Mục tiêu: Thực trạng tiếp nhận và cấp cứu người bệnh đột quỵ não gọi Trung tâm cấp cứu 115 Hà Nội và phân tích một số yếu tố liên quan đến thời gian cấp cứu. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang gồm 402 người bênh được Trung tâm cấp cứu 115 Hà Nội chẩn đoán, cấp cứu từ 01.07.2021 đến 31.12.2021.
Trang 12379–2400
https://doi.org/10.1111/j.1572-0241.2006.00856.x
3 Mallick, I H.; Winslet, M C Vascular
Complications of Pancreatitis JOP J Pancreas
2004, 5 (5), 328–337
4 Mendelson, R M.; Anderson, J.; Marshall,
M.; Ramsay, D Vascular Complications of
Pancreatitis ANZ J Surg 2005, 75 (12), 1073–1079
https://doi.org/10.1111/j.1445-2197.2005.03607.x
5 Easler, J.; Muddana, V.; Furlan, A.;
Dasyam, A.; Vipperla, K.; Slivka, A.; Whitcomb,
D C.; Papachristou, G I.; Yadav, D
Portosplenomesenteric Venous Thrombosis in
Patients With Acute Pancreatitis Is Associated
With Pancreatic Necrosis and Usually Has a
Benign Course Clin Gastroenterol Hepatol 2014,
12 (5), 854–862
https://doi.org/10.1016/j.cgh.2013.09.068
6 Nadkarni, N A.; Khanna, S.; Vege, S S
Splanchnic Venous Thrombosis and Pancreatitis
Pancreas 2013, 42 (6), 924–931
https://doi.org/10.1097/MPA.0b013e318287cd3d
7 Anis, F S.; Adiamah, A.; Lobo, D N.;
Sanyal, S Incidence and Treatment of Splanchnic
Vein Thrombosis in Patients with Acute
Pancreatitis: A Systematic Review and
Meta-Analysis J Gastroenterol Hepatol 2022, 37 (3),
446–454 https://doi.org/10.1111/jgh.15711
8 Mao, E.; Tang, Y.; Fei, J.; Qin, S.; Wu, J.;
Li, L.; Min, D.; Zhang, S Fluid Therapy for Severe
Acute Pancreatitis in Acute Response Stage Chin Med J (Engl.) 2009, 122 (2), 169–173
https://doi.org/10.3760/cma.j.issn.0366-6999.2009.02.011
9 Đào Xuân Cơ (2012), Nghiên cứu giá trị của
áp lực ổ bụng trong phân loại mức độ nặng ở bệnh nhân viêm tụy cấp, Luận án Tiến sĩ y học, Viện nghiên cứu khoa học Y Dược lâm sàng 108
10 Gonzelez, H J.; Sahay, S J.; Samadi, B.; Davidson, B R.; Rahman, S H Splanchnic Vein
Thrombosis in Severe Acute Pancreatitis: A
2-Year, Single-Institution Experience HPB 2011, 13
(12), 860–864 https://doi.org/10.1111/j.1477-2574.2011.00392.x
11 Junare, P R.; Udgirkar, S.; Nair, S.; Debnath, P.; Jain, S.; Modi, A.; Rathi, P.; Rane, S.; Contractor, Q Splanchnic Venous Thrombosis
in Acute Pancreatitis: Does Anticoagulation Affect
Outcome? Gastroenterol Res 2020, 13 (1), 25–31
https://doi.org/10.14740/gr1223
THỰC TRẠNG TIẾP NHẬN VÀ CẤP CỨU
NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ NÃO GỌI TRUNG TÂM CẤP CỨU 115 HÀ NỘI NĂM 2021
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỜI GIAN CẤP CỨU
TRẦN ANH THẮNG¹, NGUYỄN VĂN HIẾN 2 , NGUYỄN THANH HUYỀN 1
¹Trung tâm Cấp cứu 115 Hà Nội
2
Bộ môn Giáo dục và Nâng cao Sức khỏe, Trường ĐHYHN
TÓM TẮT
Mục tiêu: Thực trạng tiếp nhận và cấp cứu
người bệnh đột quỵ não gọi Trung tâm cấp cứu
115 Hà Nội và phân tích một số yếu tố liên
quan đến thời gian cấp cứu
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
gồm 402 người bênh được Trung tâm cấp cứu
115 Hà Nội chẩn đoán, cấp cứu từ 01.07.2021
đến 31.12.2021
Chịu trách nhiệm: Trần Anh Thắng
Email: trananhthang1979@gmail.com
Ngày nhận: 02/8/2022
Ngày phản biện: 12/9/2022
Ngày duyệt bài: 07/10/2022
Kết quả: Tuổi trung bình là 66,23 ± 16,32 tuổi, phân nhóm hơn 60 tuổi chiếm 79,20 %, tỷ
lệ người bênh mắc đột đột quỹ não là nam chiếm ưu thế 60,95% tỷ lệ nam/nữ 1,56/1 Các yếu tố nguy cơ mắc phải chiếm tỷ lệ cao là Tăng huyết áp chiếm 58,46, Đái tháo đường chiếm 19,40, Rối loạn chuyển hóa 13,39 % Bệnh diễn biến đột ngột là chủ yếu chiếm 90,29 % Các dâu hiệu lâm sàng bất thường về chi (tay,chân)
có biểu hiện phần lớn trong nghiên cứu 74,63%, Rối loạn ngôn ngữ chiếm 34,33% và có biểu hiện mặt 21,39% Điểm Glasgow trung bình được đánh giá bởi nhân viên cấp cứu trước vào viện là 14.02 ± 1.56, Thời điểm yêu cầu từ 8 đến 12 giờ là gặp nhiều nhất tỷ lệ là 24,88%
Trang 2Khoảng thời gian khởi phát đến viện < 3 h chiếm
khá cao 71,14 % Thời gian đáp ứng từ lúc gọi
cấp cứu đến lúc xe tiếp cận người bệnh 16.06 ±
8.17 phút.Thời gian trung bình một chuyến cấp
cứu 46.41 ± 16.84 phút, tổng thời gian từ lúc
gọi đến lúc đưa vào viện trong thời điểm 6h30
đến 8h30 là 51.61 ± 22.28 phút Người bệnh
được chuyển vào tất cả các viện trên địa bàn
thành phố Hà Nội và được đưa đến những bệnh
viện có Đơn vị đột quỵ, khoa đột quỵ
Kết luận: Kết quả trên giúp cho việc tổ chức
hoạt động cấp cứu ngoài bệnh viện cũng như
cấp cứu người bệnh Đột quỵ não, sắp xếp nhân
lực, trang thiết bị phù hợp tại Trung tâm cấp cứu
115 Hà Nội
Từ khoá: Đột quỵ não, cấp cứu ngoài bệnh
viện
SUMMARY
Objectives: Actual situation of receiving and
giving first aid to stroke patients who call the
Hanoi 115 Emergency Center and analyze some
factors related to emergency time
Methods: A cross-sectional description of 402
patients diagnosed and treated by Hanoi 115
Emergency Center from July 1, 2021 to
December 31, 2021
Results: The mean age was 66.23 ± 16.32
years old, the subgroup over 60 years old
accounted for 79.20 %, the percentage of
patients with stroke was male predominantly
60.95% male/female ratio 1.56/1 Acquired risk
factors account for a high proportion of
hypertension accounted for 58.46, diabetes
accounted for 19.40, metabolic disorders 13.39%
The sudden course of the disease was the main
cause, accounting for 90.29% Abnormal clinical
signs of limbs (hands, feet) were most commonly
found in the study 74.63%, Language disorders
accounted for 34.33% and facial expressions
were 21.39% The average Glasgow score as
assessed by emergency personnel before
admission was 14.02 ± 1.56, Time of request
from 8 to 12 hours was the most common, the
rate was 24.88% The time of onset to hospital <
3 h is quite high 71.14 % Response time from
the time of emergency call to the time the vehicle
approached the patient was 16.06 ± 8.17
minutes The average time of an emergency visit
was 46.41 ± 16.84 minutes, the total time from
the time of the call to the time of admission to the
hospital from 6.30am to 6.30pm 8:30 is 51.61 ±
22.28 minutes Patients were transferred to all
hospitals in Hanoi city and taken to hospitals with
stroke units and stroke departments
Conclusion: The above results help organize emergency activities outside the hospital as well
as give first aid to stroke patients, arrange appropriate human resources and equipment at
115 Hanoi Emergency Center
Keywords: Brain stroke, out-of-hospital
emergency
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ não (ĐQN) và Tai biến mạch máu não là hai tên gọi của một tình trạng tổn thương não cấp do mạch máu Đột quỵ não được sử dụng ngày càng nhiều để thay thế thuật ngữ
“Tai biến mạch máu não”
Theo Tổ chức Đột quỵ thế giới (WSO) trên thế giới năm 2010 có 16,9 ca mắc mới, 5,9 triệu
ca tử vong nhưng đến năm 2018 có 13,7 triệu
ca mắc mỗi năm, 5,5 triệu ca tử vong, 80 triệu người bị đột quỵ trên thế giới Theo số liệu báo cáo cứ 4 người trên 25 tuổi sẽ có 01 người bị đột quỵ, 116 triệu người bệnh đột quỵ tử vong trong năm Theo công bố của tổ chức Y tế thế giới (WHO) Đột quỵ não là nguyên nhân gây tử vong thứ 3 trên thế giới[1]
Đột quỵ là nguyên nhân thường gặp nhất gây
ra tử vong và khuyết tật trầm trọng ở người lớn trên thế giới Trên toàn cầu, chỉ có 15-30% bệnh nhân sống sót sau đột quỵ độc lập về chức năng
và khoảng 40-50% độc lập một phần[2]
Để trả lời các câu hỏi trên và góp phần kịp thời cấp cứu cho người bệnh đột quỵ não, nhằm cải thiện kết quả cấp cứu ngoài bệnh viện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng tiếp nhận và cấp cứu người bệnh Đột quỵ não gọi Trung tâm cấp cứu 115 Hà Nội năm 2021 và một
số yếu tố liên quan đến thời gian cấp cứu”
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
402 người bệnh đột quỵ não gọi Trung tâm cấp cứu 115 Hà Nội trong thời gian từ 01/07/2021 đến 31/12/2021
1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Tất cả các trường hợp người bệnh được các kíp cấp cứu Trung tâm cấp cứu 115 cấp cứu với chẩn đoán ban đầu ĐQN không phân biệt lứa tuổi, giới, sống trên địa bàn thành phố Hà Nội
1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Loại trừ các người bệnh có yếu tố liên quan đến tai nạn, chấn thương, ĐQN cũ
2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
- Chọn mẫu: Chọn chủ đích tất cả người bệnh trong thời gian nghiên cứu Cụ thể tiêu chuẩn chọn mẫu là:
Trang 3+ Các bệnh án lấy mẫu đều đã được kiểm tra
và lưu lại tại trung tâm cấp cứu 115 thành phố
Hà Nội theo đúng quy chế lưu trữ hồ sơ bệnh án
của Bộ Y tế trong thời gian thu thập số liệu
+ Tiêu chuẩn chọn người bệnh: Tiêu chuẩn
chẩn đoán ban đầu ĐQN dựa trên dấu hiệu
FAST
+ Các người bệnh được chẩn đoán ban đầu
Đột quỵ não bởi các kíp cấp cứu của Trung tâm
cấp cứu 115 Hà Nội
+ Hồ sơ bệnh án có đầy đủ các dữ liệu cần
thiết theo mẫu phiếu nghiên cứu
3 Quy trình và phương pháp thu thập số
liệu
Thu thập số liệu qua hồ sơ bệnh án của
người bệnh đã được nhân viên cấp cứu Trung
tâm cấp cuứu 115 thu thập với người bệnh
4 Xử lý số liệu
Nhập số liệu vào máy tính và xử lý trên phần
mềm thống kê SPSS 20.0 Các kết quả được
trình bầy dưới dạng các bảng, biểu đồ, nhận xét
thích hợp
Tính các giá trị trung bình thực nghiệm, độ
lệch chuẩn, tỷ lệ, tỷ suất chênh (OR)
Kiểm định sự khác biệt hai mẫu dùng test “T
student” cho hai biến định lượng có phân bố
chuẩn, dùng test khi bình phương và Fisher’s
Exact test cho hai biến định tính
Các so sánh được coi là có ý nghĩa thống kê
khi có mức p < 0,05
5 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện vì mục đích khoa học
Các thông tin hồ sơ bệnh án, hình ảnh bệnh
nhân được bảo mật, chỉ sử dụng cho mục đích
nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ 01/7/2022 đến 31/12/2022, nghiên cứu đã
thu thập được thông tin của 402 người bệnh từ
bệnh án nghiên cứu Kết quả chính từ nghiên
cứu được trình bày cụ thể dưới đây
1 Thực trạng người bệnh được trung tâm
cấp cứu 115 thành phố Hà Nội tiếp nhận và
thực hiện cấp cứu trong thời gian Đặc điểm
người bệnh nghiên cứu
Tuổi trung bình là 66,23 ± 16,32 tuổi, phân
nhóm hơn 60 tuổi chiếm 79,20%, tỷ lệ người
bênh mắc đột đột quỹ não là nam chiếm ưu thế
60,95% tỷ lệ nam/nữ 1,56/1
Bảng 1 Yếu tố nguy cơ
người bệnh (n)
Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Từ bảng 3.1 cho thấy tăng huyết
áp chiếm 58,46%, Đái tháo đường chiếm 19,40%, Rối loạn chuyển hóa 13,39 % là những yếu tố nguy cơ chủ yếu
Triệu chứng liệt/yếu chi chiếm 53,48 %, nói khó 38,55%, rối loạn ý thức 19,90 % là các triệu chứng khởi phát hay gặp khi người bệnh hoặc người nhà phát hiện Bệnh diễn biến thường đột ngột chiếm tỷ lệ 90,29 %, từ từ chiếm 9,71%
2 Một số yếu tố liên quan đến thời gian cấp cứu cho người bệnh Đột quỵ não tại Trung tâm cấp cứu 115 Hà Nội
Biểu đồ 1 Phân bố thời gian gọi cấp cứu cho người bệnh trong ngày (n = 402)
Nhận xét: Thời điểm yêu cầu từ 8 đến 12 giờ
là gặp nhiều nhất tỷ lệ là 24,88%
Khoảng thời gian khởi phát đến viện < 3h chiếm 71,14% Chỉ có 11,95% người bệnh gọi cấp cứu sau khi có triệu chứng ban đầu sau 6 giờ
Bảng 2 Thời gian trung bình đáp ứng cấp cứu của trung tâm
Thời gian Trung bình
với tất cả người bệnh (phút)
Trung bình với người bệnh vào khung giờ từ 6h30
- 8h30 (phút) Thời gian xe
đến nơi người bệnh
16,06 ± 8,17 17,95 ± 11,24
Thời gian
từ nhà đến viện
30,35 ± 13,41 33,66 ± 18,48 Thời gian
từ lúc gọi đến khi người bệnh đưa tới viện
46,41 ± 16,84 51,61 ± 22,28
Trang 4Nhận xét: Thời gian trung bình một chuyến
cấp cứu 46.41 ± 16.84 phút, tổng thời gian từ
lúc gọi đến lúc đưa vào viện trong thời điểm
6h30 đến 8h30 là 51.61 ± 22.28 phút
Bảng 3 Bệnh viện chuyển người bệnh đến
(n = 402)
Bệnh viện chuyển đến Số lượng
người bệnh
Tỷ lệ
%
Nhận xét: Người bệnh được chuyển vào hầu
hết các bệnh viện đóng trên địa bàn có trên
Thành phố Hà Nội trong đó Bệnh viện Bạch Mai;
Quân Y viện, 108, Bệnh viện Xanh phôn, Bệnh
viện E, Bệnh viện Đức Giang, Quân y viện 103,
Bệnh viện Hữa Nghị; Bệnh viện, Đại học Y Hà
Nội YHN, Bệnh viện Lão Khoa; Bệnh viện Quân
Y 354 Trong đó chủ yếu người bệnh được
chuyển vào bệnh viện Bạch Mai 21,89% là
trung tâm đột quỵ tại Hà Nội cũng như khu vực
các tỉnh phía bắc
BÀN LUẬN
1 Thực trạng người bệnh được trung tâm
cấp cứu 115 thành phố Hà Nội tiếp nhận và
thực hiện cấp cứu trong thời gian Đặc điểm
người bệnh nghiên cứu
- Tuổi là một yếu tố nguy cơ của Đột quỵ nói
chung Trong nghiên cứu của chúng tôi tuổi trung
bình là 69,61 ± 13,79 tuổi, kết quả này tương
đương với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước
như nghiên cứu tại bệnh viện Đa khoa Quảng
Nam năm 2011 của tác giả Cao Thanh Vân tuổi
trung bình là 68,52 ± 17,32 tuổi[3] và tác giả
Nguyễn Thị Trà Giang tuổi trung bình 67,21 ±
11,34, theo tác giả Gabriel Torrealba và cộng sự
nghiên cứu tại Đơn vị Đột quỵ não cấp tính của
Bệnh viện Calderon Guardia tuổi trung bình của
người bệnh bị Đột quỵ não là 68,0 ± 15,5 tuổi[4],
một nghiên cứu tại Hà Lan độ tuổi trung bình
người bệnh là 68,60 ± 18,5 tuổi[5]
- Đột quỵ não gặp nhiều nhất ở người bệnh
nhóm tuổi từ hơn 60 tuổi chiếm 79,20 %, tương
tự nghiên cứu của Dương Đình Chỉnh phân
nhóm hơn 60 tuỏi có tỷ lệ 81% và tác giả Nguyễn Hoa Ngần kết quả nghiên cứu cho thấy đột quỵ não hay gặp ở những người cao tuổi >
60 tuổi là 83,0%[7] Điều này cũng phù hợp với nhận định cuả Tổ chức Y tế Thế giới và các nước về tỷ lệ mắc bệnh tập trung ở nhóm người cao tuổi
- Trong tổng số người bệnh Đột quỵ não ngoài bệnh viện, người bênh là nam giới 60,95% và tỷ lệ nam/nữ 1,56/1, cũng phù hợp với tác giả Trịnh Viết Thắng tỉ lệ nam/nữ là 1,54/138, cũng theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Trà Giang trong đó nam chiếm 65,3%[8], nghiên cứu của tại Singapo trong số các trường hợp đột quỵ não này 57,7% xảy ra ở nam giới[9] Tỷ lệ nam giới cao hơn nữ bởi nam giới nguyên nhân có thể do nam giới có tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp nhiều hơn nữ giới, đây
là nguyên nhân hàng đầu gây đột quỵ não và thường có thói quen hút thuốc lá, uống rượu nó
sẽ làm tăng quá trình xơ vữa mạch máu và các chất gây đông máu
- Trong nghiên cứu ghi nhận hầu hết người bệnh đều có những yếu tố nguy cơ trong đó tăng huyết áp chiếm 58,46%, đái tháo đường chiếm 19,40% là các yếu tố nguy cơ cao mắc phải cao nhất trong nhóm nghiên cứu
- Tăng huyết áp chiếm 58,46% trong nghiên cứu cũng tương ứng với tác giả Lê Thị Hương
có 61,54% người bệnh có tiền sử tăng huyết
áp[10] Đây là một yếu tố nguy cơ hàng đầu, phổ biến trong Đột quỵ não điều này đã được chứng minh qua nhiều công trình nghiên cứu, điều này được lý giải do Tăng huyết áp lâu dài gây tổn thương thành mạch, hình thành mảng xơ vữa, tạo huyết khối tắc mạch, tạo các túi phình mạch nhỏ trong não từ đó dễ gây ra nhồi máu hoặc chảy máu não
- Trong số người bệnh nghiên cứu đã khai thác tiền sử được tỷ lệ người bệnh Đái thái đường là 19,40% kết quả này tương tự của tác giả Hoàng Đình Tuấn tiền sử Đái tháo đường 20%[11]
- Trong nghiên cứu cho thấy diễn biến bệnh xuất hiện đột ngột chiếm 90,29% cũng tương đương với nghiên cứu của Huỳnh Thị Minh Phương tại khoa cấp cứu bệnh viện Đa khoa Tiền Giang tỷ lệ xuất hiện đột ngột chiếm 89,93%, từ từ chiếm 10,07% người bệnh[12] Trong nghiên cứu có 70,64% người bệnh GCS 14-15 chiếm phần lớn trong nghiên cứu cũng tương tự người bệnh lúc vào viện theo Huỳnh Minh Phương GCS 14 – 15 điểm chiếm 80% tổng số người bệnh[12]
Trang 5- Ở giai đoạn toàn phát triệu chứng liệt, yếu
chi được khám và phát hiện nhiều gặp ở
74,63% kèm với rối loạn ngôn ngữ 34,33%, biểu
hiện mặt 21,39% Với kết quả này phù hợp với
nhiều tác giả và trong nghiên cứu này, tổn
thương chủ yếu thuộc hệ tuần hoàn trước (một
phần hay toàn bộ) nên các dấu hiệu biểu hiện
tương ứng với vùng chức năng bị tổn thương
2 Một số yếu tố liên quan đến thời gian
cấp cứu cho người bệnh Đột quỵ não tại
Trung tâm cấp cứu 115 Hà Nội
- Đột quỵ não xảy ra tất cả các giờ trong
ngày, nhưng khoảng thời gian từ 8 đến 12 giờ là
gặp nhiều nhất tỷ lệ là 24,88% Từ kết quả
nghiên cứu này, sẽ giúp những nhà quản lý bố
trí sắp xếp nhân lực y tế, cũng như trang thiết bị
phù hợp theo thời gian trong ngày, cũng như
trong năm
- Theo kết quả nghiên cứu thì thời gian cấp
cứu trong giờ cao điểm (từ 6h30 đến 8h30) thời
gian trung bình đi cấp cứu giờ cao điểm 17,95 ±
11,24 phút, tổng thời gian từ lúc gọi đến lúc đưa
vào viện 51,61 ± 22,28 cao hơn với trung bình
toàn thời gian và thời gian vận chuyển cấp cứu
ở Hà Nội dài hơn các nước một phần vì chiến
lược cấp cứu, một phần có lẽ do tình hình mật
độ giao thông cao ở Hà Nội cũng là rào cản
không nhỏ đến việc khẩn trương đưa người
bệnh đến bệnh viện
- Tỷ lệ người bệnh từ lúc có triệu chứng đến
khi gọi cấp < 3h chiếm khá cao 71,14%, thời gian
3 < 6h chiếm 16,91%, chỉ có 48 người bệnh
tương ứng 11,95% gọi cấp cứu sau khi có triệu
chứng ban đầu sau 6 giờ Tỷ lệ trong nghiên cứu
của chúng tôi cao hơn nhiều so với một số
nghiên cứu như của Huỳnh Thị Minh Phương
thời gian vào viện trước 6 giờ là 45,7%[12] tác giả
Nguyễn Đức Phúc có 35,7% trường hợp nhập
viện muộn tại Bệnh viên Đà Nẵng[13] Lý giải cho
điều này có thể là vấn đề về thời gian Cuộc sống
đang ngày càng phát triển, vì vậy, việc tiếp cận
về thông tin cũng như điều kiện quan tâm đến
sức khỏe ngày càng được nâng cao, chính vì
vậy mà cải thiện được thời giạn nhập viện muộn
của bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não Ngoài ra,
sự khác biệt còn đếntừ đặc điểm của từng quần
thể, vị trí địa lý cũng như điều kiện kinh tế xã hội
của cá nhân cũng như vùng miền
Người đột qụy não được chuyển vào tất cả
các viện trên địa bàn Thành phố Hà Nội và hầu
hết người bệnh được đưa đến những bệnh viện
có Trung tâm đột quỵ não hoặc khoa Đột quỵ
não: Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện 108, Bệnh
viện Thanh Nhàn, Bệnh viện Xanh Pôn, Bệnh
viện E, bệnh viện Đức Giang Những viện trên
đã có đơn vị đột quỵ, khoa đột quỵ và trung tâm đột quỵ[14]
- Trong nghiên cứu này có một trường hợp không đi viện và một trường hợp yêu cầu chuyển đến phòng khám đa khoa chứ không vào bệnh viện mặc dù những triệu chứng lâm sàng nghi nghờ đột quỵ não, đây cũng là một trong những rào cản trong thực tế khi cấp cứu người bênh đột quỵ não chủ yếu do nhận thức của người bệnh và gia đình và cần có sự kết nối trao đổi thông tin giữa Trung tâm cấp cứu
115 với các cơ sở y tế chuyển đến không có sự thông báo trước Cần có mạng lưới, bản đồ cấp cứu đột quỵ
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu trên chúng tôi có Kết quả trên giúp cho Trung tâm cấp cứu 115 Hà Nội tổ chức hoạt động cấp cứu ngoài bệnh viện cũng như cấp cứu người bệnh Đột quỵ não, sắp xếp nhân lực, trang thiết bị phù hợp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 World Stroke Organization: World Stroke Organization (WSO) Annual Repor 2018 (2018) pg.5
2 Bộ Y tế (2018),Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng cho bệnh nhân đột quỵ, ban hành kèm theo Quyết định số5623/QĐ-BYT ngày 21/9/2018 của Bộtrưởng BộY tế, tr 8
3 Cao Thành Vân, Trình Trung Phong, Hồ Ngọc Ánh, (2011), “Nghiên cứu đặc điểm của một
số yếu tố nguy cơ thường gặp ở bệnh nhân TBMMN tại BV Đa khoa Quảng Nam năm 2011” Đặc san Hội nghị TBMMN toàn quốc lần thứ III – 2012.tr 57-62
4 Gabriel Torrealba (2018) “ Epidemiology of
Stroke in Costa Rica”, J Stroke Cerebrovasc Dis
2018 May;27(5)
5 Erkelens DC, Zwart DL, Meer GH van der,
et al Is the time of calling helpful for differentiating transient ischaemic attack and stroke from mimics
in primary care out-of-hours services? A cross-sectional study BMJ Open 2020;10(12):e041408 doi:10.1136/bmjopen-2020-041408
6 Dương Đình Chỉnh (2011), “Một số đặc
điểm dịch tế học Tai biến mạch máu não tại Nghệ
An 2000 – 2007”, Y học thực hành (760), Số 4/2011, tr 113-116
7 Nguyễn Hoa Ngần, Hoàng Khải Lập, (2021),
“Hiệu quả phục hồi chức năng tại nhà về mức độc lập chức năng sinh hoạt hàng ngày cho người bệnh sau đột quỵ não ở Thành phố Thái Nguyên”, Tạp chí Y học Việt Nam, 502 (1), 154-158
8 Trịnh Viết Thắng (2010), “Nghiên cứu một
số đặc điểm dịch tế học tại Khánh Hòa trong 2 năm 2007-2008”, Tạp chí Y học Quân Sự, Số CDD4, tr 141-145
Trang 69 Nguyễn Thị Trà Giang, Lê Văn Tuấn
(2018), “Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian nhập
viện và kết cục lâm sàng của bệnh nhân nhồi máu
não cấp tại Bệnh viện Đa khoa Đắk Lắk” , Tạp chí
Y học TP.Hồ Chí Minh, 22 (1), 262-267
10 Lê Thị Hương (2016), “Tỷ lệ hiện mắc Đột
quỵ não tại 8 tỉnh thuộc 8 vùng sinh thái Việt Nam
và một số yếu tố liên quan”, Tạp chí nghiên cứu
khoa học 104 (6)-2016
11 Hoàng Đình Tuấn, (2018) “Nghiên cứu
một số đặc điểm lâm sàng và mối liên quan giữa
nồng độ nt-proBNP với một số yếu tố lâm sàng ở
người bệnh đột quỵ não tại bệnh viện đa khoa tỉnh
phú Thọ”, Tạp chí Y học Việt Nam, Tập 471, số đặc biệt, tr 273-278
12 Huỳnh Thị Phương Minh (2016), “Đặc
điểm lâm sàng, cận lâm sàng nhồi máu não cấp tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm Tiền Giang”, Tạp chí
Y học Tp.HCM, Số 2, 13-14
13 Nguyễn Đức Phúc, Võ Văn Thắng,
(2022), “Tỷ lệ nhập viện muộn và tìm hiểu một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não cấp tại bệnh viện Đà Nẵng”, Tạp chí Y học Việt Nam, 515 (2), 187-191
14 Mai Duy Tôn (2020), “Đột Quỵ Não”, Nhà
Xuất Bản Dân Trí, Hà Nội, Tr.18-19
TÌNH HÌNH CHẨN ĐOÁN NHIỄM NẤM CANDIDA XÂM LẤN TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC, BỆNH VIỆN BẠCH MAI
LÊ ĐÌNH CHỨC, ĐẶNG QUỐC TUẤN, NGUYỄN ANH TUẤN, NGUYỄN VĂN HUY
Trường Đại học Y Hà Nội
TÓM TẮT
Mục tiêu: Nhận xét thực trạng chẩn đoán
nhiễm nấm Candida xâm lấn tại khoa Hồi sức
tích cực, bệnh viện Bạch Mai năm 2021-2022
Đối tượng: 136 bệnh nhân được chẩn đoán
nhiễm nấm Candida xâm lấn tại khoa Hồi sức
tích cực bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8 năm
2021 đến tháng 7 năm 2022 Phương pháp:
Nghiên cứu mô tả, bệnh nhân được ghi lại các
thông số về thời điểm chẩn đoán nhiễm nấm
Candida xâm lấn Kết quả: Chẩn đoán nhiễm
nấm Candida xâm lấn quan sát ở 136 bệnh
nhân trong khoa hồi sức tích cực Trong đó, 49
bệnh nhân (35,8%) chẩn đoán mức độ chắc
chắn, 87 bệnh nhân ( 64,2%) chẩn đoán mức độ
có thể, không có bệnh nhân nào chẩn đoán mức
độ nhiều khả năng Kết luận: Chẩn đoán nhiễm
nấm Candida xâm lấn chủ yếu dựa vào mức độ
nghi ngờ trên lâm sàng, thông qua việc đánh giá
các yếu tố nguy cơ Trong đó, mức độ có thể
chiếm đa số, mức độ chắc chắn phụ thuộc vào
kết quả cấy nấm dương tính trên các bệnh phẩm
vô khuẩn C.albicans là loài hay gặp nhất Các
quy tắc tiên đoán có độ tin cậy thấp và việc
đánh giá số lượng các yếu tố nguy cơ trên bệnh
Chịu trách nhiệm: Lê Đình Chức
Email: ldchuc96@gmail.com
Ngày nhận: 11/8/2022
Ngày phản biện: 14/9/2022
Ngày duyệt bài: 04/10/2022
nhân có thể có giá trị cao trong chẩn đoán nhiễm nấm Candida xâm lấn
Từ khoá: Candida xâm lấn, hồi sức tích cực,
sepsis
SUMMARY
DIAGNOSIS OF INVASIVE CANDIDASIS INFECTION IN THE INTENSIVE CARE UNIT, BACH MAI HOSPITAL
Study objectives: Comment on the diagnosis
of invasive Candidasis at the intensive care unit, Bach Mai hospital in 2021-2022
Study subjects: 136 patients were diagnosed with invasive Candidasis infection at Bach Mai Hospital's Intensive Care Unit from August 2021
to July 2022 Methods: This is a descriptive study Results: Diagnosis of invasive Candidasis infection was observed in 136 patients in the intensive care unit Of these, 49 (35.8%) patients were diagnosed with proven invasive Candidasis infection level, 87 (64.2%) patients were diagnosed with possible levels no patient was diagnosed with probable level Conclusion: Diagnosis of invasive candidasis is mainly based
on clinical suspicion, through assessment of risk factors In which, the possible level accounts for the majority, the proven level depends on the possible fungal cultures on sterile specimens C.albicans is the most common species The predictive rules have low confidence and the assessment of the number of risk factors in a patient can be of high value in diagnosing invasive candidasis infection
Keywords: invasive candidasis, intensive
care unit, sepsis