Mặt khác, theo quy định của pháp luật về dân sự nói chung và Luật Công chứng nóiriêng thì các hợp đồng, giao dịch dân sự được thực hiện theo nguyên tắc chung là phải có sự thỏa thuận về
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC
BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN
KỸ NĂNG CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG
Chuyên đề: Quy trình công chứng hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật Việt Nam - đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020
MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 1
2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu 1
2.1 Mục đích nghiên cứu 1
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.3 Đối tượng nghiên cứu 2
3 Cơ cấu của bài báo cáo 2
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 3
1 Khái niệm, đặc điểm của công chứng 3
1.1 Khái niệm công chứng 3
1.2 Đặc điểm của công chứng 5
2 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về công chứng ở Việt Nam 6
2.1 Trước năm 1945 6
2.1.1 Thời kỳ phong kiến 6
Trang 22.1.2 Thời kỳ Pháp thuộc 6
2.2 Từ năm 1945 đến trước khi có Luật Công chứng 7
2.2.1 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1991 7
2.2.2 Thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2006 8
2.3 Từ khi có Luật Công chứng đến nay 9
2.3.1 Luật Công chứng năm 2006 9
2.3.2 Luật Công chứng năm 2014 9
CHƯƠNG II: QUY TRÌNH CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 11
1 Quy trình công chứng hợp đồng, giao dịch 11
1.1 Tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch 11
1.2 Soạn thảo, kiểm tra và thông qua dự thảo hợp đồng, giao dịch 18
1.3 Công chứng viên chứng kiến người yêu cầu công chứng, người làm chứng và người phiên dịch (nếu có) ký, điểm chỉ vào hợp đồng, giao dịch 19
1.4 Công chứng viên đối chiếu bản chính giấy tờ, ký văn bản công chứng và hoàn tất thủ tục công chứng 20
1.4.1 Thu phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác 20
1.4.2 Đóng dấu, phát hành văn bản công chứng cho các bên tham gia 25
1.4.3 Lưu trữ hồ sơ công chứng 25
2 Các quy định của pháp luật có liên quan đến quy trình công chứng hợp đồng, giao dịch 2 6 2.1 Sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng 26
2.2 Sửa đoi, bổ sung, hủy bỏ văn bản công chứng 26
2.3 Cấp bản sao văn bản công chứng 27
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI QUY TRÌNH CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH 28
1 Nâng cao nhận thức về công chứng 28
2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về quy trình công chứng hợp đồng giao dịch 29
2.1 Những mặt đạt được 29
2.2 Những mặt hạn chế 29
3 Giải pháp, kiến nghị đối với quy trình công chứng hợp đồng giao dịch 30
KẾT LUẬN 32
Trang 3DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Hiện nay cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội thì vai trò, vị trí của pháp luậttrong đời sống cũng ngày càng được nâng cao Các giao dịch dân sự về mua bán, tặngcho, chuyển nhượng, thế chấp ngày càng phổ biến Các giao dịch này mang lại lợi ích vềkinh tế tuy nhiên cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro, dẫn đến những hậu quả bất lợi, nhữngtranh chấp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên tham gia vào giao dịch Côngchứng chính là một giải pháp hiệu quả và được nhiều người lựa chọn để giải quyết vấn
đề này Nhận thấy được hiện trạng này, Nhà nước đã đưa ra các quy định nhằm đảm bảo
về giá trị pháp lý của văn bản, giấy tờ được công chứng
Việc tham gia vào quá trình giao kết hợp đồng của công chứng viên có thể đượcthực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau và kết quả cuối cùng của quá trình đó đượcthể hiện dưới một hình thức chung nhất là những hợp đồng, giao dịch đã được côngchứng hay còn gọi là văn bản công chứng
Các văn bản công chứng có giá trị pháp lý và độ tin cậy hơn hẳn các loại giấy tờkhông có chứng nhận xác thực hoặc chỉ trình bày bằng miệng Các văn bản công chứngbảo đảm sự an toàn của các giao dịch từ đó tạo nên sự yên tâm, tin tưởng của kháchhàng, hạn chế đến mức thấp nhất các tranh chấp có thể xảy ra Từ đó cũng góp phần làmgiảm đáng kể việc giải quyết tranh chấp luôn là gánh nặng của các cơ quan chức năng vàgiúp các cơ quan chức năng quản lý tốt hơn các hoạt động giao dịch Để đảm bảo đượcgiá trị pháp lý cũng như hiệu lực của các hợp đồng, giao dịch đã được công chứng thìcông chứng viên trong quá trình thực hiện hoạt động công chứng cần phải tuân thủ theo
đúng trình tự, thủ tục công chứng Chính vì lý do đó, học viên lựa chọn đề tài “Quy trình công chứng hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật Việt Nam - đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật” làm đề tài báo cáo kết thúc học phần.
2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Góp phần làm rõ các vấn đề quy trình công chứng hợp đồng, giao dịch; đánh giáđúng thực trạng về công chứng hợp đồng, giao dịch ở nước ta hiện nay; đề xuất các giảipháp giúp hoàn thiện về quy trình công chứng hợp đồng, giao dịch
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nhận thức chung về hoạt động công chứng hợp đồng, giao dịch từ đó đưa
Trang 5ra khái niệm, đặc điểm Đánh giá những kết quả đạt được, làm rõ những tồn tại, hạn chếcủa quy trình công chứng hợp đồng, giao dịch Đề xuất được các giải pháp nhằm hoànthiện quy trình công chứng hợp đồng, giao dịch
2.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài báo cáo là quy trình công chứng hợp đồng, giao dịchtập trung vào một số nội dung chủ yếu như khái niệm, đặc điểm, trình tự, thủ tục côngchứng hợp đồng, giao dịch tại Việt Nam; những quy định của pháp luật liên quan đếnvấn đề công chứng hợp đồng, giao dịch Từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị thay đổiquy định của pháp luật về quy trình công chứng hợp đồng, giao dịch
3 Cơ cấu của bài báo cáo
Bài báo cáo gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát chung về hoạt động công chứng
Chương II: Quy trình công chứng hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật Việt Nam
Chương III: Giải pháp, kiến nghị đối với quy trình công chứng hợp đồng, giao dịch
Trang 6CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
1 Khái niệm, đặc điểm của công chứng
1.1 Khái niệm công chứng
Có thể nói cuộc sống của mỗi con người chính là sự tổng hòa của nhiều mối quan
hệ, trong đó những quan hệ về giao dịch dân sự được diễn ra ngày càng phổ biến Việcmua bán, trao đổi hàng hóa, tài sản nói chung không chỉ được thực hiện thông qua giaodịch bằng miệng mà còn dưới hình thức giao dịch bằng văn bản Người có tài sản (theoquy định của Bộ luật Dân sự) có quyền định đoạt tài sản của mình theo nhiều hình thứcbằng văn bản như: mua bán, tặng cho, thế chấp, để lại thừa kế bằng di chúc Các quan hệgiao dịch đó phải được xác lập và thực hiện
theo một trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật Một số trường hợp hợp đồng, giaodịch liên quan đến việc định đoạt tài sản như hợp đồng, giao dịch về chuyển nhượngquyền sử dụng đất; chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; hợpđồng thế chấp tài sản pháp luật quy định bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thựcthì các bên tham gia giao dịch phải tuân thủ và không thể làm trái
Mặt khác, theo quy định của pháp luật về dân sự nói chung và Luật Công chứng nóiriêng thì các hợp đồng, giao dịch dân sự được thực hiện theo nguyên tắc chung là phải có
sự thỏa thuận về ý chí, đảm bảo về năng lực hành vi dân sự của các bên tham gia giao kếthợp đồng; đồng thời các hợp đồng, giao dịch phải có mục đích và nội dung không tráipháp luật và đạo đức xã hội Ngoài các hợp đồng, giao dịch mà pháp luật bắt buộc phảicông chứng hoặc chứng thực thì các giao dịch khác như hợp đồng thuê nhà, hợp đồng đặtcọc nếu đáp ứng được các quy định của pháp luật và các bên tham gia có yêu cầu côngchứng thì vẫn được công chứng
Một công việc khác cũng được quy định trong thấm quyền công chứng đó là việccông chứng bản dịch các giấy tờ, văn bản và được quy định chi tiết tại Điều 61, LuậtCông chứng năm 2014 Theo đó, việc dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nướcngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt để công chứng phải do người phiên dịch
là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện Cộng tác viên phải làngười tốt nghiệp đại học ngoại ngữ hoặc đại học khác mà thông thạo thứ tiếng nướcngoài đó Cộng tác viên phải chịu trách nhiệm đối với tổ chức hành nghề công chứng vềtính chính xác, phù hợp của nội dung bản dịch do mình thực hiện Công chứng viên tiếp
Trang 7nhận bản chính giấy tờ, văn bản cần dịch, kiểm tra và giao cho người phiên dịch là cộngtác viên của tổ chức mình thực hiện Người phiên dịch phải ký vào từng trang của bảndịch trước khi công chứng viên ghi lời chứng và ký vào từng trang của bản dịch Từngtrang của bản dịch phải được đóng dấu chữ “Bản dịch” vào chỗ trống phía trên bên phải;bản dịch phải được đính kèm với bản sao của bản chính và được đóng dấu giáp lai Lờichứng của công chứng viên đối với bản dịch phải ghi rõ thời điểm, địa điểm công chứng,
họ tên công chứng viên, tên tổ chức hành nghề công chứng; họ tên người phiên dịch;chứng nhận chữ ký trong bản dịch đúng là chữ ký của người phiên dịch; chứng nhận nộidung bản dịch là chính xác, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; có chữ
ký của công chứng viên và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng Công chứngviên không được nhận và công chứng bản dịch trong các trường hợp như công chứngviên biết hoặc phải biết bản chính được cấp sai tham quyền hoặc không hợp lệ; bản chínhgiả; giấy tờ, văn bản được yêu cầu dịch đã bị tay xoá, sửa chữa, thêm, bớt hoặc bị hưhỏng, cũ nát không thể xác định rõ nội dung; giấy tờ, văn bản được yêu cầu dịch thuộc bímật nhà nước; giấy tờ, văn bản bị cấm phổ biến theo quy định của pháp luật
Việc công chứng các hợp đồng, giao dịch và công chứng bản dịch phải do côngchứng viên làm việc tại một tổ chức hành nghề công chứng thực hiện
Do vậy, theo Khoản 1, Điều 2, Luật Công chứng năm 2014 thì: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản
từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức
tự nguyện yêu cầu công chứng”.
1.2 Đặc điểm của công chứng
Hoạt động công chứng vừa mang tính công quyền vừa mang tính chất dịch vụ công.Tính công quyền được thể hiện ở chổ đó là công chứng viên của Phòng công chứng hayVăn phòng công chứng đều do Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm Công chứng viên nhândanh Nhà nước trong quá trình thực hiện hoạt động công chứng, chứng thực Nếu nhưthời điểm trước chỉ có Phòng công chứng (công chứng Nhà nước) thì bây giờ nhằm đápứng nhu cầu về công chứng, chứng thực của người dân Nhà nước đã cho phép đượcthành lập các Văn phòng công chứng (công chứng tư nhân) Các Văn phòng công chứng
Trang 8được nhà nước trao quyền để thực hiện các dịch vụ mang tính chất công với mục đíchnhằm giảm bớt gánh nặng về công chứng, chứng thực cho các Phòng công chứng, thúcđấy sự phát triển của xã hội Khi hành nghề công chứng, bên cạnh việc tuân thủ các quyđịnh của pháp luật về công chứng, công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứngcòn phải tuân thủ theo các nguyên tắc được quy định trong pháp luật nội dung như Hiếnpháp, Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hôn nhân và gia đình Hoạt độngcông chứng được xác định là một nghề, do vậy ngoài phải tuân thủ theo các quy định tạiLuật Công chứng và các văn bản pháp luật hướng dẫn liên quan thì còn phải tuân thủtheo các nguyên tắc hành nghề công chứng Đây chính là quy định có ý nghĩa xuyên suốttrong quá trình hành nghề của công chứng viên Theo quy định tại Điều 4, Luật Côngchứng năm 2014 thì nguyên tắc hành nghề công chứng của công chứng viên gồm 4
nguyên tắc đó là “(1) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; (2) Khách quan, trung thực; (3) Tuân theo quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; (4) Chịu trách nhiệm trước pháp luật
và người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng” Do vậy, để đảm bảo được giá trị
pháp lý của văn bản công chứng cũng như an toàn cho công chứng viên thì hoạt độngcông chứng có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, hoạt động công chứng phải do công chứng viên thực hiện Công chứng
viên là người tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng, kiểm tra các giấy tờ, xác định nănglực hành vi dân sự, giải thích cho các bên hiểu rõ về quyền lợi, nghĩa vụ và hậu quả pháp
lý sau khi ký kết hợp đồng, giao dịch
Thứ hai, nội dung công chứng là xác định tính xác thực, tính hợp pháp của hợp
đồng, giao dịch Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó đã đượccông chứng viên xác nhận
Thứ ba, có hai loại hợp đồng giao dịch thực hiện hoạt động công chứng, đó là các
loại hợp đồng giao dịch theo yêu cầu của pháp luật bắt buộc phải công chứng và các hợpđồng giao dịch do cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng
Thứ tư, ý nghĩa pháp lý của hoạt động công chứng là bảo đảm giá trị thực hiện cho
các hợp đồng giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và cung cấp chứng cứ nếu có tranh chấpxảy ra
2 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về công chứng ở Việt Nam
Sự hình thành và phát triển công chứng Việt Nam gắn liền với các giai đoạn lịch sửcủa nước ta và được chia thành các giai đoạn sau:
Trang 92.1 Trước năm 1945
2.1.1 Thời kỳ phong kiến
Cấu trúc bộ máy Nhà nước của chế độ phong kiến đó là tập trung quyền lực vào mộtngười - vua Việc tổ chức các cơ quan hành pháp, tư pháp theo bổ nhiệm, không qua dânchủ bầu cử Việc thực hiện các quan hệ, giao dịch dân sự của cá nhân mang tính tự phát.Hình thức văn bản giao dịch dân sự chủ yếu là được lập dưới dạng văn tự, nội dung cònđơn giản Trong trường hợp nếu có tranh chấp xảy ra thì việc giải quyết tranh chấp đượcthực hiện tại cấp làng, xã hoặc cao hơn là kéo nhau lên quan phủ, quan huyện để phângiải
2.1.2 Thời kỳ Pháp thuộc
Công chứng đã có ở Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp xâm lược và coi Việt Nam làmột nước thuộc địa Hoạt động công chứng lúc này chủ yếu phục vụ cho chính sách caitrị của Pháp tại Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng Tiêu biểu là sắc lệnhngày 24 tháng 8 năm 1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng (được
áp dụng ở Đông Dương theo quyết định ngày 7 tháng 10 năm 1931 của Toàn quyềnĐông Dương P.Pasquies) Theo đó, người thực hiện công chứng là công chứng viênmang quốc tịch Pháp do Tổng thống Pháp bổ nhiệm và giữ chức vụ suốt đời Khi đó ViệtNam chỉ có một văn phòng công chứng ở Hà Nội, ba văn phòng công chứng ở Sài Gòn.Ngoài ra ở các thành phố Hải Phòng, Nam Định, Đà Nang thì việc công chứng do Chánhlục sự Tòa án sơ thấm kiêm nhiệm
2.2.1 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1991
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủCộng hòa, ngày 01 tháng 10 năm 1945 Bộ trưởng Bộ Tư Pháp Vũ Trọng Khánh đã kýquyết định về một số vấn đề liên quan đến hoạt động công chứng như: bãi chức côngchứng viên người Pháp tên là Deroche tại văn phòng công chứng; bổ nhiệm một côngchứng viên người Việt Nam là ông Vũ Quý Vỹ để tiếp tục duy trì hoạt động công chứng.Các quy định về công chứng của Pháp vẫn được áp dụng, trừ những quy định không phùhợp với chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa
Để đáp ứng các nhu cầu giao dịch dân sự của nhân dân, ngày 15 tháng 11 năm 1945Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 59/SL quy định về thể lệ thị thực các giấy tờ trong
đó có chứng thực các giao dịch về bất động sản Xét về nội dung đây chỉ là một thủ tục
Trang 10hành chính càng về sau việc áp dụng Sắc lệnh 59/SL càng mang tính hình thức, chủ yếuxác nhận ngày tháng năm, chữ ký và địa chỉ thường trú của đương sự Sau đó, vào ngày
29 tháng 2 năm 1952 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 85/SL quy định vềthể lệ trước bạ về các việc mua, bán, cho, đoi nhà cửa, ruộng đất Do hoàn cảnh lịch sửbấy giờ Sắc lệnh số 85/SL chỉ áp dụng đối với những vùng thuộc Ủy ban kháng chiến.Cũng theo sắc lệnh này, Ủy ban kháng chiến cấp xã hoặc thị xã được nhận thực vào văn
tự theo hai nội dung: nhận thực chữ ký của các bên mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộngđất; nhận thực người đứng ra bán, cho, đoi là chủ của những nhà cửa, ruộng đất, đembán, cho hay đoi
Theo quy định của Nghị định số 143/HĐBT ngày 22 tháng 11 năm 1981 do Hộiđồng Bộ trưởng ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Bộ Tưpháp, Bộ Tư pháp đã ra Thông tư số 574/QLTPK ngày 10 tháng 10 năm 1987 về hướngdẫn thực hiện công tác công chứng Nhà nước để Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện;đồng thời có sự chỉ đạo để Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thí điểm thànhlập Phòng công chứng Nhà nước Sau đó, để tạo điều kiện cho các địa phương tiếp cậngần hơn với hoạt động công chứng, Bộ Tư pháp đã ban hành tiếp Thông tư số858/QLTPK ngày 15 tháng 10 năm 1987 hướng dẫn thực hiện các việc làm công chứng.Tại thời điểm này, chủ thể thực hiện công chứng duy nhất là Phòng công chứng
Tại miền Nam Việt Nam sau khi pháp rút khỏi Việt Nam vào năm 1954, công chứngdưới thời chính quyền Ngụy- Sài Gòn được điều chỉnh bằng văn bản Dụ số 43 ngày 29tháng 11 năm 1954 quy định về ngạch chưởng khế (chưởng khế là người Việt Nam) doBảo Đại ký với tư cách là Quốc trưởng Mục đích ban hành chưởng khế là nhằm thiết lậptrong quản hạt của mỗi Tóa án cấp sơ thấm thuộc Bộ Tư pháp có một phòng công chứng,song trên thực tế chỉ thiết lập được duy nhất một văn phòng chưởng khế tại Sài Gòn vàvăn phòng đó đã hoạt động cho đến năm 1975
2.2.2 Thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2006
Trước những yêu cầu về giao dịch dân sự ngày càng phát triển để tăng cường vai tròquản lý của Nhà nước và đảm bảo cho các giao dịch dân sự an toàn về pháp lý, tránh sựtranh chấp, rủi ro cho các cá nhân, tổ chức khi họ tham gia ký kết các hợp đồng giaodịch, Chính phủ đã ban hành một số nghị định về công chứng gồm:
Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhànước gồm 4 chương, 36 điều Lần đầu tiên trong văn bản quy phạm pháp luật của Việt
Trang 11Nam khái niệm về công chứng được đưa ra: “Công chứng Nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” Trong Nghị định đã quy định các nguyên tắc chung,
các điều kiện để công chứng và các việc công chứng Nghị định này có hiệu lực đến hếtngày 17/5/1996
Ngày 18/5/1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/CP về tổ chức và hoạt độngcông chứng Nhà nước Nghị định này gồm có 6 chương, 36 điều Nghị định này có hiệulực đến ngày 31/3/2001
Ngày 08/12/2000, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về côngchứng chứng thực có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2001, gồm có 10 chương, 75điều Đây là Nghị định quy định ghép về công chứng và chứng thực trong một văn bản
quy phạm Tại Điều 2, Nghị định này quy định về công chứng như sau: “Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này” Nghị định này chấm dứt hiệu lực thi hành vào ngày 01/7/2007.
2.3 Từ khi có Luật Công chứng đến nay
2.3.1 Luật Công chứng năm 2006
Từ ngày 17/10 đến ngày 29/11/2006, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã ra Nghị quyết thông qua Luật Công chứng năm
2006, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2007 Lần đầu tiên trong Luật Công
chứng năm 2006 đưa ra khái nệm mới về công chứng: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi
là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.
Trong Luật Công chứng năm 2006 đã xác định công chứng là một nghề, công chứng viên
là người hành nghề công chứng Với kết cấu 8 chương, 67 điều, bao gồm các chế định vềphần chung, về tổ chức và hoạt động công chứng, về quản lý Nhà nước về công chứng.Luật Công chứng năm 2006 là bước đột phá mới về công chứng, đưa hoạt động côngchứng ở Việt Nam đi vào chuyên nghiệp hóa, chuyển dần xã hội hóa hoạt động công
Trang 122.3.2 Luật Công chứng năm 2014
Trước yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước thì Luật Công chứng năm 2014được ban hành thay thế Luật Công chứng năm 2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày01/01/2015 Với kết cấu 10 chương, 81 điều Sau khi Luật Công chứng năm 2014 cóhiệu lực thi hành, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng Thông tư số06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềucủa Luật Công chứng
Trang 13CHƯƠNG II QUY TRÌNH CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1 Quy trình công chứng hợp đồng, giao dịch
Để hợp đồng, giao dịch được công chứng viên chứng nhận luôn đảm bảo được giá trịpháp lý cũng như phòng ngừa được tranh chấp thì công chứng viên bắt buộc phải tuân thủtheo các trình tự, thủ tục công chứng phù hợp với quy định của pháp luật Khi công chứnghợp đồng, giao dịch công chứng viên cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản về giao kết, xác lậphợp đồng giao dịch theo đúng quy định của pháp luật nội dung Theo đó, quy trình côngchứng có thể được chia thành các bước như sau đây:
- Tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch
- Soạn thảo, kiểm tra và thông qua dự thảo hợp đồng, giao dịch
- Công chứng viên chứng kiến người yêu cầu công chứng, người làm chứng và ngườiphiên dịch (nếu có) ký, điểm chỉ vào hợp đồng, giao dịch
- Công chứng viên đối chiếu bản chính giấy tờ, ký lời chứng và hoàn tất thủ tục côngchứng
1.1 Tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch
Đây là bước đầu tiên cũng là bước vô cùng quan trọng trong hoạt động công chứng vì nó
là cơ sở để công chứng viên thực hiện các bước tiếp theo nhanh chóng, thuận lợi, đúng phápluật, bảo đảm được tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch Mục tiêu của bướctiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch chính là việc công chứng viên xácđịnh có hay không thụ lý hồ sơ yêu cầu công chứng
Khi tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng, công chứng viên phải có sự trao đổi thông tinvới người yêu cầu công chứng để làm rõ các vấn đề sau:
Xác định được ý chí chủ quan của các bên khi tham gia hợp đồng, giao dịch là gì Điều
này giúp công chứng viên xác định được chính xác yêu cầu công chứng; làm rõ loại hợpđồng, giao dịch mà các bên đề nghị công chứng Trên thực tế, có nhiều trường hợp người yêucầu công chứng đến tổ chức hành nghề công chứng đề nghị công chứng hợp đồng tặng cho,nhưng sau khi công chứng viên trao đổi nhưỡng nội dung liên quan đến hợp đồng với ngườiyêu cầu công chứng thì mới phát hiện ra là họ yêu cầu công chứng di chúc mà không phảihợp đồng tặng cho
Khi đã nắm bắt được yêu cầu công chứng cụ thể của người yêu cầu công chứng, công
Trang 14chứng viên phải xác định được việc yêu cầu công chứng đó có thuộc thấm quyền của tổ chứchành nghề công chứng đó không (theo quy định tại Điều 42, Luật Công chứng năm 2014).
Ví dụ: Ông A là chủ sở hữu căn nhà và quyền sử dụng đất tại huyện Đức Hòa, tỉnh Long
An Ông A đến Văn phòng công chứng B tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đểyêu cầu công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng Trường hợp này thì công chứng viên phải
từ chối và giải thích cho ông A hiểu rõ về thấm quyền công chứng, sau đó hướng dẫn ông A
về các tổ chức hành nghề công chứng tại tỉnh Long An để ký hợp đồng chuyển nhượng cănnhà và quyền sử dụng đất nêu trên
Khi trao đổi công chứng viên phải xác định xem nội dung yêu cầu công chứng có viphạm pháp luật và trái đạo đức xã hội không
Sau khi xác định chính xác được yêu cầu công chứng là loại việc gì và thuộc thấmquyền của tổ chức mình, đồng thời xác định được quy định pháp luật điều chỉnh quan hệđược xác lập giữa các bên tham giao vào hợp đồng, giao dịch thì công chứng viên phảihướng dẫn người yêu cầu công chứng chuấn bị hồ sơ công chứng Theo quy định tại Khoản
1, Điều 40 và Khoản 1, Điều 41 Luật Công chứng năm 2014 thì thành phần các giấy tờ, tàiliệu trong hồ sơ yêu cầu công chứng gồm:
>
Phiếu yêu cầu công chứng;>
Dự thảo hợp đồng, giao dịch (nếu có);>
Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng;>
Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thếđược pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu,quyền sử dụng trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó>
Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy địnhphải có- Phiếu yêu cầu công chứng là loại giấy tờ đầu tiên có ý nghĩa làm căn cứ, cơ sở choviệc phát sinh, thực hiện các hoạt động công chứng tiếp theo trong quy trình công chứng.Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 40, Luật Công chứng năm 2014 thì phiếu yêu cầucông chứng phải đảm bảo thể hiện được đầy đủ các nội dung như thông tin về họ tên, địa chỉngười yêu cầu công chứng; nội dung cần công chứng; danh mục giấy tờ gửi kèm theo; tên tổchức hành nghề công chứng; họ tên người tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng và thời điểmtiếp nhận hồ sơ
Việc Luật Công chứng năm 2014 không đưa ra quy định về mẫu phiếu yêu cầu côngchứng mà chỉ quy định các nội dung cần phải có trong phiếu yêu cầu công chứng là hoàn
Trang 15toàn phù hợp với thực tiễn hoạt động công chứng ở Việt Nam Các tổ chức hành nghề côngchứng vừa chủ động xây dựng mẫu phiếu yêu cầu công chứng để áp dụng một cách linh hoạtvừa đảm bảo được các yêu cầu cần thiết mà luật quy định.
- Về dự thảo hợp đồng, giao dịch thì tùy theo việc công chứng thuộc trường hợp hợpđồng, giao dịch đã được soạn sẵn hay công chứng viên soạn thảo, văn bản theo đề nghị củangười yêu cầu công chứng mà hồ sơ yêu cầu công chứng sẽ có những sự khác biệt nhất định
Ví dụ như trong trường hợp công chứng hợp, đồng giao dịch mà người yêu cầu công chứng
đề nghị công chứng viên soạn thảo hợp đồng, văn bản thì các bên tham gia không cần phảicung cấp bản dự thảo hợp đồng, giao dịch Đối với những trường hợp mà pháp luật có quyđịnh về mẫu của hợp đồng, giao dịch thì hợp đồng, văn bản đó phải được tuân thủ theo đúngmẫu mà pháp luật đã quy định
- Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng là bản chụp, bản in hoặc bảnđánh máy có nội dung đầy đủ, chính xác như bản chính và không phải chứng thực (Theo quyđịnh tại khoản 2, Điều 40, Luật Công chứng năm 2014)
Để một giao dịch dân sự có hiệu lực thì cần phải đáp ứng được các điều kiện quy định tạiĐiều 117, Bộ luật Dân sự năm 2015 gồm:
>
Chủ thể tham gia giao dịch có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sựphù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;>
Chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;>
Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, khôngtrái đạo đức xã hộiNăng lực hành vi dân sự là yếu tố quan trọng, cơ bản quyết định đến việc một giao dịchdân sự có hiệu lực hay không Để xác định được năng lực hành vi của chủ thể tham gia giaodịch, công chứng viên trước hết cần căn cứ vào các giấy tờ tùy thân mà người đó cung cấp
Do chưa thống nhất cách hiểu nên mỗi lĩnh vực lại quy định về giấy tờ tùy thân khác nhau, ví
dụ như:
>
Theo quy định tại khoản 1, Điều 2, Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 vềquy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch thì “Người yêu cầu đăng ký
hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân
>
Theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 5, Luật Căn cước công dân năm 2014 thì Trang 16“Sử dụng thẻ Căn cước công dân của mình trong giao dịch, thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của công dân ”.
y Theo quy định tại Điều 1, Nghị định 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 về chứng minh nhân dân thì “Chứng minh nhân dân quy định tại Nghị định này là một loại giấy tờ tùy thân của công dân do cơ quan Công an có thẩm quyền chứng nhận về những đặc điểm riêng và nội dung cơ bản của môi công dân trong độ tuổi do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm thuận tiện việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của công dân trong đi lại và thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam ”.
'p Theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 1, Nghị định số 130/2008/NĐ-CP ngày
19/12/2008 về giấy chứng minh sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam thì giấy chứng minh sĩ
quan được cấp nhằm mục đích “Phục vụ công tác chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và thực hiện các giao dịch dân sự”.
>
Tại Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 về xuất cảnh, nhập cảnh của côngdân Việt Nam có quy định hộ chiếu quốc gia được sử dụng thay thế chứng minh nhân dân>
Theo quy định tại khoản 2, Điều 3, Nghị định số 59/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016quy định về chứng minh quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng thìmục đích sử dụng của chứng minh quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốcphòng là phục vụ công tác quản lý quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốcphòng và thực hiện các giao dịch dân sựDù giấy tờ tuy thân được hiểu khác nhau ở các lĩnh vực, tuy nhiên trong hoạt động côngchứng thì giấy tờ tùy thân có giá trị xác định chính xác người yêu cầu công chứng là ai,khẳng định được mình chính là chủ thể có quyền xác lập, thực hiện giao dịch trước côngchứng viên Thông qua giấy tờ tùy thân, công chứng viên cũng xác định được độ tuổi củangười yêu cầu công chứng có đáp ứng được các quy định của pháp luật khi xác lập giao dịchhay không Như vậy, có thể nói giấy tờ tùy thân là một trong những căn cứ quan trọng giúpcông chứng viên xác thực được về chủ thể tham gia giao dịch Thực tế hiện nay, các côngchứng viên thường chấp nhận sử dụng một số loại giấy tờ tùy thân như: chứng minh nhândân, căn cước công dân, hộ chiếu, chứng minh sĩ quan quân đội, chứng minh quân nhânchuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng
- Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thếđược pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu,quyền sử dụng trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó Đây chính làgiấy tờ pháp lý chứng minh quyền giao kết hợp đồng, giao dịch của người yêu cầu công