực đến ĐMST quy trình

4.2.2 Văn hóa lổ chức tác động đến chia sẻ tri thức trong các doanh nghiệp Việt Nam

Sự thành công của quản trị tri thức phụ thuộc vào cách một công ty có thể quản trị nhân viên của mình một cách hiệu quả Do đó, quản trị tri thức đòi hỏi phải thay đổi văn hóa tổ chức (Greengard, 1998a) Karlsen và Gottschalk (2004)

đề xuât văn hóa định hình các giả định về kiến thức nào đáng để trao đổi và xác định môi quan hệ giữa kiến thức cá nhân và tổ chức Họ cũng đề xuất, văn hóa tạo ra một bôi cảnh cho sự tương tác

xã hội, quyết định cách thức chia sẻ kiến thức để định hình quá trình mà kiến thức được tạo ra, hợp thức hóa và phân phối trong tổ chức Trong nhiều nghiên cứu, văn hóa tổ chức được xem như một người tạo ra các quy trình quản lý tri thức như chuyển giao kiến thức (Goh, 2002) và chia sẻ kiến thức (Heng, 2005) Từ mô tả ở trên, nhà nghiên cứu đã đề xuất giả thuyết sau:

H2a: Văn hóa gia đình tác động tích cực đến chia

sẻ tri thức trong các doanh nghiệp Việt Nam H2b: Văn hóa sáng tạo tác động tích cực đến chia sẻ tri thức trong các doanh nghiệp Việt Nam H2c: Văn hóa phân cấp tác động tích cực đến chia sẻ trì thức trong các doanh nghiệp Việt Nam H2d: Văn hóa thị trường tác động tích cực đến chia sẻ tri thức trong các doanh nghiệp Việt Nam 4.2.3 Chia sẻ tri thức tác động đến ĐMST sản phẩm và ĐMST quy trình trong các doanh nghiệp Việt Nam

Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh, các hoạt động chia sẻ kiến thức có thể giúp năng lực đổi mới của tổ chức trong việc giải quyết vân đề và phản ứng nhanh hơn với thông tin trên thị trường

SỐ 15 - Tháng 6/2021 301

Trang 5

Theo Liao và cộng sự (2007), với khả năng hấp thụ

đầy đủ năng lực của nhân viên, chia sẻ kiến thức có

mối quan hệ tích cực trực tiếp với doanh nghiệp khả

năng đổi mới Jantunen (2005) kết luận chia sẻ kiến

thức tốt hơn dẫn đến khả năng đổi mới công ty vượt

trội Nghiên cứu gần đây về khả năng đổi mới trong

công nghệ thông tin - truyền thông Croatia, các

công ty của Podrug et al (2017) cho thấy chia sẻ

kiến thức ảnh hưởng mạnh mẽ đến năng lực đổi

mới của doanh nghiệp Dựa trên lý thuyết và kết

quả thực nghiệm được phân tích, giả thuyết thứ 5

được đưa ra như sau:

H3a: chia sẻ tri thức có tác động tích cực đến

ĐMST sản phẩm

H3b: chia sẻ tri thức có tác động tích cực đến

ĐMST quy trình

4.2.4 Văn hóa tổ chức, chia sẻ tri thức và ĐMST

trong các doanh nghiệp Việt Nam

Một nền văn hóa thích ứng mạnh mẽ để khuyên

khích các thành viên trong một tổ chức cùng học hỏi

và hợp tác là cần thiết Hu et al (2009) cho thây,

nếu các công ty mong muốn đạt được hiệu suất đổi

mới dịch vụ cao, trước tiên họ cần phát triển chia sẻ

tri thức với văn hóa nhóm tốt hơn Trịnh và cộng sự

(2010) đề nghị quản lý kiến thức hoàn toàn làm

trung gian tác động của văn hóa tổ chức về hiệu quả

tổ chức Dựa trên nghiên cứu của Cao và Long

(2009), kết quả cho thây văn hóa tổ chức có tác động

gián tiếp tích cực đến đổi mới bằng cách ảnh hưởng

đến việc chia sẻ kiến thức Theo Chang et al

(2017), trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức, chia sẻ tri thức và đổi mới khả năng trong ngành công nghiệp ô tô của Đài Loan, những phát hiện thực nghiệm cho thấy chia sẻ tri thức đóng vai trò trung gian trong đổi mới của vàn hóa tổ chức, mối quan hệ năng lực, trong khi văn hóa tổ chức có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng đổi mới Dựa trên

lý thuyết và kết quả thực nghiệm được phân tích, giả thuyết sau được đưa ra:

H4: Vai trò trung gian của chia sẻ tri thức trong mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức và đổi mới và sáng tạo

4 Kết luận

ĐMST là trọng tâm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trong điều kiện môi trường kinh doanh luôn biến đổi như hiện nay, ĐMST được coi

là một nhân tó’ quan trọng trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh và có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển lâu dài của công ty (Ancona & Caldwell, 1987) Văn hóa tổ chức và chia sẻ tri thức là một trong những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến ĐMST của tổ chức (Barczak

et al., 2010; Kucharska và cửu Long, 2016) Bài viết đã tổng kết cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của văn hóa tổ chức và chia sẻ tri thức đến ĐMST sản phẩm và ĐMST quy trình Dựa trên mô hình lý thuyết và thang đo các biến dự kiến, một nghiên cứu thực nghiệm sẽ được tiến hành nhằm phân tích tác động văn hóa tổ chức, chia sẻ tri thức đến đổi mới sáng tạoB

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Cameron, Quinn et al (2007) Competing Values Leadership: Creating Value in Organizations, New Horizons in

Management. UK: Edward Elgar Publishing

2 Chang, w., Liao, s., & Wu, T (2017) Relationships among organizational culture, knowledge sharing, and innovation capability: A case of the automobile industry in Taiwan Knowledge Management Research & Practice,

15(3), 471-490

3 Liao S.H., Fei, w.c and Chen, c.c (2007) Knowledge sharing, absorptive capacity, and innovation capability: an empirical study of Taiwans knowledge-intensive industries Journal of Information Science 33(3),

340-359

4 Lin H.F (2007) Knowledge sharing and firm innovation capability: an empirical study International Journal of

Manpower, 28(3/4), 315-332

302 So 15-Tháng Ó/2Ũ21

Trang 6

QUẢN TRỊ - QUẢN LÝ

5 Tsai, C.T., Huang, K.L and Kao, C.F (2001) The relationships among organizational factors, creativity of

organizational members and organizational innovation Journal of Management, 18(4), 527-566.

6 Wang, z and Wang, N (2012) Knowledge sharing, innovation and firm performance Expert Systems with

Applications, 39(10), 8899-8908

Ngày nhận bài: 6/5/2021

Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 20/5/2021

Ngày chấp nhận đăng bài: 8/6/2021

Thông tin tác giả:

PHẠM THỊ THU THỦY

Trường Đại học Lao động - Xã hội

THE RELATIONSHIP AMONG ORGANIZATIONAL CULTURE,

KNOWLEDGE SHARING AND INNOVATION

IN VIETNAMESE ENTERPRISES

- RESEARCH MODEL AND RESEARCH HYPOTHESIS

• PHAM THI THU THU Y

University of Labour and Social Affairs

ABSTRACT:

Innovation is seen as the key factor for ensuring long-term competitiveness of an organization Theories about organizational knowledge and organizational learning have great impacts on organizational innovation Based on theoretical basis, this study proposes a research model and a research hypothesis about the relationship among organizational culture, knowledge sharing and innovation in Vietnamese enterprises

Keywords: innovation, organizational culture, knowledge sharing, Vietnamese enterprises.

SỐ 15- Tháng 6/2021 303

Ngày đăng: 10/11/2022, 08:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w