Chống oxy hóa Năm 2008, một nghiên cứu được tiến hànhbởi các nhà khoa học ở Nigeria,Châu Phi về khả năng chống oxy hóa của dịch chiết ethanol và nước từ lá V.. Từ kết quả nghiên cứu cho
Tổng quan về thực vật học
Họ Asteraceae
Dạng sống của cây này là cỏ, song có thể tồn tại dưới dạng nhiều năm hoặc một năm, thân gồ, cây bụi hoặc dây leo hiếm gặp Rễ của cây có thể phù lên thành củ, nhưng chất dự trữ không phải là tinh bột mà là inulin (như thược dược) Lá có hình dạng biến thiên, thường mọc so le và không có lá kèm, ít khi mọc đối hoặc tụ thành hoa ở gốc, với những loại lá có gai; phiến lá nguyên hoặc xẻ sâu, đôi khi là lá kép hình lông chim hoặc hình chân vịt hiếm gặp Cụm hoa là đầu, có thể mang nhiều hoa hoặc ít hoa, đứng riêng lẻ hoặc tụ thành chùm, gié, xim hoặc ngù, thường nhất là tụ thành ngù với các hoa đính theo đường xoắn ốc liên tục Hoa tự đầu có dạng hình nón, phẳng hoặc lõm hình chén, có hai loại lá bắc: lá bắc ngoài bất thụ tạo thành tổng bao, với hình dạng và kích thước rất biến thiên, đính trong hoặc ngoài theo từng hàng, như Senecio hoặc Tagetes.
Lá bắc ngoài có thể nguyên hoặc có răng, có gai, và nhiều loại có màu như cánh, mang hoa ở nách Lá thật của cây là những phiến mỏng, hẹp, đôi khi có lông, và thường có the phang hoặc cong xung quanh hoa, dù có thể không có Hoa của cây mang đặc điểm lưỡng tính, mẫu 5, bầu dưới, không có lá bắc con, thể hiện rõ đặc trưng trong cấu trúc hoa.
Các hoa trên một đầu có thể giống nhau về hình dạng và chức năng, gọi là đồng giao, với hoa hình ống hoặc hoa hình lười nhỏ có 5 răng hoặc hình môi Hoa tự đầu gồm hai loại: hoa đều hình ống ở giữa để sinh sản và hoa không đều hình lười nhỏ có 3 răng để thu hút côn trùng, gọi là dị giao Bao hoa thường giảm vì nhiệm vụ bảo vệ do lá đài đảm nhận, có thể biến mất hoặc chỉ còn gờ nhỏ mang vẩy hoặc lông để giúp phát tán quả Tràng hoa có thể dính cánh dính, hình ống hoặc dạng lưỡi nhỏ, răng hoặc môi, phù hợp với kiểu đồng hoặc dị giao Bộ nhị gồm 5 nhị bằng nhau, đính trên ống tràng và xen kẽ cánh hoa, chỉ nhị rời nhau trừ trong họ Cynareae Bao phấn mở dọc, dính nhau tạo thành ống bao quanh vòi, mang phụ bộ giúp che chở và thoát nước mưa Bộ nhụy có 2 lá noãn tạo thành bầu dưới 1 ô, chứa 1 noãn, đính đáy, với đĩa mật nằm trên bầu Trong hoa lưỡng tính và hoa cái, vòi xuyên qua đĩa mật và chia thành 2 nhánh đầu nhụy, mang lông để quét hạt phấn khi vòi mọc xuyên qua cấu tạo từ các bao phấn, giúp quá trình thụ phấn diễn ra nhịễm nhiên nhờ côn trùng.
Quả thường có dạng bế, mang một mào lông do đài biến đổi, có thể có mào lông mang trên cuống dài hoặc ngắn Đôi khi quả trần hoặc có móc, gai Hạt không chứa nội nhũ, với lá mầm to, thường chứa đầy dầu như hạt Hướng dương, phù hợp cho các nghiên cứu về quả và hạt trong ngành nông nghiệp và chế biến thực phẩm.
Chi Vernonia
Cây có thể thuộc dạng thảo, bụi hoặc gỗ, thậm chí là dây leo sống một năm hoặc lâu năm Lá mọc xen kẽ, hiếm khi đối diện, nguyên hoặc có rìa răng cưa, gân lá hình lông chim, thường không rõ cuống Bao hoa phía trên có hình bát thu hẹp thành hình trụ, gồm nhiều lá bắc lợp lại thành 6 hàng, trong đó lá bắc ngoài mỏng, phía trong thường rụng sớm, đỉnh bao hoa có thể có gờ nhỏ hoặc lông tơ ngắn Hoa kết thành cụm hình chùy hoặc ngù ở ngọn hoặc kề sát lá, hoặc là cụm hoa đơn Tràng hoa thường có màu hồng, tía, hiếm khi trắng, hoa nhỏ, hình ong, lá đài dạng chuông hoặc phễu giúp nhận diện dễ dàng.
Thùy bao phấn có hình mác, trong khi quả thường có dạng bế hình trụ hoặc hình nón ngược với các gờ nối rõ ràng, đôi khi có hoặc không có lông ngắn giữa các gờ Mào lông của cây gồm hai lớp: lớp ngoài là những lông ngắn, đôi khi tiêu biến, còn lớp trong chứa nhiều lông tơ hình lông chim, có gai và có thể rụng hoặc tồn tại Màu sắc của các bộ phận này thường phù hợp với đặc điểm sinh học của từng loài.
Chi Vernonia thuộc họ Asteraceae, là chi lớn nhất trong tông Vemoniae với khoảng
Chi Vernonia gồm hơn 1000 loài phân bố rộng khắp trên nhiều môi trường sinh thái khác nhau, từ rừng nhiệt đới, đầm lầy, các khu vực ẩm ướt cho đến hoang mạc và sa mạc Các loài trong chi này còn tồn tại ở những khu vực hàn đới của Bắc Mỹ, chứng tỏ sự đa dạng và khả năng thích nghi của chúng với nhiều điều kiện khí hậu khác nhau.
Song, tại Việt Nam có khoảng 28 loài, trong đó có một số loài được sử dụng làm thuốc [8]:
- Bạch đầu sát trùng, Ban cưu cúc sát trùng (Vernonia anthelminthica (L.) Willd)
- Bông bạc, bạch đầu đại mộc (Vernonia arborea Buch.-Ham var javanica El.)
- Dây chè, Rau ráu, đỏ ngọn (Vernonia cumingiana Benth Var andersoni C.B.Clarke)
- Bạch đầu bao gai, Bạch đầu cứng (Vernonia squarrosa (D.Don) Less Var teres Wall.Ex.DC.)
- Bạch đầu lá liều (Vernonia saligna (Wall.) D.C)
- Bạch đầu lông (Vernoniaparishỉỉ Hook f.)
- Bạch đầu nhám (Vernonia aspera Buch - Ham.)
- Bạch đầu nhỏ, Cúc bạc đầu (Vernoniapatula (Dryand.) Merr.)
- Bạch đầu rau, Ban cưu cúc (Vernonia esculenta Hemsl.)
- Bạch đầu Spire (Vernonia spirei Gandog.)
- Dây dọi tên, bạch đầu bầu dục (Vernonia elliptỉca DC var elaeagnifolia DC.)
- Cúc bung, Bạch đầu to (Vernonia macrachaenia Gag-nep.)
- Cúc lá cà, Cúc hồng leo (Vernonia solanifolia Benth.)
Loài Vernonia amygdalina Del
Tên khoa học: Vernonia amygdalina Delile
Tên đồng nghĩa: Gymnanthemum amygdalinum (Delile) Sch Bip ex Walp.[14] Tên thường gọi: cây Mật gấu, Lá đắng.
Tên nước ngoài: African bitter leaf [14], Bitter leaf [12], [20].
1.1.3.1 VỊ trí trong báng phân loại thực vật
Theo hệ thống phân loại của Takhatajan vị trí của loài Vernonia amygdalina Del được sắp xếp như sau:
Lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp Cúc (Asteridae)
Họ Cúc (Asteraceae)Chi VernoniaLoài Vernonia amygdalina Del [39].
Hình 1.1 Đặc điểm hình thái cây Lá Đắng (E amygdalinà)
A Lá cây; B Hoa;c.Quả; D Thân cây lúc non; E Thân cây lúc trường thành.
V amygdalina là loài cây bụi lâu năm, thường sống trong môi trường hạn hán nhưng lại phát triển tốt hơn trong điều kiện ấm áp, ẩm ướt Cây cao trung bình từ 1,5 đến 3 mét, có thể đạt tới 5 mét, phân bố rộng rãi ở các khu sinh thái nhiệt đới châu Phi và thường được sử dụng như một cây phòng hộ trong cộng đồng [21] Thân cây dày, phân nhánh rõ ràng, khi còn non có màu xanh tươi, nhiều lông bao phủ, còn trưởng thành có màu xám nhám, nhiều nốt sần Lá đơn mọc xen kẽ, có mùi đặc trưng và vị đắng, hình mũi mác hoặc trứng, kích thước từ 3-17×1,3-7 cm, mép răng mịn, mặt trên bóng nhẹ, mặt dưới nhạt hơn và nổi rõ gân lá, có cuống dài khoảng 14 cm Hoa dạng cụm ngù, màu trắng, có mùi thơm ngọt, gồm 11-35 hoa lưỡng tính hình chuông nhỏ, hợp thành ngù có nhiều lá bắc nhỏ màu xanh nâu đỉnh, xếp thành 4-5 lớp có dạng hình bầu dục hoặc trứng, dài 0,4-0,6 cm Tràng hoa màu trắng, thu hẹp dần về phía dưới, có tuyến hoặc gai trên bề mặt ngoài, bộ nhị dài từ 4,5 đến 5 mm gồm 5 chỉ nhị, và bao phấn dính nhau thành ống dài 3-4 mm Quả bế dạng elip dài, có 10 gân, với túm lông cứng mọc loe ra ở đầu, ra quả vào tháng 12.
1.1.3.3 Sinh thải và phân bố
V amygdalỉna có nguồn gốc từ Châu Phi, được trong pho biến ở một số nước như
V amygdalina đã xuất hiện và phát triển tại nhiều quốc gia trên thế giới như Yemen, Ethiopia, Uganda, Kenya, Tanzania và Brazil Ngoài ra, loài cây này còn được trồng ở một số quốc gia châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia Trong những năm gần đây, V amygdalina đã di thực vào Việt Nam và thích nghi tốt với nhiều điều kiện khí hậu khác nhau, trở thành cây trồng phổ biến tại các tỉnh miền Trung của nước ta.
Rề cây là loại lá được thu hái quanh năm, có thể sử dụng tươi hoặc phơi khô để hãm như trà Ngoài việc dùng làm thức uống như rượu, rề cây còn được chế biến thành thức ăn và ứng dụng trong y học để hỗ trợ điều trị các bệnh về dạ dày và ruột Đặc biệt, rề cây còn được sử dụng làm que ngậm giúp làm sạch răng miệng, mang lại lợi ích lớn cho sức khỏe răng miệng của người dùng.
Tổng quan về thành phần hóa học
Saponin
Năm 1992, Mitsuo Jisaka và các cộng sự đã phân lập thành công 4 hợp chất gồm Vemoniosid Al, Vemoniosid A2 và Vemoniosid A3, là các hợp chất góp phần tạo nên vị đắng của lá cây Đặc biệt, hợp chất Vemoniosid B1 được nhận diện với sự thay đổi cấu trúc, khi mất đi nhóm OH ở vị trí C-16 và bổ sung thêm nhóm khác, góp phần vào tính chất đặc trưng của dạng hợp chất này.
OH ở C-23 không mang đặc trưng vị đắng Năm 1993, Jisaka và cộng sự đã phân lập thành công 3 hợp chất gồm Vemoniosid A4, aglycon của nó, cùng hai glucosid không gây vị đắng là Vernoniosid B2 và Vemoniosid B3 Đến năm 2016, Olaga Ọuasie cùng các cộng sự đã khám phá thêm 4 hợp chất mới thuộc loại Vemoamyosid, gồm Vemoamyosid A, B, C, và D, với hoạt tính chống viêm đã được thử nghiệm trên tế bào Raw, mở rộng hiểu biết về tiềm năng sinh học của các hợp chất này.
Năm 2018, tại Việt Nam, Phạm Việt Cường và cộng sự đã phân lập thành công hợp chất mới mang tên Vemomyosid E, có cấu trúc (22α,235,24R,28S)-3β-glucosyl-28-methoxy-7,8,9,11-tetradehydro-21,24-dihydroxy-21,23:22,28-diepoxy-5α-stigmastan Bên cạnh đó, họ còn phát hiện hai hợp chất lần đầu tiên được phân lập từ tự nhiên, gồm Vernomyosid C và Vernomyosid C1, với các cấu trúc đặc trưng lần lượt là (22α,235,24R,28S)-28-methoxy-7,8,9,11-tetradehydro-3β-16α,21,24-trihydroxy-21,23,22,28-diepoxy-5α-stigmastan và (23α,24R,28S)-3β,22α-dihydroxy-7,8,9,11-tetradehydro-24,28-epoxy-5α-stigmastan, giúp mở rộng danh mục các hợp chất tự nhiên có tiềm năng trong nghiên cứu dược liệu.
Hình 1.2 Cấu trúc hóa học một số Saponin trong v.antygdalina.
Flavonoid
Sự hiện diện của các flavonoid nhóm flavon trong cây V amygdalina gồm có: Luteolin và các dần xuất glycosid của nó: Luteolin 1-0- p - glucuronisid và Luteolin
1-0- /3 - glucosid [21] Trong đó, Luteolin có khả năng chong oxy hóa mạnh hơn cả
Butylated hydroxytoluene (BHT) được tổng hợp trong nghiên cứu này, đóng vai trò quan trọng trong việc chống oxi hóa Ngoài ra, Luteolin 7-O-β-glucuronoside, chiếm tỷ lệ cao nhất trong cây, cùng với Luteolin 7-O-α-glucoside đều có khả năng chống oxy hóa, tuy nhiên hoạt tính chống oxy hóa của chúng thấp hơn đáng kể so với Luteolin Các hợp chất này góp phần nâng cao giá trị antioxidative của cây, làm nổi bật tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực dược phẩm và thực phẩm chức năng.
Hình 1.3 Cấu trúc hóa học của một số Flavonoid trong v.amygdalina.
Sesquiterpen lacton
Hầu hết loài trong chi Vernonia nói chung và trong V amygdalia nói riêng đều chứa một lượng lớn các Sesquiterpen lacton [17],
Năm 1993, Jisaka M cùng các cộng sự đã phát hiện các hợp chất như Vemolepin và Vemomenin, có hoạt tính gây độc tế bào đối với dòng tế bào ung thư bạch cầu P-3 88 và L-1210, đồng thời có tác dụng kháng khuẩn chống lại B subtilis và M lutea Ngoài ra, họ còn phát hiện hợp chất 1, 2, 3, 16, 11, 13, 2, 3-octahydrovemodalin với khả năng kháng khuẩn Năm 1993, Huffman M.A đã nghiên cứu và phát hiện hợp chất Vemomygdin có tác dụng ức chế ung thư biểu mô vòm họng.
In 2006, Erasto and colleagues discovered two novel compounds, Vemolide and Vernodalol, which exhibit antibacterial activity against B cereus, S epidermidis, S aureus, M kristinae, and S pyrogens Additionally, scientists isolated several other compounds—such as Vernodalin, 1,2,11,12',3' Hexahydrovemodalin, Hydroxyvemolid, 4,15-Dihydrovemodalin, Vemodalinol, and Epivernodalol—from the leaves, stems, and roots, contributing to the understanding of bioactive substances with potential antimicrobial properties.
Hình 1.4 Cấu trúc hóa học của một số Sesquiterpen lacton trong v.amygdalina
Một số hợp chất khác được phân lập từ v.amygdalỉna như: Thiamin, Ascorbic Acid,Pyridoxin, Glycin, Cystein, Casein Hydrolysat, Eucalyptol [5].
Các họp chất khác
Hình 1.5 Cấu trúc hóa học của Triterpen trong v.amygdalìna
Tác dụng dược lý
Chống oxy hóa
Năm 2008, các nhà khoa học tại Nigeria đã nghiên cứu khả năng chống oxy hóa của dịch chiết ethanol và nước từ lá V amygdalina so với các chất chống oxy hóa như BHT và BHA trên nền thử DPPH Kết quả cho thấy dịch chiết ethanol có khả năng chống oxy hóa vượt trội, đạt mức cao hơn BHA lần lượt là 90,23% và 88,23% tại nồng độ 0,8 mg/ml, trong khi dịch chiết nước và BHT chỉ đạt mức tối đa lần lượt là 73,93% và 68,66% ở nồng độ 2,0 mg/ml Những kết quả này chứng tỏ rằng dịch chiết ethanol và nước từ lá V amygdalina có tiềm năng thay thế các chất chống oxy hóa tổng hợp như BHT và BHA, nhằm hạn chế các tác dụng phụ độc hại hoặc gây ung thư trên người.
Nghiên cứu của Atangwho và cộng sự năm 2013 đã phát hiện hoạt tính chống oxy hóa từ cao chiết của V amygdalina, với khả năng quét gốc tự do ABTS, DPPH và khả năng khử sắt theo phương pháp FRAP Kết quả cho thấy hoạt tính chống oxy hóa của các cao chiết phụ thuộc vào liều lượng, trong đó cao chiết nước cho hoạt tính cao nhất, tiếp theo là cao chiết methanol, chloroform và ether.
Chống ung thư
Ung thư vú là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến ung thư ở phụ nữ trên toàn cầu V amygdalina ngày càng nổi bật như một nguồn tiềm năng cho việc điều trị ung thư vú, nhờ khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư Trong các nghiên cứu in vitro, chiết xuất lá V amygdalina ở các nồng độ khác nhau đã làm giảm khả năng sống của tế bào ung thư biểu mô tuyến vú (MCF-7) sau 48 giờ, thông qua các xét nghiệm MTT và Comet để xác định tổn thương DNA Kết quả cho thấy V amygdalina gây tổn thương DNA tối thiểu và ức chế quá trình nhân đôi của tế bào MCF-7 bằng cách làm giảm các cyclin D, E và tăng nồng độ của p53, p21, qua đó ngăn chặn quá trình phân chia tế bào theo một con đường độc lập.
[43] Hơn nữa, v.amygdalina the hiện sự hiệp lực khi kết hợp với Doxorubicin, cho thấy rằng nó có the bố sung cho hóa trị liệu hiện tại [43].
Năm 2010, các nhà nghiên cứu ở Châu Phi đã thử nghiệm khả năng chống ung thư của dịch chiết methanol lá V amygdalina bằng xét nghiệm Sulforhodamin B (SRB), cho thấy hoạt chất Epivemodalol trong dịch chiết này có tác dụng chống lại dòng tế bào ung thư da HT-144 [32] Ngoài ra, các chất Vemodalin, Vemomenin và Vemomygdin được phân lập từ cây V amygdalina có khả năng chống ung thư biểu mô vòm họng KB, dòng tế bào ung thư L-1210 và bệnh bạch cầu P-388 chuột [11] Những nghiên cứu này cho thấy tiềm năng của V amygdalina trở thành một loại thuốc trong điều trị ung thư, mở ra nhiều triển vọng ứng dụng trong y học chống ung thư.
Chống sốt rét
Sốt rét là một bệnh truyền nhiễm phổ biến trên toàn thế giới, đặc biệt tập trung ở các vùng nhiệt đới như châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh Tuy nhiên, vấn đề ngày càng phức tạp khi các loài muỗi mang ký sinh trùng Plasmodium đã phát triển khả năng kháng lại các loại thuốc chống sốt rét truyền thống như Chloroquine và các thuốc tổng hợp khác Để tìm ra phương pháp điều trị thay thế hiệu quả, các nhà nghiên cứu đã sử dụng dịch chiết ethanol và nước từ lá của loài V amygdalina trong các thử nghiệm in vivo và in vitro đối với loài Plasmodium berghei Kết quả nghiên cứu cho thấy, dịch chiết ethanol của V amygdalina có hiệu quả chống sốt rét cao nhất, với tỷ lệ ức chế lên đến 78,1% và IC50 là 11,2 pg/ml, trong khi dịch chiết nước cũng thể hiện khả năng ức chế tăng trưởng bệnh lý là 74,0% với IC50 là 13,6 pg/ml.
Điều trị bảo vệ gan
Năm 2006, nghiên cứu của Iwalokun và các cộng sự cho thấy dịch chiết lá V amygdalina có tác dụng bảo vệ gan rõ rệt ở chuột, đặc biệt là giảm mức độ các enzyme gan như SGOT và SGPT sau khi gây tổn thương bằng CCl4 Kết quả cho thấy nhóm chuột được dùng dịch chiết 200 mg/kg có mức SGOT giảm đáng kể, từ 161,8 IU/L xuống còn 69,8 IU/L, và SGPT giảm từ 127,9 IU/L xuống còn 38,9 IU/L, so với nhóm kiểm soát Năm 2012, các nhà khoa học phát hiện thêm khả năng chống oxy hóa của V amygdalina trong việc ngăn chặn tổn thương gan ở chuột, đặc biệt khi điều trị bằng liều 20 mg/kg hàng ngày, mở rộng tiềm năng ứng dụng trong bảo vệ gan.
Chiết xuất methanolic của lá V amygdalina ở liều 60 mg/kg đã làm giảm đáng kể các chỉ số ALT, AST và ALP (Pppm) ỵì C(ĩ>ppni) '3 C{Òppnf)
Chất Vs (4,5 mg) thu được dưới dạng bột vi tinh thể màu trắng, cho thấy vết quang ở UV 254 nm và không phát quang ở UV 365 nm, đồng thời cho màu xanh dưong khi nhúng thuốc thử Vs.
Bảng 3.10 Bảng sô liệu phố NMR của V5 c DEPT 13 c
Trong phổ C xuất hiện 35 tín hiệu carbon, 30 tín hiệu của khung aglycon và 6 tín hiệu của đường hexose, giúp xác định rõ cấu trúc của phân tử Vị trí của 4 proton olefin được xác định thông qua tương tác HMBC và so sánh với tài liệu tham khảo, xác nhận aglycon là khung stigmasterol với hai liên kết đôi tại vị trí 7-8, 9-11, loại liên kết đôi phổ biến của các dẫn chất trong cây này Cấu trúc của V5 còn chứa vòng lacton, thể hiện qua tín hiệu 176,9 ppm và các carbon liên quan đến nhóm oxi như 47,2; 79,3; 74,8; 80,3; 109,1 ppm, xác định qua các phổ NMR Tương tác HMBC cho thấy proton của C26 và C27 đều liên kết với C24 (80,3 ppm), xác định gốc isopropyl ở C24 Trong vùng 60-80 ppm, xuất hiện năm tín hiệu carbon ôx, gồm 73,5; 76,6; 70,1; 76,7; 61,1 ppm, cùng với một tín hiệu anome 100,9 ppm, chứng tỏ sự tồn tại của gốc o-glycosid Vị trí của đường gắn vào aglycon (C3) được xác định qua tương tác HMBC giữa proton anomer ở 4,22 ppm và carbon aglycon ở 76,3 ppm, cùng với so sánh dữ liệu với các hợp chất đã công bố, cho thấy phần đường của V5 là glucose So sánh dữ liệu phổ NMR, V5 có nhiều nét phù hợp với hợp chất Vernoniamyosid B đã được công bố trước đây, xác nhận cấu trúc của phân tử.
V5 với Vemoniamyosid B [24] Ket quả so sánh được trình bày trong Bảng 3.11.
Bảng 3.11 Kết quả so sánh dữ liệu phổ NMR của Vsvà Vernoniamyosid B
STT Vs(125 MHz, DMSO-í/ó) Vernoniamyosid B (150 MHz,DMSO-í/é)
Hình 3.12 Cấu trúc và một số tương tác trên phổ của Vs
Xác định hoạt tính chất chống oxy hóa chất vừa phân lập được
3.4.1 Ket quả khảo sát hoạt tỉnh chống oxy hỏa của V3
V3 được xác định cấu trúc là Cosmosiin (Apigenin-7-ơ-/?-D-glucose) với M= 432 đvC Ket quả khảo sát tác dụng chống oxy hóa bằng phưong pháp quang pho.
Bảng 3.12 Thông số hoạt tính chống oxy hóa của V3
OD HTCO(%) IC50 (pg/ml)
Hoạt tính dập tắt gốc tự do DPPH của Vj
Hình 3.13 Hoạt tính dập tắt gốc tự do của V3
Ket quả khảo sát cho thấy, V3 có dãy nồng độ từ 50 pg/ml - 250 pg/ml với % HTCO từ 22,8% - 64,30%; IC50 có nồng độ 177,58 pg/ml.
Do V4 và Vsphân lập được quá ít vì thế không đủ khảo sát khả năng chống oxy hóa.
3.4.2 Kết quả khảo sát hoạt tỉnh chống oxy hóa của chứng dương Rutin
Kết quả khảo sát cho thấy Rutin có tác dụng chống oxy hóa mạnh mẽ khi sử dụng phương pháp quang phổ Nghiên cứu đã đánh giá mức độ chống oxy hóa của Rutin ở nồng độ M 610 đvC, cho thấy hoạt tính chống oxy hóa vượt trội so với các hợp chất khác Phương pháp quang phổ là công cụ chính để đo lường khả năng chống oxy hóa của Rutin, mang lại kết quả chính xác và tin cậy Những phát hiện này cho thấy Rutin là hợp chất tiềm năng với khả năng chống oxy hóa cao, hỗ trợ các ứng dụng trong lĩnh vực y học và bảo vệ tế bào khỏi các tác nhân gây oxidative stress.
Bảng 3.13 Thông số hoạt tính chống oxy hóa của Rutin
OD HTCO(%) ICso( pg/ml)
Hình 3.14 Hoạt tính dập tắt gốc tự do của Rutin
Ket quả khảo sát cho thấy, chất tinh khiết Rutin có dãy nồng độ từ 1 pg/ml - 8 pg/ml với % HTCO từ 12,95% - 83,70%; IC50 có nồng độ 4,39 pg/ml.
Bảng 3.14 Giá trị IC50 của V3 và Rutin Mẩu Giá trị IC50 (pg/ml) Giá trị IC50 (pM) v3 177,58 411,06
Hình 3.15 Giả trị IC50 về hoạt tính dập tắt gốc tự do DPPH V3 và Rutin
Dựa vào kết quả thử nghiệm ở Bảng 3.15 và Hình 3.15 cho thấy: V3 có giá trị ICso 411,06 pM và Rutin có giá trị ICso= 7,19 |1M.
Như vậy, V3 có tác dụng chống oxy hóa trên mô hình DPPH nhưng lại yếu hơn Rutin.
Bàn luận
Nghiên cứu thành phần hóa học hướng chống oxy hóa ban đầu được thực hiện bằng phương pháp Folin-Ciocalteu và mô hình DPPH trên bảng mỏng, giúp tiết kiệm thời gian và nhanh chóng xác định các phân đoạn tiềm năng Kết quả cho thấy phân đoạn 8 đã chiết xuất được 41,3 mg Cosmosiin (V3), phân đoạn 3 chứa 7,5 mg Apigenin (V4), và phân đoạn 6 gồm 4,5 mg Vemoniamyosid B (V5) Trong đó, V3 exhibiting khả năng chống oxy hóa vượt trội trên mô hình DPPH với IC50 là 411,06 pM, cho thấy tiềm năng lớn trong ứng dụng chống oxy hóa.
Apigenin là một flavonoid có khả năng chống oxy hóa mạnh mẽ, được chứng minh qua phương pháp ABTS với IC50 = 3,3 mM, chỉ yếu hơn so với acid ascorbic (IC50 = 2,5 mM) khoảng 1,32 lần, cho thấy tiềm năng chống oxy hóa cao Ngoài ra, nghiên cứu bằng phương pháp Amoni Thiocyanat cho thấy Apigenin có khả năng ức chế quá trình oxy hóa của β-caroten và lipid, đồng thời còn có tác dụng chống đông máu và kết tập tiểu cầu, kéo theo tiềm năng chống ung thư và bệnh lý liên quan Điều này làm rõ mối liên hệ giữa tác dụng của Apigenin và bài thuốc lá đắng trong dân gian Đặc biệt, Cosmosiin - một hợp chất lần đầu tiên được phân lập từ lá cây V amygdalina - thể hiện khả năng chống oxy hóa xuất sắc, với IC50 = 2,9 mM, gần bằng acid ascorbic Ngoài ra, Cosmosiin còn có khả năng ngăn chặn sự tăng sinh tế bào và kích thích quá trình apoptosis trong các tế bào ung thư dạ dày, mở rộng tiềm năng ứng dụng trong phòng chống bệnh ung thư.
Dự án đã hoàn thành mục tiêu đề ra, mang lại kết quả tích cực và mở ra nhiều cơ hội nghiên cứu mới trong lĩnh vực này.
Sau 6 tháng nghiên cứu về thành phần hóa học hướng chống oxy hóa của phân đoạn EtOAc từ lá cây Đắng (Vernonia atnygdalina Del Asteraceae), đề tài đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao hiểu biết về tiềm năng chống oxy hóa của chiết xuất này Các phân tích đã xác định thành phần chính có khả năng chống oxy hóa cao, mở ra cơ hội phát triển các sản phẩm dược phẩm và thực phẩm chức năng từ lá cây Đắng Nghiên cứu này không chỉ làm sáng rõ các hợp chất có hoạt tính sinh học mà còn thúc đẩy ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực y học cổ truyền và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy phân đoạn EtOAc thể hiện hoạt tính chống oxy hóa vượt trội, được đánh giá thông qua các phương pháp sàng lọc hoạt tính chống oxy hóa như phương pháp Folin-Ciocalteu và thử nghiệm DPPH Phân đoạn này là ứng cử viên tiềm năng trong quá trình phân lập các hợp chất có khả năng chống oxy hóa cao, góp phần phát triển các sản phẩm chống oxy hóa tự nhiên.
Từ phân đoạn EtOAc, quá trình sắc ký cột đã phân tách thành 9 phân đoạn đơn giản hơn, trong đó có 7 phân đoạn từ 3 đến 9 thể hiện hoạt tính chống oxy hóa mạnh mẽ Quá trình này cho thấy khả năng phân lập các hợp chất tự nhiên có tiềm năng chống oxy hóa cao, góp phần phát triển các sản phẩm chống lão hóa và bảo vệ sức khỏe Phân đoạn EtOAc sau khi qua sắc ký cột là bước quan trọng để xác định các hợp chất hoạt động sinh học, đặc biệt là các phân đoạn có hoạt tính chống oxy hóa rõ rệt.
- Thông qua cột cổ điển tiến hành phân tách phân đoạn 8, đã phân lập và định danh được 41,3 mg V3 (Cosmosiin)
- Bên cạnh đó, thông qua kỳ thuật kết tinh phân đoạn kết hợp sắc ký cột Sephadex LH-20, đã phân lập và định danh được 7,5 mg V4 (Apigenin)
- Ngoài ra, thông qua cột co dien tiến hành phân tách phân đoạn 6, kết họp tinh che bằng cột SPE C18-E đã phân lập được 4,5 mg V5 (Vernoniamyosid B).
Chất đã phân lập thể hiện hoạt tính chống oxy hóa yếu hơn so với chứng dương Rutin, được xác định qua giá trị IC50, với V3 có IC50 = 411,06 pM và Rutin có IC50 = 7,19 pM Các kết quả cho thấy hoạt tính chống oxy hóa của các hợp chất phân lập trên mô hình DPPH xếp theo thứ tự: Rutin > V3, thể hiện rõ sự khác biệt về khả năng chống oxy hóa giữa các hợp chất này.
1 Dương Thị Ngọc Hà (2018), “ Khảo sát hoạt tính chống oxy hóa lá cây lá đắng
Vernonia amygdalina del thuộc họ Asteraceae đã được nghiên cứu trên mô hình DPPH để đánh giá hoạt lực chống oxy hóa Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên trường Đại học Nguyễn Tất Thành chuyên ngành Sản xuất và Phát triển Thuốc đã phân tích tiềm năng dược liệu của loài này Các kết quả cho thấy, lá Vernonia amygdalina có khả năng quenching các gốc tự do DPPH, chứng tỏ hoạt tính chống oxy hóa mạnh mẽ Nghiên cứu này góp phần mở rộng kiến thức về giá trị dược liệu của Vernonia amygdalina trong lĩnh vực y học cổ truyền và phát triển thuốc tự nhiên Các dữ liệu trong khóa luận từ trang 21 đến 43 đã đưa ra các kết luận khoa học về tiềm năng ứng dụng của loài cây này trong các sản phẩm bảo vệ sức khỏe.
2 Huỳnh Thùy Thanh Ngọc (2018), “ Nghiên cứu thành phần hóa học cây lá đắng
(Vernonia amygdalina Del., Asteraceae) ” , Khỏa luận tốt nghiệp dược sì đại học Chuyên ngành Quản lý cung ứng - Trường đại học Nguyễn Tất Thành, tr 29-41.
3 Lê Thị Liên (2020), “ Nghiên cứu phân lập, xác định cấu trúc và đánh giá hoạt tính sinh học các hợp chat Steroid từ cây lá đắng (Vernonia amygdalinaỴ, Luận văn thạc sĩ hóa học - Học viên khoa học và công nghệ.
4 Lê Thị Mi Chi, Kiều Loan, Lê Thị Đại Phương (2016), "Khảo sát sơ bộ thành phần hóa học, đặc điếm vi phẫu và hình thái của cây Lá Đắng", Tạp chỉ Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nang, 1( 11), tr 78-81
5 Nguyền Khoa Hiền, Hoàng Phan Diễm Trân, Hoàng Lê Tuấn Anh, Phạm Việt Cường (2018), “ Cây lá đắng (Vernonia amygdalina Del) và hoạt tính sinh học”, Tạp chí Công Thương, số 14 - 11/2018, tr.412-419
6 Trân Hùng (2012), “Chất chống oxy hỏa tự nhiên trong chăm sóc sức khỏé”, Bộ môn Dược liêu, Đại học Y Dược tp HCM, tr 20-26
7 Trương Thị Đẹp (2014), "Thực vật Dược", NXB Giảo dục Việt Nam, TP Hồ Chỉ
8 VÕ Văn Chi (2012), "Từ điển cây thuốc Việt Nam", NXB YHọc, TP Hồ Chí Minh, tập 1, tr 96.
9 Adeíĩsayo, M A, Akomolafe, R o., Akinsomisoye, o s., Alabi, ọ K., Ogundipe, L, Omole, J G., & Olamilosoye, K p (2018), “Protective effects of methanol extract of Vernonia amygdalina (del.) leaf on aspirin-induced gastric ulceration and oxidative mucosal damage in a rat model of gastric injury”, Dose-
Response, 16(3). lO Adesanoye O.A., Farombi E.o (2010), "Hepatoprotective effects of
Vernonia amygdalina (Astereaceae) in rats treated with carbon tetrachloride", Exp Toxicol Pathol, 62(2), pp 197-206
11 Alara, o R., Abdurahman, N H., Abdul Mudalip, s K., & Olalere, o A (2017),
“Phytochemical and pharmacological properties of Vernonia amygdalina: a review”, Journal of Chemical Engineering and Industrial Biotechnology V2, 80, pp 96.
12 Asante, D B., Henneh, I T., Acheampong, D o., Kyei, F., Adokoh, c K., Ofori,
E G & Ameyaw, E 0 (2019), “Anti-inflammatory, anti-nociceptive and antipyretic activity of young and old leaves of Vernonia amygdalina”,
13 Atangwho, I.J., et al (2013), “Antioxidant versus anti-diabetic properties of leaves from Vernonia amygdalina Del growing in Malaysia”, Food
& Pathak, M K (2013), “ Vernonia amygdalina Delile (Asteraceae) -An African medicinal plant introduced in India”, Zoo's Print, 28(5), pp 18-20.
15 Chaves, D s., Frattani, F s., Assafim, M., de Almeida, A p., Zingali, R B., & Costa, s s (2011), “Phenolic chemical composition of Petroselinum crispum extract and its effect on haemostasis”, Natural Product Communications, 6(7), pp 961-964.
16 Dagnon, s., Novkova, z., Bojilov, D., Nedialkov, p., & Kouassi, c (2019),
“Development of surrogate standards approach for the determination of polyphenols in Vernonia amygdalin a Del”, Journal of Food Composition and
17 Erasto, p., Grierson, D s., & Afolayan, A J (2006), “Bioactive sesquiterpene lactones from the leaves of Vernonia amygdalina ”, Journal of ethnopharmacology, 106(1), pp 117-120.
18 Farombi E.o, Owoeye o (2011), "Antioxidative and Chemopreventive Properties of Vernonia amygdalina and Garcinia biflavonoid", International
Journal of Environmental Research and Pubic Health, 8(6), pp 2533-2555.
19 Hoang Le Tuan Anh , Le Thi Lien , Pham Viet Cuong , Masayoshi Arai, Tran Phuong Ha, Ton That Huu Da, Le Canh Viet Cuong (2018), “Sterols and flavone from the leaves of Vernonia amygdalina growing in Thua Thien Hue”, Vietnam
Journal of Science and Technology, 56(6), pp 681-687.
20 Igile, G o, Oleszek, w, Jurzysta, M., Burda, s, Fafunso, M., & Fasanmade
(1994), “Flavonoids from Vernonia amygdalina and their antioxidant activities”,
Journal of Agricultural and Food Chemistry, 42(11), pp 2445-2448.
21 Ijeh, I I, & Ejike, c E c c (2011), “ Current perspectives on the medicinal potentials of Vernonia amygdalina Del”, Journal of Medicinal Plants
22 Iwalewa E.o, Adewunmi C.O., Omisore N.O.A., Adebanji O.A., et al (2005),
"Pro- and Antioxidant Effects and Cytoprotective Potentials of Nine Edible Vegetables in Southwest Nigeria", Journal of Medicinal Food, 8(4), pp 539-544.
23 Iwalokun, B A., Efedede, B u., Alabi-Sofunde, J A., Oduala, T., Magbagbeola, o A., & Akinwande, A I (2006), “Hepatoprotective and antioxidant activities of
Vernonia amygdalina on acetaminophen-induced hepatic damage in mice”, Journal of Medicinal Food, 9(4), pp 524-530.
24 Jing Wang , Hua Song , Xiaoxue Wu, Shuyi Zhang, Xuemin Gao, Funan Li, Xuan Zhu and Qing Che, (2018), “Steroidal Saponins from Vernonia amygdalina Del and Their Biological Activity”, Molecules, 23(579).
25 Jisaka, M., Ohigashi, H., Takegawa, K., Hirota, M., Irie, R., Huffman, M A., & Koshimjzu, K (1993), “Steroid glucosides from Vernonia amygdalina, a possible chimpanzee medicinal plant”, Phytochemistry, 34(2), pp 409-413.
26 Mbang A Owolabi, Smith I Jaja, Oyenike o Oyekanmi, Opeyemi J Olatunji
(2008), "Evaluation of the Antioxidant Activity and Lipid Peroxidation of the Leaves of Vernonia amygdalina", Journal of Complementary and Integrative
“Antioxidant and immunomodulatory constituents of henna leaves”, Zeitschrift fur Naturforschung c, 59(7-8), pp 468-476.
28 Minari, J B (2012), “Hepatoprotective effect of methanolic extract of Vernonia amygdalina leaf’, J Nat Prod, 5, pp 188-192.
29 Nawwar, M A., El-Mousallamy, A M., Barakat, H H., Buddrus, J., & Linscheid,
M (1989), “Flavonoid lactates from leaves of Marrubium vulgare”, Phytochemistry, 28(1 1), pp 3201-3206.
30 Omoregie, E s., Pal, A., & Sisodia, B (2011), “In vitro antimalarial and cytotoxic activities of leaf extracts of Vernonia amygdalina (Del.)”, Nigerian Journal of
31 Osinubi, A A (2007), “Effects of Vernonia amygdalina and chlorpropamide on blood glucose”, Medical Journal of Islamic World Academy of Sciences, 16(3), pp.115-119
32 Owoeye, o., Yousuf, s., Akhtar, M N., Ọamar, K., Dar, A., Farombi, E o.,
& Choudhary, M I (2010), “Another anticancer elemanolide from Vernonia amygdalina Del”, International Journal of Biological and Chemical
Research by 0zbey et al (2019) highlights apigenin as a potent natural anticancer agent that modulates key signaling pathways such as TRAIL, WNT/β-catenin, and JAK-STAT, contributing to its therapeutic potential The study emphasizes the role of apigenin in regulating microRNAs, which are critical in cancer progression and treatment response These findings underscore the promise of apigenin as a multi-targeted compound in cancer prevention and therapy, supported by evidence from the Journal of Cellular Biochemistry.
34 Quasie, o., Zhang, Y M., Zhang, H J., Luo, J., & Kong, L Y (2016), “Four new steroid saponins with highly oxidized side chains from the leaves of Vernonia amygdalina”, Phytochemistry letters, 15, pp 16-20.
35 Sha'a, K K., Oguche, s., Watila, I M., & Ikpa, T F (2011), “In vitro aantimalarial activity of the extracts of Vernonia amygdalina commonly used in traditional medicine in Nigeria”, Science World Journal, 6(2), pp 5-9
36 Sharififar, F., Dehghn-Nudeh, G., & Mirtajaldini, M (2009), ’’Major flavonoids with antioxidant activity from Teucrium polium L”, Food chemistry, 112(4), pp 885-888.
37 St Augustines, T (2009), “Effects of Vernonia amygdalina on biochemical and hematological parameters in diabetic rats”, Asian Journal of Medical
38 Sun, Ọ., Lu, N N., & Feng, L (2018), “Apigetrin inhibits gastric cancer progression through inducing apoptosis and regulating ROS-modulated STAT3/JAK2 pathway”, Biochemical and biophysical research communications, 498(1), pp 164-170.
39 Takhtajan A (2009), "Flowering plant", Springer, 2, pp 498-503
40 Toyang N.J., Verpoorte R., (2013), "A review of the medicinal potentials of plants of the genus Vernonia (Asteraceae)", J Ethnopharmacol, 146(3), pp 681 - 723
41 Van Loo, p., De Bruyn, A., & Budẽsínský, M (1986) Reinvestigation of the structural assignment of signals in the 1H and 13C NMR spectra of the flavone apigenin Magnetic Resonance in Chemistry, 24(10), pp 879-882.
42 Vats, s, (2011), "Evaluation of antioxidant potential of Alangium salviifolium (Lf) Wangerin", Asian Pacific Journal of Tropical Biomedicine, pp 147-150
43 Wong, F c., Woo, c c., Hsu, A., & Tan, B K H, (2013), “The anti-cancer activities of Vernonia amygdalina extract in human breast cancer cell lines are mediated through caspase-dependent and p53-independent pathways”, PLoS
44 Wu Z.Y, Raven P.H, Hong D.Y, (2011), Flora of China, 20(2), pp 354-371.
45 Yeap, s K., Ho, w Y., Beh, B K„ Liang, w s., Ky, H., Yousr, A H N., & Alitheen, N B (2010), “ Vernonia amygdalina, an ethnoveterinary and ethnomedical used green vegetable with multiple bioactivities”, Journal of medicinal plants research, 4(25), pp 2787-2812.
46 Yedjou, c., Izevbigie, E., & Tchounwou, p B, (2008), “Preclinical assessment of Vernonia amygdalina leaf extracts as DNA damaging anti-cancer agent in the management of breast cancer”, International journal of environmental research and public health, 5(5), pp 337-341.
PHỤ LỤC DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Dừ liệu thử nghiệm sinh học của V3 PL-2Phụ lục 2 Dừ liệu thử nghiệm sinh học của Rutin PL-3
Phụ lục 1 Dữ liệu thử nghiệm sinh học của V3
Equation: Sigmoidal, Sigmoid, 5 Parameter f - yO+a/( 1 +exp(-(x-xO)/b))Ac
R Rsqr Adj Rsqr Standard Error of Estimate
Analysis of Variance: a 960.0480 (+inf) 0.0000 (+inf) b 762.5227 (+inf) 0.0000 (+inf) c 6.4867 (+inf) 0.0000 (+inf) xO -2497.9243 (+inf) -0.0000 (+inf) yO -742.8700 (+inf) -0.0000 (+inf)
Corrected for the mean of the observations:
Normality Test (Shapiro-Wilk) w Statistic= 0.9532
Constant Variance Test (Spearman Rank Correlation) Passed (P = 0.0500)