Quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài Bản chất của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam được thể hiện tại khoản 2 điều 663 Bộ luật dân sự năm 2015
Trang 1Báo Cáo Kết Thúc Học Phần Nghề Công Chứng Các Hợp
Đồng Chuyên Đề Tốt Nghiệp (Đại học Đà Nẵng)
Báo Cáo Kết Thúc Học Phần Nghề Công Chứng Các Hợp
Đồng Chuyên Đề Tốt Nghiệp (Đại học Đà Nẵng)
Trang 2HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC
BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN
Môn học: Công chứng các hợp đồng về biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ
và công chứng các hợp đồng giao dịch khác
Họ và tên:
Sinh ngày SBD: Lớp: D1 Công chứng khóa: 24 1 (D) tại Hà Nội
, ngày tháng 02 năm 2022
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
1 Những vấn đề lý luận liên quan đến chủ đề nghiên cứu 2
1.1 Quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài 2
1.2 Hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài 5
2 Giải quyết tình huống 7
3 Thực tiễn công chứng hợp đồng, giao dịch có yếu tố nước ngoài và kiến nghị hoàn thiện 9
3.1 Những mặt đạt được 9
3.2 Những tồn tại, hạn chế và kiến nghị hoàn thiện trong việc công chứng hợp đồng, giao dịch có yếu tố nước ngoài 10
KẾT LUẬN 14 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com
Trang 4PHẦN I: MỞ ĐẦU
Hợp đồng, giao dịch có yếu tố nước ngoài là một chế định quan trọng trong luật dân
sự nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung Việc xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài là vấn đề đáng được quan tâm bởi tính cấp thiết của nó,
có xác định đúng pháp luật áp dụng thì các tranh chấp mới được giải quyết triệt để, kịp thời, toàn diện So với Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2015 đã có những sửa đổi quan trọng về lựa chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài khi khẳng định nguyên tắc tự do lựa chọn pháp luật cho hợp đồng có yếu tố nước ngoài Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, những quan hệ dân sự phát sinh giữa các thể nhân và pháp nhân từ các nước khác nhau xuất hiện ngày một nhiều hơn, nhất là trong lĩnh vực hợp đồng Do đó, việc xây dựng những nguyên tắc nhằm xác định pháp luật điều chỉnh hợp đồng, giao dịch có yếu tố nước ngoài một cách hiệu quả là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu đặc biệt là quan
hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa
kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các quyền của công dân Chính vì vậy, thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội Mỗi Nhà nước
dù có các xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bản của công dân và được ghi nhận trong Hiến pháp Hiện nay, nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
đã trở thành một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với Việt Nam Thế nhưng về thực tiễn, do
sự phát triển mạnh mẽ từng ngày, từng giờ của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, nên pháp luật thừa kế hiện hành vẫn chưa thể trù liệu hết những trường hợp, tình huống xảy
ra trên thực tế Trong khi đó, quá trình hội nhập đòi hỏi Việt Nam phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện Cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về thừa kế có yếu tố nước ngoài nói chung và pháp luật điều chỉnh các quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài nói riêng, là một yêu cầu cấp thiết hiện nay Vận dụng những kiến thức đã học, học viên xin trình bày những nội dung liên quan đến báo cáo chuyên đề
Trang 5PHẦN II: NỘI DUNG
1 Những vấn đề lý luận liên quan đến chủ đề nghiên cứu
1.1 Quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Bản chất của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam được thể hiện tại khoản 2 điều 663 Bộ luật dân sự năm 2015 Phạm vi xác định quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong khoản 2 điều 663 Bộ luật dân sự năm 2015 được phân định theo một
trong ba nhóm chính sau: “a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp
nhân nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài”.
Thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh sự truyền lại tài sản của người đã chết cho những người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật Các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là các quan hệ thừa kế có ít nhất một trong ba yếu
tố nước ngoài sau: yếu tố nước ngoài về mặt chủ thể, yếu tố nước ngoài về mặt khách thể, yếu tố nước ngoài về mặt sự kiện pháp lý
Yếu tố nước ngoài về mặt chủ thể được thể hiện trong trường hợp một bên hoặc các bên có quốc tịch hoặc nơi cư trú ở nước ngoài (điều này không phụ thuộc vào việc tài sản đối tượng của quan hệ hoặc sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt quan
hệ xảy ra ở đâu)
Yếu tố nước ngoài về mặt khách thể được thể hiện trong trường hợp khi tài sản đối tượng của quan hệ thừa kế ở nước ngoài điều này không phụ thuộc vào việc các chủ thể
là ai, cư trú ở đâu, hoặc sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ xảy
ra ở đâu)
Yếu tố nước ngoài về mặt sù kiện pháp lý được thể hiện khi sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt mối quan hệ thừa kế xảy ra ở nước ngoài điều này không phụ thuộc vào việc người để lại di sản và người thừa kế di sản là ai, cư trú ở đâu, hoặc di sản thừa kế ở Việt Nam hay ở nước ngoài)
a Thừa kế theo di chíc
Thừa kế là một chế định dân sự, là tổng hợp các quy định pháp luật để điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật
2
Trang 6theo một trình tự thủ tục nhất định Kèm theo đó là những quyền và nghĩa vụ và những cách thức để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của người được hưởng thừa kế
Di chúc là sự thể hiện ý chí cá nhân, nhằm chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác sau khi đã chết
Từ hai định nghĩa trên, ta có thể hiểu thừa kế theo di chúc như sau: Thừa kế theo di chúc là sự chuyển dịch tài sản (chuyển dịch tài sản thừa kế) của người chế cho những người khác theo sự tự định đoạt một cách tự nguyện (bằng di chúc) của người đó khi còn sống
b Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài
Thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài là quan hệ thừa kế được nghiên cứu trọng phạm vi tư pháp quốc tê Thừa kế có yếu tố nước ngoài cùng là một quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài, như vậy:
Thừa kế có yếu tố nước ngoài là một quan hệ dân sự ( theo nghĩa rộng) có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài Theo quy định tại điều 680 Bộ luật dân sự năm 2015 về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài quy định như sau:
Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết
Quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó
Thủ tục khai nhận di sản thừa kế có yếu tố nước ngoài vẫn tiến hành theo trình tự thông thường, được quy định cụ thể tại Luật Công chứng 2014 và Nghị định 29/2015/NĐ-CP Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng
Việc thoả thuận phân chia di sản, việc khai nhận di sản phải được niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú trước đây của người để lại di sản; trong trường hợp không có nơi thường trú, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi tạm trú có thời hạn của người đó Nếu không xác định được cả hai nơi này, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có bất động sản của người để lại di sản Sau 15 ngày
Trang 7niêm yết, không có khiếu nại, tố cáo gì thì cơ quan công chứng chứng nhận văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế theo Điều 57 Luật Công chứng 2014
Trường hợp thừa kế có yếu tố nước ngoài, nếu người thừa kế ở nước ngoài không
có điều kiện về Việt Nam lâu dài để thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế thì có thể linh động lựa chọn một trong hai cách sau:
Cách thứ nhất:
Một trong những người đồng thừa kế đến tổ chức công chứng để yêu cầu công chứng và cung cấp trước một bộ hồ sơ liên quan đến việc khai nhận di sản thừa kế.Người đang ở nước ngoài có thể gửi hồ sơ (giấy tờ tùy thân; giấy tờ chứng minh quan hệ với người để lại di sản …) về nước trước để người thân ở Việt Nam làm thủ tục yêu cầu công chứng (có thể gửi bản sao) Sau khi đầy đủ hồ sơ, tổ chức công chứng tiến hành thủ tục công chứng như thông thường Sau 30 ngày niêm yết thông báo nếu không có khiếu nại,
tố cáo gì thì tiến hành khai nhận di sản thừa kế Lúc này, người đang ở nước ngoài có thể
về nước, cùng các đồng thừa kế đến tổ chức công chứng để lập và ký văn bản khai nhận
di sản thừa kế Khi lập và ký văn bản trước sự chứng kiến của công chứng thì người đó xuất trình bản chính giấy tờ tùy thân và giấy tờ liên quan đến việc khai nhận di sản thừa
kế của mình
Cách thứ hai:
Trường hợp người đang ở nước ngoài không thể về nước được thì có thể ủy quyền
để người trong nước thay mặt mình tiến hành thủ tục khai nhận di sản theo quy định của pháp luật
Việc ủy quyền được thực hiện tại cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước mà người đó đang sinh sống, như Đại sứ quán, Lãnh sự quán
Trong giấy ủy quyền ghi rõ các thông tin: thông tin về người ủy quyền và người được ủy quyền; căn cứ ủy quyền (là thông tin về việc thừa kế, về tài sản được thừa kế…)
Đồng thời ghi rõ nội dung ủy quyền như: “Người được ủy quyền được thay mặt và nhân
danh tôi tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.”
Sau khi có giấy ủy quyền của người đang ở nước ngoài gửi về thì người được ủy quyền có thể cùng với những đồng thừa kế khác của người để lại di sản đến tổ chức công chứng để yêu cầu tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật Người được ủy quyền chỉ thực hiện các công việc trong phạm vi được ủy quyền
4
Trang 81.2 Hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Điều 388 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận
giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự” Như
vậy, hợp đồng dân sự không chỉ là sự thoả thuận để một bên chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thoả thuận để thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó Hợp đồng dân sự (nghĩa chủ quan) và pháp luật về hợp đồng dân sự (nghĩa khách quan) là hai khái niệm không đồng nhất với nhau Hợp đồng dân sự theo nghĩa chủ quan là một quan hệ xã hội được hình thành từ sự thoả thuận của các bên để thoả mãn nhu cầu trao đổi trong giao lưu dân sự
Theo phương diện khách quan: Hợp đồng dân sự là một loại quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh và thể hiện dưới một hình thức nhất định Dưới góc độ pháp luật thực định, khái niệm hợp đồng dân sự tại Việt Nam được quy định cụ
thể, theo đó: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Về khái niệm hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài, theo điều 663 Bộ luật dân sự năm 2015 hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc một trong các trường hợp sau
đây: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các
trường hợp sau đây: a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan
hệ dân sự đó ở nước ngoài 1”
Thứ nhất, đặc điểm của hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài gồm những đặc điểm chính sau: Có ít nhất 1 bên chủ thể tham gia quan hệ này là nước ngoài Chủ thể nước ngoài có thể là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài, nhà nước nước ngoài; Đối tượng của quan hệ này liên quan đến tài sản, công việc ở nước ngoài; Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ này xảy ra ở nước ngoài (ví dụ: pháp nhân Việt Nam ký hợp đồng mua bán hàng hoá với pháp nhân Mỹ tại Newyork, việc ký kết hợp đồng là một sự kiện pháp lý)
Thứ hai, các hình thức của hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
1 Khoản 2 điều 663 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trang 9Hình thức của hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài rất đa dạng Hợp đồng dân sự
có yếu tố nước ngoài có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định
- Hình thức giao kết miệng (bằng lời nói ): Hình thức này thường được áp dụng với các trường hợp thỏa thuận thực hiện một công việc với giá trị của hợp đồng không lớn hoặc khi các bên hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau, hoặc là các đối tác tin cậy lâu năm hoặc là những hợp đồng sau khi giao kết, thực hiện sẽ chấm dứt (mua bán ngoài chợ, cho bạn thân vay tiền)
- Hình thức giao kết bằng hành vi cụ thể: Trường hợp bên mua và bên bán thỏa thuận nhau nếu bên bán gửi thư báo giá, mà bên kia không trả lời tức là đã chấp nhận mua hàng theo giá được chào
- Hình thức bằng văn bản (viết): Các bên giao kết hợp đồng thống nhất về quyền và nghĩa vụ hợp đồng bằng văn bản Các bên thỏa thuận với nhau về những nội dung chính
mà đã cam kết và người đại diện của các bên phải ký hợp đồng
Thứ ba, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài Hợp đồng
theo định nghĩa tại Bộ luật dân sự năm 2015 được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Để đảm bảo cho hợp đồng được xác lập đúng bản chất đích thực của nó, hợp đồng theo quy định của pháp luật phải thỏa mãn các điều kiện cơ bản sau:
- Hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài phải có ít nhất hai bên chủ thể Khác với giao dịch là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của một bên chủ thể như di chúc, hứa thưởng; hợp đồng phải là sự thể hiện ý chí của ít nhất hai bên chủ thể Lưu ý hai bên chủ thể khác với hai chủ thể, vì một bên chủ thể có thể gồm một người hoặc một nhóm người Thông thường, một hợp đồng bao gồm hai bên nhưng cũng có những hợp đồng có thể bao gồm ba, bốn bên… những hợp đồng như vậy được gọi chung là hợp đồng đa phương
- Hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài phải có sự thống nhất ý chí giữa các bên Không phải cứ có hai bên chủ thể bày tỏ ý chí thì có thể hình thành nên hợp đồng Hợp đồng chỉ có thể được hình thành nếu sự thỏa thuận của các bên đạt được đến sự thống nhất tức là ý chí của hai bên đã đồng thuận và cùng chấp nhận một hậu quả pháp lý sẽ hình thành khi hợp đằng được giao kết
- Các bên thỏa thuận phải có hậu quả pháp lý làm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Không phải mọi sự thỏa thuận và có sự thống nhất ý chí của hai
6
Trang 10hay nhiều bên thì đều hình thành nên hợp đồng Ví dụ như thỏa thuận một vụ đi chơi, thỏa thuận cuộc hẹn… không phải là hợp đồng vì nó không hề làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt bất kỳ sự kiện pháp lý nào Chỉ khi những thỏa thuận có hậu quả pháp lý mới hình thành nên hợp đồng
2 Giải quyết tình huống
Ông Kim Han Jun là người mang quốc tịch Trung Quốc, ông có dự định đến tổ chức hành nghề công chứng Việt Nam để lập di chúc Được biết, tài sản ông sẽ định đoạt là số tiền 16 tỷ đồng trong tài khoản mở tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam Người được ông chỉ định hưởng di sản thừa kế là mẹ đẻ của ông Mẹ đẻ của ông Jun là người mang quốc tịch Hàn Quốc và hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc Anh (chị) hãy cho biết công chứng viên của Việt Nam có thẩm quyền công chứng nhận di chúc của ông Jun hay không? Những khó khăn vướng mắc thường gặp trong công chứng hợp đồng, giao dịch
có yếu tố nước ngoài?
Đề bài có nêu: Ông Kim Han Jun là người mang quốc tịch Trung Quốc, ông có dự định đến tổ chức hành nghề công chứng Việt Nam để lập di chúc Được biết, tài sản ông
sẽ định đoạt là số tiền 16 tỷ đồng trong tài khoản mở tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam Người được ông chỉ định hưởng di sản thừa kế là mẹ đẻ của ông Mẹ đẻ của ông Jun là người mang quốc tịch Hàn Quốc và hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc Theo học viên công chứng viên của Việt Nam có thẩm quyền công chứng di chúc của ông nếu đáp ứng những điều kiện sau:
Thứ nhất, về năng lực lập di chúc
Bộ luật dân sự năm 2015 cũng thừa nhận việc giải quyết xung đột pháp luật về xác định năng lực lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc theo nguyên tắc luật quốc tịch Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về năng lực lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc tại Khoản 1 Điều 681 thì Năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc huỷ bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc
Như vậy, với quy định này, Bộ luật dân sự 2015 đã áp dụng hoàn thiện hơn nguyên tắc luật quốc tịch trong việc giải quyết xung đột pháp luật về xã định năng lực lập, thay đổi, hủy bỏ di chúc trong quan hệ thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài Theo đó, thì với mỗi thời điểm lập di chúc, thay đổi di chúc, hủy bỏ di chúc sẽ áp dụng theo luật quốc tịch của người đó vào thời điểm đó đang mang quốc tịch của quốc gia nào Quy định này
đã khắc phục được hạn chế của Bộ luật dân sự 2005 đã được trình bày ở trên Đây là