ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN ĐỀ TÀI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẬP ĐOÀN VINGROUP HIỆN NAY LỚP L02 NHÓM L024 2 HK221 GVHD THS VŨ QUỐC PHONG SI[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
ĐỀ TÀI: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẬP ĐOÀN VINGROUP HIỆN NAY
LỚP: L02 - NHÓM: L024.2 - HK221 GVHD: THS VŨ QUỐC PHONG SINH VIÊN THỰC HIỆN
STT MSSV HỌ TÊN % ĐIỂM BTL ĐIỂM BTL GHI CHÚ
Trang 26 211534
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022 BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
hợp word
2.1 Khái quát lịch sử hình thành & phát triển của tập đoàn Vingroup
Trang 36 2115340 Huỳnh Lê Thảo Vy
1.2 Những đặc điểm kinh tế cơ bản của Chủ nghĩa tư bản độc quyền
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN 3
1.1 Nguyên nhân hình thành Chủ nghĩa tư bản độc quyền 3
1.1.1 Khái niệm tổ chức độc quyền 3
1.1.2 Nguyên nhân hình thành Chủ nghĩa tư bản độc quyền 3
1.2 Những đặc điểm kinh tế cơ bản của Chủ nghĩa tư bản độc quyền 5
1.2.1 Tích tụ tập trung sản xuất và sự hình thành độc quyền 5
1.2.2 Tư bản tài chính và hệ thống tài phiệt chi phối nền kinh tế 8
1.2.3 Xuất khẩu tư bản 9
1.2.4 Sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các liên minh độc quyền quốc tế 10
1.2.5 Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ giữa các cường quốc 11
Chương 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẬP ĐOÀN VINGROUP 12
2.1 Khái quát lịch sử hình thành & phát triển của tập đoàn Vingroup 12
2.1.1 Thông tin về tập đoàn Vingroup 12
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của tập đoàn Vingroup 12
2.2 Tình hình phát triển của tập đoàn Vingroup hiện nay 16
2.3 Những chủ trương & kiến nghị thúc đẩy sự phát triển của tập đoàn Vingroup 19
KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, toàn cầu hóa đã phá vỡ thế độc tôn của các quốc gia; gópphần thúc đẩy và phụ thuộc lẫn nhau trong nên kinh tế của các quốc gia Từ đó dẫn đến sựphát triển và những thay đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế thế giới Mộttrong những động lực quan trọng để thúc đẩy toàn cầu hóa và tăng trưởng của nền kinh tếthế giới là các công ty toàn cầu Hiện nay, các công ty toàn cầu đã phát triển rất nhanh,hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, thực hiện phần lớn (khoảng 4/5) đầu tư trực tiếp nướcngoài và khoảng 2/3 trao đổi thương mại quốc tế Bên cạnh đó, các công ty toàn cầu kiểmsoát 90% công nghệ và là chủ thể của nhiều dự án R&D (Nghiên cứu và triển khai) củathế giới
Trải qua nhiều giai đoạn hình thành và phát triển, các công ty toàn cầu luôn thay đổikhông ngừng diện mạo và những biểu hiện mới Do tầm quan trọng, khả năng có thể tácđộng và điều chỉnh chính sách cũng như sự phát triển kinh tế của nhiều nước, của xuhướng phát triển chung của thế giới nên bất cứ một sự thay đổi mới nào của các công tytoàn cầu cũng trở thành sự quan tâm lớn của các công ty trong và ngoài nước Vì vậy,việc tìm hiểu các công ty toàn cầu là vô cùng cần thiết đối với các nước, đặc biệt là nhữngnước đang phát triển như Việt Nam Vingroup là tập đoàn hàng đầu của Việt Nam Tuynhiên, trong quá trình phát triển có rất nhiều công ty vương lên cạnh tranh vị trí hàng đầu.Với những thách thức, áp lực đó muốn đưa tập đoàn đi lên thì cần phải tìm hiểu, nghiêncứu các biện pháp để phát triển tập đoàn
Vậy nên, nhóm tác giả chọn đề tài: “SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẬP ĐOÀN
VINGROUP HIỆN NAY” cho bài tập lớn trong môn học Kinh tế chính trị Mác- Lênin.
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Sự phát triển của tập đoàn Vingroup.
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trang 5Không gian: Việt Nam
Thời gian: 2008 - 2022
4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Thứ nhất, phân tích nguyên nhân hình thành và các đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ
nghĩa tư bản độc quyền
Thứ hai, giới thiệu khái quát sự hình thành và phát triển của tập đoàn Vingroup Thứ ba, phân tích tình hình phát triển của tập đoàn Vingroup hiện nay.
Thứ tư, đề xuất kiến nghị thúc đẩy sự phát triển của tập đoàn Vingroup.
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và các phương pháp nghiêncứu như trừu tượng hóa khoa học, phân tích tổng hợp tài liệu
6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài gồm 02 chương:
- Chương 1: Chủ nghĩa tư bản độc quyền
- Chương 2: Sự phát triển của tập đoàn Vingroup
Trang 6Chương 1: CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN
1.1 Nguyên nhân hình thành Chủ nghĩa tư bản độc quyền
1.1.1 Khái niệm tổ chức độc quyền.
Trong nền kinh tế thị trường, độc quyền là sự liên minh giữa các doanh nghiệp lớn
có khả năng thâu tóm việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hóa, có khả năng định ragiá cả độc quyền, nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao Từ đó, các tổ chức độc quyền hìnhthành nên một cách tự nhiên hoặc thông qua ý chí của nhà nước Vì thế, ta có thể địnhnghĩa tổ chức độc quyền như sau:
“Tổ chức độc quyền là liên minh giữa những nhà tư bản lớn để tập trung vào trongtay một phần lớn (thậm chí toàn bộ) sản phẩm của một ngành, cho phép liên minh nàyphát huy ảnh hưởng quyết định đến quá trình sản xuất và lưu thông của ngành đó”.1
1.1.2 Nguyên nhân hình thành Chủ nghĩa tư bản độc quyền
Theo Lênin “tự do cạnh tranh đẻ ra tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất này,khi phát triển tới một mức độ nhất định, lại dẫn tới độc quyền”2 Sự độc quyền hay sựthống trị của tư bản độc quyền là cơ sở của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Chủ nghĩa tư bản độc quyền xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Sự hìnhthành chủ nghĩa tư bản độc quyền chủ yếu là do bốn nguyên nhân sau:
- Đầu tiên, là do sự phát triển của lực lượng sản xuất:
+ Do sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai, đòi hỏi các doanhnghiệp phải ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất kinh doanh Vào cuối thế
kỷ XIX, những thành tựu khoa học kỹ thuật mới xuất hiện như lò luyện kim mới; các máymóc mới ra đời như động cơ điêzen, máy phát điện, những phương tiện vận tải mới pháttriển, như xe hơi, tàu hỏa… Những thành tựu khoa học - kỹ thuật mới xuất hiện này làm
1 Bộ Giáo dục & Đào tạo, (2019), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốcgia, Hà Nội, tr 93.
2 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t 27, tr 402.
Trang 7xuất hiện những ngành sản xuất mới mà ngay từ đầu đã là những ngành có trình độ tích tụcao Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải có nguồn vốn lớn, tuy nhiên một số doanhnghiệp khó có thể đáp ứng được Vì vậy, các doanh nghiệp phải đẩy nhanh quá trình tích
tụ và tập trung sản xuất và hình thành các doanh nghiệp quy mô lớn
+ Trong điều kiện phát triển của khoa học kỹ thuật, cùng với sự tác động của cácquy luật kinh tế thị trường như: quy luật giá trị thặng dư, quy luật tích lũy, tích tụ, tậptrung sản xuất… ngày càng mạnh mẽ, làm biến đổi cơ cấu kinh tế của xã hội theo hướngtập trung sản xuất quy mô lớn
- Hai là, do cạnh tranh: Cạnh tranh tự do, một mặt, buộc các nhà tư bản phải cải tiến
kỹ thuật, tăng quy mô tích luỹ; mặt khác, dẫn đến nhiều doanh nghiệp nhỏ, trình độ kỹthuật kém hoặc bị các đối thủ mạnh hơn thôn tính, hoặc phải liên kết với nhau để đứngvững trong cạnh tranh Vì vậy, xuất hiện một số xí nghiệp tư bản lớn nắm địa vị thống trịmột ngành hay trong một số ngành công nghiệp
- Ba là, do khủng hoảng và sự phát triển của hệ thống tín dụng:
+ Cuộc khủng hoảng kinh tế lớn năm 1873 trong toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩalàm phá sản doanh nghiệp vừa và nhỏ; các doanh nghiệp lớn còn tồn tại dẫn tới hìnhthành các doanh nghiệp độc quyền; thúc đẩy nhanh chóng quá trình tích tụ và tập trung tưbản
+ Sự phát triển cúa hệ thống tín dụng trở thành đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy tập trungsản xuất, nhất là việc hình thành, phát triển các công ty cổ phần, tạo tiền đề cho sự ra đờicủa các tổ chức độc quyền
- Bốn là, những xí nghiệp và công ty lớn có tiềm lực kinh tế mạnh tiếp tục cạnhtranh với nhau ngày càng khốc liệt, khó phân thắng bại, vì thế nảy sinh xu hướng thỏahiệp, từ đó hình thành các tổ chức độc quyền
Trang 81.2 Những đặc điểm kinh tế cơ bản của Chủ nghĩa tư bản độc quyền
1.2.1 Tích tụ tập trung sản xuất và sự hình thành độc quyền
“Trong những năm 1900, ở Mỹ, Đức, Anh, Pháp đều có tình hình là các xí nghiệplớn chỉ chiếm khoảng 1% tổng số xí nghiệp nhưng chiếm 34 tổng số máy hơi nước và điệnlực, gần một nửa tổng số công nhân và sản xuất ra gần một nửa tổng số sản phẩm”3 Sựtích tụ và tập trung sản xuất đến mức cao như vậy đã trực tiếp dẫn đến hình thành các tổchức độc quyền Bởi một mặt, do có ít xí nghiệp lớn nên sẽ thỏa thuận với nhau một cách
dễ dàng; mặt khác, do việc cạnh tranh giữa các xí nghiệp có quy mô lớn, kỹ thuật caongày càng trở nên gay gắt hơn Chính vì vậy đã dẫn đến sự thỏa hiệp, từ đó hình thành tổchức độc quyền
“Tổ chức độc quyền là tổ chức liên minh giữa các nhà tư bản lớn để tập trung vào
trong tay phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hóa nào đó nhằm mục đíchthu được lợi nhuận độc quyền cao.”4
Khi bắt đầu chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền thì những liên minh độc quyền
đầu tiên được hình thành theo liên kết ngang, “nghĩa là mới chỉ liên kết những doanh
nghiệp trong cùng một ngành”5, gồm các hình thức: cartel, syndicate, trust
Cartel là hình thức thỏa thuận hợp tác chính thức về giá cả, sản lượng và những điều
kiện khác giữa các tổ chức độc quyền thông qua việc ký kết các hiệp nghị Mục đích củahình thức này, đó là tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp thành viên bằng cách giảm sựcạnh tranh Do chỉ cùng ký với một hiệp nghị hoặc cùng thống nhất một thỏa thuận nào
đó, cá doanh nghiệp tham gia cartel vẫn là những chủ thể độc lập trong cả khâu sản xuấtlẫn lưu thông hàng hóa Điều đó cho thấy nhược điểm lớn nhất của cartel: tính thiếu bềnvững và lỏng lẻo trong tổ chức, tạo ra cartel là hình thức liên minh độc quyền không vữngchắc
3 Văn hóa doanh nghiệp, (21/03), Hệ thống kinh tế Tư bản đang khủng hoảng ở đâu?, Truy cập từ
Trang 9Bất cứ thành viên nào khi cảm thấy mình đang bị đẩy vào thế bất lợi hơn so với cácthành viên khác cũng có thể phá vỡ thỏa thuận Ví dụ như, một thành viên trong cartel cóthể phá vỡ thỏa thuận bằng cách bán giá sản phẩm thấp hơn so với giá mà Cartel đã đưa ra
để thu hút một lượng khách lớn hơn và tạo ra lợi nhuận cao hơn Chính vì thế, cartelthường là hình thức không những không bền vững về lâu dài mà còn có thể kết thúc trướcthời hạn
“Syndicate là hình thức tổ chức độc quyền cao hơn, ổn định hơn cartel”6 Các doanhnghiệp tham gia syndicate sẽ phải chấp nhận việc mua – bán hay các hoạt động khác liênquan đến thương mại do một ban quản trị chung của syndicate đảm nhận Trongsyndicate, các doanh nghiệp vẫn giữ quyền độc lập trong quá trình sản xuất Tuy nhiên,các doanh nghiệp khi chấp nhận các yêu cầu trên đã mất đi quyền độc lập về thương mại
và lưu thông hàng hóa Mục đích của syndicate liên quan đến việc mua nguyên liệu đầuvào, các tư liệu sản xuất với giá thấp và bán sản phẩm với giá cao hơn so với thôngthường, nhằm nâng cao lợi nhuận chung của syndicate, từ đó tăng thêm lợi nhuận cho cácdoanh nghiệp thành viên
Do liên quan đến vấn đề lợi nhuận và lợi ích kinh tế của mỗi doanh nghiệp, nên giữacác thỏa thuận trong syndicate vẫn sẽ tồn tại những mâu thuẫn, từ việc không thỏa mãnphần lợi nhuận mình thu được Dù cho việc phân phối nguyên liệu, hàng hóa đã được banquản trị đưa ra nhưng vẫn có thể gây ra sự không hài lòng, cạnh tranh lẫn nhau do sự khácbiệt về quy mô sản xuất
“Trust là hình thức tổ chức độc quyền cao hơn cartel và syndicate”7 Trust thường làmột nhóm các công ty, xí nghiệp hợp nhất Trong trust, cả việc sản xuất, tiêu thụ đềuđược đặt dưới sự quản lý của một ban quan trị Các công ty, xí nghiệp tham gia trust sẽkhông được giữ quyền độc lập cả về sản xuất lẫn lưu thông hàng hóa Khi tham gia trust,mỗi công ty, xí nghiệp sẽ trở thành một cổ đông và thu lợi nhuận theo số lượng cổ phầnnắm giữ
6 Bộ giáo dục và đào tạo, (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Sđd, tr 138
7 Bộ giáo dục và đào tạo, (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Sđd, tr 138
Trang 10Sau đó là sự liên kết dọc, nghĩa là sự liên kết giữa các nhà tư bản ở các ngành khác
nhau nhưng có liên quan đến nhau về kinh tế và kỹ thuật Sự liên kết này không chỉ có ởcác xí nghiệp lớn mà còn có cả các syndicate, trust thuộc các ngành khác nhau nhưng cóliên quan với nhau về kinh tế - kỹ thuật dẫn đến hình thành các công ty độc quyền lớn như
consortium
Hiện nay xã hội đã phát triển lên một hình thức mới: liên kết đa ngành, “là sự kếthợp giữa liên kết dọc và liên kết ngang Tập đoàn liên kết các doanh nghiệp hoạt độngtrong nhiều ngành, nghề và lĩnh vực có hoặc không có mối quan hệ về công nghệ, quytrình sản xuất… nhưng buộc phải có mối quan hệ chặt chẽ về tài chính.”8 Từ đó, nhữnghình thức tổ chức độc quyền mới cũng ra đời Đó là concern và conglomerat
“Concern là tổ chức độc quyền đa ngành, thành phần của nó có hàng trăm xí nghiệp
có quan hệ với những ngành khác nhau và được phân bổ ở nhiều nước.”9 Ví dụ điển hình
về tính đa ngành là GMC (General Motor Corporations), năm 1999 GMC có doanh số là
136 tỷ USD Ngoài ngành sản xuất ô tô chiếm từ 80% - 90% tổng giá trị sản phẩm, GMCcòn thâu tóm những xí nghiệp sản xuất đồ điện thông dụng như mô–tơ, tua-bin, máy giặt,máy hút bụi và một số mặt hàng khác GMC có 136 xí nghiệp ở Mỹ, Canada, Tây Âu, Úc
và Châu Á Năm 1997, tổng số công nhân và nhân viên của GMC lên tới 876 ngàn người
“Conglomerate là sự kết hợp của hàng chục những hãng vừa và nhỏ không có sự
liên quan trực tiếp về sản xuất hoặc dịch vụ cho sản xuất”10 Mục đích của hình thức này
là thu lợi nhuận thông qua việc kinh doanh chứng khoán
1.2.2 Tư bản tài chính và hệ thống tài phiệt chi phối nền kinh tế
Chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do phát triển đến độ nhất định thì xuất hiện các tổchức độc quyền Quá trình tích tụ và tập trung sản xuất trong công nghiệp sẽ dẫn đến hìnhthành các tổ chức độc quyền công nghiệp, nắm địa vị thống nhất trị một ngành hay một sốngành công nghiệp Tương tự, trong ngân hàng cũng diễn ra quá trình tích tụ và tập trung
8 Nguyễn Văn Dương, (27/09/2021), Sự liên kết trong mô hình nhóm công ty, tập đoàn kinh tế, Truy cập từ
https://luatduonggia.vn/su-lien-ket-trong-mo-hinh-nhom-cong-ty/
9 Bộ giáo dục và đào tạo, (2019), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Sđd, tr 131
10 Bộ giáo dục và đào tạo, (2019), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Sđd, tr 132
Trang 11tư bản vào những ngân hàng lớn, hay chính là tư bản độc quyền ngân hàng Chính sự xuất
hiện của các độc quyền ngân hàng làm cho ngân hàng bắt đầu có vai trò mới, từ chỗ trunggian trong thanh toán, nay đã nắm được hầu hết tư bản tiền tệ của xã hội Trước sự chiphối ngày càng cao của ngân hàng, đã có một quá trình xâm nhập tương tự của các côngnghiệp tác động lên ngân hàng cũng đang diễn ra Các độc quyền tham gia vào việc chiphối ngân hàng bằng cách mua cổ phần ngân hàng hoặc lập ngân hàng riêng Cả hai quátrình độc quyền hóa này thúc đẩy lẫn nhau, làm nảy sinh ra khái niệm mới về tư bản, đó là
tư bản tài chính.
V Lênin nói: “… tư bản tài chính là kết quả của một số ít ngân hàng độc quyền lớn nhất, với tư bản của những liên minh độc quyền các nhà công nghiệp”11
Trong tư bản tài chính, có một nhóm nhỏ gồm những nhà tư bản giàu có nhất, có thế
lực nhất được gọi là bọn đầu sỏ tài chính Các đầu sỏ tài chính là một nhóm nhỏ độc
quyền tư bản tài chính chi phối toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị của toàn xã hội
Là tư bản tài chính được nhân cách hóa, bọn đầu sỏ tài chính có đầy đủ sức mạnh vàbản chất mà tư bản tài chính truyền cho Chúng trực tiếp nắm và khống chế toàn bộ sựphát triển của nền kinh tế quốc dân Từ quyền lực kinh tế, đầu sỏ tài chính thâu tóm cảquyền lực chính trị, xã hội, biến bộ máy nhà nước thành công cụ phục vụ cho lợi ích củamình
Các cơ chế thống trị của các đầu sỏ tài chính, đầu tiên là chế độ tham dự, là chế độ
kiểm soát của một công ty lớn nhất với tư cách là một công ty gốc (công ty mẹ) đối vớinhững công ty khác, dựa trên cơ sở nắm số cổ phiếu tư bản tài chính, số cổ phiếu không
chế thường là trên 50% tổng số cổ phiếu của công ty gốc; hai là chế độ ủy nhiệm, là do
việc phát hành cổ phiếu nhỏ làm cho số lượng cổ đông lớn, phân bố rải rác, vì vậy thực tế
họ không có khả năng đến dự đại hội cổ đông, phải ủy quyền cho các ngân hàng haynhững đại cổ đông khác thay mặt mình ở hội nghị quyết định chiến lược kinh doanh vàbầu hội đồng quản trị của công ty
11 Bộ giáo dục và đào tạo, (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Sđd, tr 140
Trang 12Thích ứng với sự biến đổi mới, hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài chính đã thay đổi Sự thay đổi diễn ra ngay trong quá trình liên kết và thâm nhập vào nhaugiữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp
Tư bản tài chính mở rộng thị trường chứng khoán và tham gia vào việc đẩy mạnh hoạt động trong các sở giao dịch trên thị trường trong và ngoài nước Vai trò kinh tế và chính trị của tư bản tài chính ngày càng lớn, không chỉ trong khuôn khổ quốc gia mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới các nước khác trên thế giới
Cổ phiếu có mệnh giá nhỏ được phát hành rộng rãi Khối lượng cổ phiếu tăng lên, nhiều tầng lớp dân cư mua cổ phiếu, kéo theo đó là chế độ tham dự được bổ sung bằng chế độ ủy quyền
Các tập đoàn tư bản tài chính đã thành lập các ngân hàng đa quốc gia và xuyên quốcgia, thực hiện việc điều tiết các concern và conglomerate, xâm nhập vào nền kinh tế của các quốc gia khác
1.2.3 Xuất khẩu tư bản
V I Lênin vạch ra rằng, xuất khẩu hàng hóa là đặc điểm của giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, còn xuất khẩu tư bản là đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Xuất khẩu tư bản “là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước ngoài)
nhằm mục đích thu được giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở các nước nhập khẩu tư bản”12 Xuất khẩu tư bản trở thành tất yếu, bởi một số ít nước phát triển đã tích lũy được một khối lượng tư bản lớn và có một số “tư bản thừa” tương đối cần tìm nơi đầu
tư có nhiều lợi nhuận hơn so với đầu tư ở trong nước; nhiều nước lạc hậu về kinh tế bị lôi cuốn vào sự giao lưu kinh tế thế giới nhưng lại “thiếu tư bản”, giá ruộng đất tương đối hạ,tiền lương thấp, nguyên liệu rẻ, nên tỷ suất lợi nhuận cao, rất hấp dẫn đầu tư tư bản Do
đó, việc xuất khẩu tư bản ra nước ngoài trở thành nhu cầu tất yếu của các tổ chức độc quyền
12 Bộ giáo dục và đào tạo, (2021), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Sđd, tr 141