1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BTL Quản lý nguồn nhân lực xã hội

28 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam
Tác giả Nhóm 2
Người hướng dẫn Bùi Thị Kim Thoa
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Quản lý nguồn nhân lực xã hội
Thể loại Báo cáo nhóm học phần
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 276,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI BÀI THẢO LUẬN NHÓM HỌC PHẦN QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC XÃ HỘI ĐỀ TÀI Nghiên cứu chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam Nhóm thực hiện Nhóm.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

Trang 2

M c l c ụ ụ

Lời mở đầu 3

Phần I – Những vấn đề cơ bản về chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam 5

1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.2 Vai trò của phát triển giáp dục nghề nghiệp 6

1.3 Nội dung của chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp 6

Phần II – Thực trạng chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam 8

2.1 Khái quát thực trạng giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam 8

2.2 Phân tích chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp 10

2.3 Những kết quả đạt được khi thực hiện chính sách 12

2.4 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đối với chính sách phát triển giáo dục và nghề nghiệp của Việt Nam 14

Phần III – Định hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam 18

3.1 Định hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam trong giai đoạn 2022- 2030 18

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam 19

Kết luận 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 3

Lời mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh chuyển đổi nền kinh tế, xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, Việt Nam sẽphải thực hiện “mở cửa thị trường” cho hàng hóa, dịch vụ và đầu tư nước ngoài, trong đó có thịtrường lao động (TTLĐ) Theo đó, việc đẩy mạnh đào tạo nghề nghiệp theo nhu cầu phát triểncủa xã hội là nhiệm vụ quan trọng

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, sự vào cuộc mạnh

mẽ của các bộ, ngành, địa phương và nỗ lực của toàn ngành, công tác giáo dục nghề nghiệp(GDNN) bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng Nhận thức của xã hội, người dân,doanh nghiệp về GDNN đã có những chuyển biến tích cực; số lượng người tham gia vào GDNNngày càng tăng; tỷ lệ người học sau tốt nghiệp có việc làm cao Hệ thống văn bản quy phạm phápluật về GDNN từng bước được hoàn thiện; mạng lưới cơ sở GDNN phát triển rộng khắp, đa dạng

về loại hình và trình độ đào tạo; xuất hiện ngày càng nhiều mô hình đào tạo chất lượng cao, đàotạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, góp phần quan trọng vào nâng cao chất lượng nguồn nhânlực, thực hiện thành công các nhiệm vụ của ngành và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Tuy nhiên, phát triển giáo dục hiện nay vẫn còn những hạn chế, tồn tại cần khắc phục Bên cạnh

đó, trước yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực của thị trường lao động dưới tácđộng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế dịch chuyển nhân lực trên thị trườnglao động quốc tế, GDNN cần tiếp tục có những chính sách đẩy mạnh việc đổi mới, nâng cao chấtlượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực của thị trường lao động

Xuất phát từ thực trạng áp dụng chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp cũng như nhu cầu,tầm quan trọng của vấn đề này trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực qua đào tạo nghề,nhóm đã quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp của ViệtNam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam

đối với chính sách phát triển giáo dục và nghề nghiệp của Việt Nam

Trang 4

 Định hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triểngiáo dục nghề nghiệp của Việt Nam

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu

nghề nghiệp tại Việt Nam

Nam giai đoạn 20 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

ngành, Internet, …

Trang 5

Phần I – Những vấn đề cơ bản về chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp

của Việt Nam1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm chính sách

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, chính sách là những chuâh tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó (theo

Từ điển bách khoa Việt Nam, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2007)

1.1.2 Khái niệm giáo dục nghề nghiệp

Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên

Các trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp được quy định rõ ràng, chi tiết tại Điều 35 – Luật giáo dục năm 2019 như sau:

“Giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người học, đáp ứng được nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sảnxuất, kinh doanh và dịch vụ.”

1.2 Vai trò của phát triển giáp dục nghề nghiệp

năng lực thực hiện được các công việc đơn giản của một nghề Đào tạo trình độ trung cấp

để cho người học có năng lực thực hiện được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề, có khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào công việc có thể làm việc độc lập hoặc làm việc nhóm Đạo tạo trình độ cao đẳng để cho người học có năng lực thực hiện được các công việc như của trung cấp và có khả năng sáng tạo, hướng dẫn, giám sát người khác trong thực hiện công việc Do đó phát triển giáo dục nghề nghiệp có

Trang 6

vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội ngày nay Vai trò của phát triển giáo dục nghề nghiệp được thể hiện cụ thể như sau:

lượng nguồn nhân lực về cả quy mô, cơ cấu và chất lượng đào tạo

đào tạo lại, đào tạo tại doanh nghiệp để phù hợp với những yêu cầu của doanh nghiệp nhằm duy trì việc làm bền vững cho người lao động và nhu cầu sử dụng nhân lực của người sử dụng lao động

nghề nghiệp góp phần từng bước đạt chuẩn khu vực và quốc tế để đáp ứng nhu cầu nhân lực trong nước và hội nhập với thị trường lao động khu vực và thế giới

nghiệp, góp phần xóa đói giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội

1.3 Nội dung của chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp

Theo Điều 6 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, chính sách của Nhà nước về phát triển giáo dục nghề nghiệp quy định:

1 Phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt, đa dạng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, liên thông giữa các trình độ giáo dục nghề nghiệp và liên thông với các trình độ đào tạo khác

2 Đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp được ưu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, phát triển nhân lực Ngân sách cho giáo dục nghề nghiệp được ưu tiên trong tổng chi ngân sách nhà nước dành cho giáo dục, đào tạo; được phân bổ theo nguyên tắc công khai, minh bạch, kịp thời

3 Đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo quy hoạch; tập trung đầu tư hình thành một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp trọng điểm chất lượng cao đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, nhu cầu học tập của người lao động và từng bước phổ cập nghề cho thanh niên

Trang 7

4 Nhà nước có chính sách phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông vào giáo dục nghề nghiệp phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội.

5 Ưu tiên đầu tư đồng bộ cho đào tạo nhân lực thuộc các ngành, nghề trọng điểm quốc gia, các ngành, nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực, quốc tế; chú trọng phát triển giáo dục nghề nghiệp ở các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biêngiới, hải đảo, vùng ven biển; đầu tư đào tạo các nghề thị trường lao động có nhu cầu nhưng khó thực hiện xã hội hóa

6 Nhà nước thực hiện cơ chế đấu thầu, đặt hàng đào tạo đối với những ngành, nghề đặc thù; những ngành, nghề thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn; những ngành, nghề thị trường lao động có nhu cầu nhưng khó thực hiện xã hội hóa Các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp không phân biệt loại hình đều được tham gia cơ chế đấu thầu, đặt hàng quy định tại khoản này

7 Hỗ trợ các đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, quân nhân xuất ngũ, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật, trẻ em mồ côikhông nơi nương tựa, ngư dân đánh bắt xa bờ, lao động nông thôn là người trực tiếp lao động trong

các hộ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất canh tác và các đối tượng chính sách xã hội khác nhằm tạo cơ hội cho họ được học tập để tìm việc làm, tự tạo việc làm, lập thân, lập nghiệp; thực hiện bình đẳng giới trong giáo dục nghề nghiệp

8 Nhà nước tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

Trang 8

Phần II – Thực trạng chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp

của Việt Nam2.1 Khái quát thực trạng giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam

2.1.1 Quy mô, cơ sở đào tạo giáo dục nghề nghiệp

Nhờ sự nỗ lực và tích cực trong đổi mới nên các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục nghềnghiệp như: Chương trình đào tạo, nhà giáo, cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo đã được cải thiệnđáng kể, từng bước chuẩn hóa, hiện đại hóa Đã hình thành mạng lưới các cơ sở đào tạo nghềnghiệp rộng khắp cả nước, đa dạng về loại hình và ngành nghề đào tạo, mô hình hoạt động.Những cơ sở giáo dục nghề nghiệp không đáp ứng các điều kiện theo quy định hoặc hoạt độngkhông hiệu quả sẽ được sắp xếp lại theo hương giải thể hoặc sáp nhập

Về cơ cấu phân bố, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tập trung nhiều nhất ở vùng đồng bằng SôngHồng và vùng núi Bắc Trung bộ và Duyên hải miền trung Các vùng Tây Nguyên và Trung dumiền núi phía Bắc là những vùng có ít các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, chủ yếu là các cơ sở giáodục nghề nghiệp phục vụ cho đào nghề ngắn hạn, còn các trường cao đẳng và trung cấp có sốlượng rất ít

Tính đến ngày 6/2019, thông qua công tác quy hoạch, sắp xếp lại, cả nước có 1917 cơ sở giáodục nghề nghiệp, trong đó: 400 trường cao đẳng, 492 trường trung cấp, 1025 trung tâm giáo dụcnghề nghiệp, giảm 37 cơ sở so với năm 2018 Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều đã

có trường trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng nghề; đã quy hoạch mạng lướitrường chất lượng cao và các nghề trọng điểm quốc gia, khu vực, quốc tế theo từng cơ sở giáodục nghề nghiệp, từng vùng, từng địa phương

2.1.2 Công tác đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý

Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được xác định là nhân tố quyết định trong việc đổimới giáo dục hiện nay Với tinh thần đó, Quyết định số 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủphê duyệt “Chương trình mục tiêu Giáo dục nghề nghiệp - Việc làm và An toàn lao động giaiđoạn 2016-2020” đã đề ra mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý giáo

Trang 9

dục nghề nghiệp, nhằm hình thành đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp có tính chuyênnghiệp, hiệu quả.

Nguồn lực đảm bảo thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa chuyên môn, nghiệp vụ chođội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nhiệp được chú trọng ưu tiên, trong đó đặc biệt ưu tiên bố trínguồn lực để thực hiện chuẩn hóa về nghiệp vụ sư phạm và kỹ năng nghề cho đội ngũ nhà giáogiảng dạy các ngành, nghề trọng điểm trong nước và nước ngoài Trong những năm qua đã tổchức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và kỹ năng nghề nâng cao trình độ chuyên môn,năng lực sư phạm và kỹ năng nghề nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm và kỹ năngnghề cho đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp Hàng năm Tổng cục giáo dục nghề nghiệp phốihợp với các tổ chức quốc tế có uy tín tổ chức nhiều khóa đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước

về kỹ năng số, tiếp cận công nghệ mới theo xu hướng phát triển giáo dục nghề nghiệp trên thếgiới góp phần nâng cao kỹ năng quản lý, quản trị cho cán bộ quản lý giáo dục nghề nhiệp

Mạng lưới cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo giáo dục nghề nghiệp được củng cố, phát triển, cơbản phân bố đều trên khắp các vùng, miền trên cả nước Quy mô, ngành nghề đào tạo nhà giáogiáo dục nghề nghiệp trong các trường sư phạm kỹ thuật tiếp tục được mở rộng, nội dung,chương trình thường xuyên được đổi mới Tuy nhiên, số lượng, cơ cấu nhà giáo ở nhiều cơ sởgiáo dục nghề nghiệp còn thiếu, nhất là thiếu đội ngũ có trình độ kỹ năng nghề cao, thiếu nhàgiáo giảng dạy ở các ngành nghề chuyển giao cấp độ quốc tế, khu vực ASEAN Số lượng cán bộquản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở địa phương còn ít, chủ yếu là kiêm nhiệm Năng lựcquản lý, quản trị và trình độ đào tạo của nhiều cán bộ quản lý các trường trung cấp, trung tâmgiáo dục nghề nghiệp còn bất cập, chưa chuyên nghiệp, chưa thích ứng với sự thay đổi của khoahọc – công nghệ và hội nhập quốc tế để đổi mới công tác quản lý tổ chức và hoạt động giáo dụcnghề nghiệp

2.1.3 Công tác đánh giá và kiểm định chất lượng

Lĩnh vực Giáo dục nghề nghiệp có những đặc thù nhất định, theo đó công tác đánh giá và kiểmđịnh chất lượng được thực hiện ở hai nội dung cơ bản:

dục nghề nghiệp

Đến nay, Bộ LĐ-TB&XH đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan ban hành chương trình, tàiliệu bồi dưỡng kiến thức cơ bản và tiến hành xây dựng đội ngũ giảng viên hạt nhân phục vụ công

Trang 10

tác tập huấn cho các lớp bồi dưỡng về bảo đảm chất lượng trong cơ sở Giáo dục nghề nghiệp.Công tác bồi dưỡng, tập huấn được tổ chức sâu rộng cho toàn hệ thống Giáo dục nghề nghiệptrong cả nước và thu được những kết quả nhất định Bộ đã ban hành đầy đủ hướng dẫn đánh giátiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở Giáo dục nghề nghiệp và hướng dẫn đánh giá tiêu chuẩnkiểm định chương trình đào tạo các cấp trình độ Giáo dục nghề nghiệp.

Tuy nhiên, công tác đánh giá và kiểm định chất lượng lĩnh vực Giáo dục nghề nghiệp vẫn cònnhững bất cập làm ảnh hưởng đến kết quả của việc thực hiện như sau:

- Thứ nhất là, một bộ phận không ít nhà quản lý các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp còn chưa nhậnthức đầy đủ và thấy được tầm quan trọng của công tác kiểm định nên rất khó khăn để triển khaicông tác này

- Thứ hai là, các hoạt động tự đánh giá, kiểm định trường chủ yếu do một vài đơn vị chuyên tráchthực hiện, chưa thực sự trở thành hoạt động thường kì tại nhà trường để các đối tượng liên quan

dễ dàng tiếp cận, nắm bắt thông tin

- Thứ ba là, việc thu thập, sử dụng, quản lý minh chứng phục vụ tự đánh giá của các cơ sở Giáodục nghề nghiệp còn nhiều hạn chế

2.2 Phân tích chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp

Theo Điều 6 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, chính sách của Nhà nước về phát triển giáodục nghề nghiệp quy định:

1 Phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt, đa dạng theo hướng chuẩn hóa, hiệnđại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, liên thông giữa các trình độ giáo dục nghềnghiệp và liên thông với các trình độ đào tạo khác

- Theo Thứ trưởng, hiện nay vẫn còn một số cách hiểu, định nghĩa khác nhau về khái niệm giáodục nghề nghiệp mở, linh hoạt, nhưng tựu chung đều thống nhất về đặc trưng chủ yếu của hệthống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt là: Mở về tư duy đào tạo nghề nghiệp; Mở cho mọingười (tất cả người lao động, phụ nữ, người yếu thế, người lớn tuổi, người khuyết tật, ngườinghèo….); Mở về địa điểm (tại trường, doanh nghiệp, trạm trại, làng nghề, tại đồng ruộng, tạicộng đồng; tại buôn, làng, thôn, xã, tại nhà dân…); Mở về thời gian đào tạo (dài hạn, ngắn hạn)

- Hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở và linh hoạt đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kỹnăng, thúc đẩy và hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng cao từng bước đáp ứng được yêucầu việc làm của thị trường lao động trong nước và quốc tế Các loại hình đào tạo đa dạng sẽ đápứng nhu cầu của người học và khuyến khích họ tiếp nhận những thách thức mới về sự thay đổi

Trang 11

của việc làm, nhất là trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đang thâm nhập sâu rộng vào tất

cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội, hòa nhập vào quốc tế, bắt kịp xu hướng của thời đại

2 Đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp được ưu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, pháttriển nhân lực Ngân sách cho giáo dục nghề nghiệp được ưu tiên trong tổng chi ngân sách nhànước dành cho giáo dục, đào tạo; được phân bổ theo nguyên tắc công khai, minh bạch, kịp thời

- Các nguồn lực đã tập trung đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển mạng lưới cơ sở giáodục nghề nghiệp theo quy hoạch; hình thành một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp trọng điểm chấtlượng cao, đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, nhu cầu học tập của người lao động

và từng bước phổ cập nghề cho thanh niên

- Ngân sách nhà nước đã ưu tiên đầu tư đồng bộ cho đào tạo nhân lực thuộc các ngành, nghềtrọng điểm quốc gia, các ngành, nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực, quốc tế; chútrọng phát triển giáo dục nghề nghiệp ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn,vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng ven biển Nhà nước thực hiện cơ chế đấu thầu, đặthàng đào tạo đối với những ngành, nghề đặc thù; những ngành, nghề thuộc các ngành kinh tế mũinhọn; những ngành, nghề thị trường lao động có nhu cầu nhưng khó thực hiện xã hội hóa

- Theo các quy định hiện hành của Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Giáo dục nghề nghiệp và cácvăn bản hướng dẫn, các nguồn tài chính của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện tại bao gồm hainguồn chủ yếu nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước Chỉriêng trong giai đoạn 2011-2019, nguồn ngân sách nhà nước chi cho giáo dục nghề nghiệp chiếmkhoảng 85,65%; đóng góp của người dân thông qua học phí khoảng 10,41%; thu từ dịch vụ sựnghiệp của các cơ sở dạy nghề là 1,08%; đầu tư, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoàinước khoảng 2,86%

- Mặc dù đạt nhiều kết quả trong việc huy động các nguồn lực cho giáo dục nghề nghiệp, tuynhiên, so với yêu cầu phát triển dạy nghề thì việc huy động các nguồn lực đặc biệt là nguồn tàichính ngoài ngân sách nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế cả về quy mô và cơ cấu Số liệu thống

kê cho thấy, tổng các nguồn lực của xã hội thu hút vào khối ngoài công lập hiện mới có trên3.200 dự án đầu tư với số vốn đăng ký trên 53.000 tỷ đồng Đây là kinh phí rất thấp so với yêucầu phát triển giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0

- Các nguồn lực tài chính huy động ngoài ngân sách nhà nước cho giáo dục nghề nghiệp thời gianquan chủ yếu từ các cá nhân thông qua học phí và đóng góp thiện nguyện; chưa huy động được

Trang 12

sự tham gia đóng góp tích cực của các tổ chức, doanh nghiệp và đội ngũ trí thức, Việt Kiều Việcthu hút các nguồn lực của xã hội vào các cơ sở dạy nghề tiến triển chậm; hoạt động đầu tư, hợptác của khối tư nhân với các cơ sở giáo dục công lập thông qua các hình thức liên kết, hợp táckinh doanh, đối tác công - tư còn đơn lẻ, chưa tạo được sự đột phá trong toàn hệ thống giáo dụcnghề nghiệp

- Tổng kinh phí đầu tư công trung hạn phát triển hệ thống Giáo dục nghề nghiệp giai đoạn

2021-2025 là 31.420,703 tỷ đồng, tăng gấp 4 lần so với giai đoạn 2016 - 2020

3 Đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo quyhoạch; tập trung đầu tư hình thành một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp trọng điểm chất lượng caođáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, nhu cầu học tập của người lao động và từngbước phổ cập nghề cho thanh niên

 Số liệu thống kê của Tổng cục GDNN cho thấy, đến hết năm 2018, cả nước có1.948 cơ sở GDNN gồm: 397 trường cao đẳng (309 trường công lập; 83 trường tưthục; 4 trường có vốn đầu tư nước ngoài, 519 trường trung cấp (283 trường cônglập; 235 trường tư thục; 01 trường có vốn đầu tư nước ngoài), 1.032 trung tâmGDNN (697 trung tâm công lập; 346 trung tâm tư thục; 2 trung tâm có vốn đầu tưnước ngoài)

 Các cơ sở GDNN tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng Sông Hồng (chiếm tỷ lệ30%), tiếp đến vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (chiếm tỷ lệ 20,7%)

và vùng Đông Nam Bộ (chiếm tỷ lệ 15%) Vùng Tây Nguyên có số lượng cơ sởGDNN thấp nhất so với cả nước (chiếm tỷ lệ 5,3%)

 Sau 6 năm thực hiện, Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020theo Quyết định số 761/QĐ-TTg ngày 23/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ, đếnnay đã có 45 trường trên địa bàn 26 tỉnh/thành phố ở cả 3 miền được lựa chọn tậptrung đầu tư thành trường chất lượng cao, đủ năng lực đào tạo các nghề được cácnước tiên tiến trong khu vực và quốc tế công nhận

 Cùng với đó, triển khai Quyết định số 761/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ,ngày 27/11/2017, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ký ban hànhQuyết định số 1836/QĐ-LĐTBXH phê duyệt ngành, nghề trọng điểm; trường đượclựa chọn ngành, nghề trọng điểm giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm2025

 Theo đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phê duyệt danh mục ngành,nghề trọng điểm theo cấp độ quốc tế, khu vực ASEAN và quốc gia (62 nghề cấp độquốc tế, 93 nghề cấp độ khu vực ASEAN và 134 nghề cấp độ quốc gia) Các nghềtrọng điểm đã được các bộ, ngành, địa phương đề xuất căn cứ vào nhu cầu nhânlực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại 63 địa phương

Trang 13

 Giáo dục nghề nghiệp cũng được biết đến nhiều hơn, hiện nay số thanh niên đăng

ký học giáo dục cũng đông hơn trước rất nhiều Kết quả tuyển sinh đạt gấp 2 lầngiai đoạn trước đó

4 Nhà nước có chính sách phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổthông vào giáo dục nghề nghiệp phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội

 Những năm vừa qua, mặc dù công tác PLHS sau THCS và cấp THPT có chuyểnbiến tích cực, nhưng nhìn chung vẫn còn không ít khó khăn, thách thức

 Theo Đỗ Thị Bích Loan, phần lớn các tỉnh/thành đều có hơn 70% học sinh tốtnghiệp THCS học tiếp lên THPT, thậm chí có địa phương hơn 80% Tỷ lệ họcsinh tốt nghiệp THCS vào học sơ cấp và trung cấp nghề, TCCN thấp; còn một tỷ lệkhông nhỏ HS tốt nghiệp THCS tham gia TTLĐ mà không qua đào tạo đã làm ảnhhưởng đến chất lượng và cơ cấu đào tạo của lực lượng lao động

 Theo số liệu thống kê, năm học 2018 - 2019 học sinh tốt nghiệp THCS thi lênTHPT khoảng trên 80%%, vào học tại trung tâm giáo dục thường xuyên - giáo dụcnghề nghiệp (GDTX - GDNN) khoảng 10%, vào trung cấp khoảng 11%, đi làmkhoảng 9% Trong khi đó, học sinh tốt nghiệp THPT vào đại học, cao đẳng khoảng41%; vào các trường cao đẳng thuộc hệ thống GDNN khoảng 23%; học nghề tạitrung tâm đào tạo nghề khoảng 13% Mặc dù, ngành giáo dục cũng có chủ trươngphân luồng, nhưng vấn đề “hậu phân luồng” vẫn còn nhiều trở ngại, không đạtđược hiệu quả như mong muốn Điều này khiến các cơ sở GDNN rơi vào tìnhtrạng khó hoạt động vì tuyển học sinh khó khăn

 Ngày 15/5/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 522 phê duyệt

Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dụcphổ thông giai đoạn 2018 - 2025” Đề án nhằm tạo bước đột phá về chất lượnggiáo dục hướng nghiệp trong giáo dục phổ thông, góp phần chuyển biến mạnh mẽcông tác phân luồng học sinh sau THCS và THPT vào học các trình độ giáo dụcnghề nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địaphương, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực quốc gia,hội nhập khu vực và quốc tế

5 Ưu tiên đầu tư đồng bộ cho đào tạo nhân lực thuộc các ngành, nghề trọng điểm quốcgia, các ngành, nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực, quốc tế; chú trọng pháttriển giáo dục nghề nghiệp ở các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, vùngdân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng ven biển; đầu tư đào tạo các nghề thị trường laođộng có nhu cầu nhưng khó thực hiện xã hội hóa

 45 Trường công lập đã được lựa chọn để ưu tiên tập trung, đồng bộ theo tiêu chítrường chất lượng cao, có đủ năng lực đào tạo một số nghề được các nước tiêntiến trong khu vực ASEAN hoặc quốc tế công nhận

 Các trường đã tiếp nhận chuyển giao đào tạo 34 nghề trọng điểm quốc tế (12 nghề

từ Ô-xtrây-li-a, 22 nghề từ Đức) Quy mô đào tạo hệ chuyển giao quốc tế hiệnnay là 2.000 sinh viên Sinh viên tốt nghiệp sẽ được cấp bằng cao đẳng của Ô-

Trang 14

xtrây-li-a hoặc Đức; 682 giảng viên được đào tạo đồng bộ ở trong và ngoài nước;

45 trường đã được đối tác quốc tế đánh giá đạt chuẩn để tổ chức đào tạo

 Các trường đạt chuẩn kiểm định chất lượng trong nước Trong đó, 21 trường vậnhành quy trình quản lý chất lượng của Anh, 8 trường thí điểm kiểm định quốc tế

đã cơ bản đạt được các chuẩn theo đánh giá của các chuyên gia Anh và Đức

 Về yêu cầu mà Chỉ thị 24 đưa ra là chuẩn hóa lực lượng lao động để hội nhập quốc

tế, TS Phạm Tất Thắng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên,Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, nhận định, về mặt quản lý, Chính phủ đãnhận thức vấn đề này sớm và rõ Từ năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã banhành Quyết định 1982/QĐ-TTg phê duyệt khung trình độ quốc gia Việt Nam.Khung này tương thích với chuẩn trình độ của khu vực ASEAN

 27.920,703 tỷ đồng sẽ đầu tư cho các Tiểu dự án, nội dung thành phần thuộc 3chương trình mục tiêu Quốc gia (CTMTQG) Trong đó gồm, 15.300 tỷ đồng chotiểu dự án "Phát triển GDNN vùng nghèo, vùng khó khăn" CTMTQG giảmnghèo bền vững và 12.620,703 tỷ đồng với Tiểu dự án "Phát triển giáo dục nghềnghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động vùng dân tộc thiểu số và miềnnúi" Cuối cùng là hoạt động "Nâng cao chất lượng cho đào tạo nghề cho ngườilao động nông thôn" thuộc CTMTQG xây dựng nông thôn mới với 4.200 tỷ đồng

 UBND các tỉnh chỉ đạo các địa phương làm tốt công tác tuyên truyền, tư vấn họcnghề để người dân tộc thiểu số có thêm thông tin, tiếp cận và hiểu rõ chính sáchhọc nghề tại chỗ đối với việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn sản xuất, nâng caonăng suất, hiệu quả và thu nhập, đồng thời báo cáo các cơ quan chức năng điềuchỉnh, bổ sung một số chính sách dạy nghề cho phù hợp với đặc thù về kinh tế -

xã hội, tập quán sản xuất và trình độ của người dân tộc thiểu số Quy định cụ thể

về chính sách đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp công tác ở vùng chuyên biệt,vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

6 Nhà nước thực hiện cơ chế đấu thầu, đặt hàng đào tạo đối với những ngành, nghề đặcthù; những ngành, nghề thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn; những ngành, nghề thị trườnglao động có nhu cầu nhưng khó thực hiện xã hội hóa Các cơ sở hoạt động giáo dục nghềnghiệp không phân biệt loại hình đều được tham gia cơ chế đấu thầu, đặt hàng quy địnhtại khoản này

 Theo dự thảo, việc thực hiện đào tạo một số ngành, nghề theo hình thức đấu thầu,đặt hàng, giao nhiệm vụ cần đảm bảo theo 3 nguyên tắc sau:

1- Người học đăng ký tham gia khóa đào tạo nghề nghiệp theo hình thức đấu thầu,đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo được lựa chọn ngành, nghề học, cơ sở đào tạo.Việc thực hiện chi phí đào tạo đối với người học được thực hiện thông qua cơ sởđào tạo tổ chức triển khai các khóa đào tạo, phải công khai, minh bạch, đúng quyđịnh hiện hành, bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

2- Cơ sở đào tạo đảm bảo đủ các yêu cầu quy định Trực tiếp thực hiện hợp đồngđào tạo, không chuyển hoặc giao việc thực hiện hợp đồng đào tạo với các cơ sởđào tạo khác

Ngày đăng: 10/11/2022, 07:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w