ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM BÀI TẬP 4 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN ĐƯỜNG ĐỔI MỚI XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT[.]
ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ XI
Hoàn cảnh lịch sử
Trước kì đại hội XII, tình hình chính trị thế giới đánh dấu nhiều bước thay đổi
Sự trỗi dậy của tổ chức “Nhà nước Hồi giáo tự xưng” (IS) và cuộc chiến chống IS.
Khủng hoảng chính trị Ukraine, bạo loạn Maidan đánh dấu sự chuyển hướng chính trị của quốc gia này, mở đầu làn sóng chống cộng gây chia rẽ sâu sắc giữa lòng Châu Âu, gây căng thẳng trong cuộc tranh giành ảnh hưởng địa chính trị giữa các siêu cường.
Gia tăng xung đột vũ trang, tranh chấp chủ quyền biển, đảo các nước trên toàn thế giới, điển hình như các hành động quân sự của Israel vào khu vực người Palestin, giàn khoan Hải Dương 981 ngang nhiên tiến vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển quốc tế năm 1982
Bất đồng trong giải quyết vấn đề giữa các thành viên EU ngày càng sâu sắc, dấy lên lo ngại về sự tan rã của khối liên minh này.
Trật tự thế giới đa cực bắt đầu hình thành.
Xu thế hội nhập và hợp tác khu vực, quốc tế đang có bước phát triển mới và thực chất hơn, thể hiện rõ qua các diễn đàn khu vực Các khuôn khổ hợp tác chủ chốt như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước đóng vai trò là cầu nối đối thoại, định hình an ninh và thúc đẩy liên kết kinh tế, từ đó góp phần ổn định và tăng trưởng bền vững cho khu vực và toàn cầu.
ASEAN mở rộng (ADMM+), và ở mức độ nào đó là thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Về đối ngoại
Nhận thức đúng về xu thế của thời đại và cục diện thế giới, khu vực là nền tảng cho các định hướng chiến lược và sự điều hành phù hợp Đảng và Nhà nước đã đề ra định hướng chỉ đạo và ban hành các chính sách đúng đắn, kịp thời, dựa trên lợi ích quốc gia - dân tộc.
Thứ hai: Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại và tiếp tục đi vào sâu các mối quan hệ hợp tác, đồng thời triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới thông qua một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích của đất nước Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng và an ninh Công tác đối ngoại được đẩy mạnh sẽ tạo môi trường quốc tế thuận lợi, hòa bình, thiết thực góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu tối thượng của đối ngoại là bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi Việt Nam thực thi đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; kiên định đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Đảng và Nhà nước coi Việt Nam là bạn và đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước, đồng thời đóng góp vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới Xác định mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại là bảo đảm lợi ích quốc gia.
- dân tộc là một trong những vấn đề quan trọng nhất “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2016, tr.152
Đảng Cộng sản Việt Nam, qua Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII do Văn phòng Trung ương Đảng công bố năm 2016 (tr 34–35), nêu rõ mục tiêu giữ vững hòa bình và ổn định, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước Văn kiện nhấn mạnh sự cân bằng giữa bảo đảm an ninh và ổn định với huy động nguồn lực bên ngoài nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; trở thành bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược và các nước lớn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và an sinh của đất nước, hiện thực hóa khuôn khổ quan hệ đã được thiết lập Nâng cao vai trò và chủ động tham gia các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên Hợp Quốc, đồng thời tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh Triển khai đồng bộ các hoạt động đối ngoại trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội Đồng thời nâng cao chất lượng công tác tham mưu đối ngoại và hội nhập, tăng cường công tác thông tin đối ngoại, tạo đồng thuận trong nước và tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước.
Trong tình hình mới, Đảng lãnh đạo thống nhất và Nhà nước quản lý tập trung các hoạt động đối ngoại, tạo nên diện mạo đa dạng với nội dung và hình thức phong phú của đối ngoại Việt Nam Để thực hiện điều này, cần đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại; phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; liên kết giữa ngoại chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; và gắn kết đối ngoại với quốc phòng, an ninh.
Thứ Sáu tập trung đẩy mạnh hoạt động đối ngoại với các Đảng anh em nhằm định hướng và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa Việt Nam với một số nước, nhất là các nước láng giềng Hoạt động này góp phần tháo gỡ vướng mắc, khai thông bế tắc và giữ nhịp cho quan hệ nhà nước cũng như quan hệ tổng thể, để phát triển ổn định, lành mạnh và đúng hướng.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2016, tr.153
4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2016, tr.35
5 [6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2016, tr.156.
Về công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Đại hội XII xác định trong 5 năm tới tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, chú trọng CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát triển nhanh và bền vững; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Quán triệt quan điểm này, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cần đẩy mạnh thực hiện một số giải pháp nhằm tăng cường CNH-HĐH, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện hạ tầng nông nghiệp và nông thôn, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới và cải cách thể chế, đồng thời tăng cường liên kết vùng để xây dựng nền kinh tế hiện đại và bền vững.
Một là, tiếp tục khẳng định công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là con đường tất yếu Báo cáo chính trị tại Đại hội XII khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức; hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” 6 Báo cáo còn nêu rõ: “Đây là chủ trương lớn, quan trọng được nêu ra từ Đại hội XI của Đảng Trong thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình này theo hướng kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh trên cơ sở nâng cao năng suất lao động, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, đổi mới và sáng tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế” 7 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là phải hướng mạnh vào phát triển các ngành công nghệ cao, công nghệ sạch, tranh thủ những cơ hội “đi tắt, đón đầu” để hình thành nên những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học - công nghệ thế giới Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức sẽ phát huy được lợi thế để kết hợp sức mạnh sáng tạo của dân tộc với sức mạnh thời đại khai thác những ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường của khu vực và thế giới để phát huy tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động dồi dào của nước ta để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Xét về lâu dài, lợi thế về lao động chưa qua đào tạo và tài nguyên thiên nhiên sẽ ngày càng cạn kiệt, bởi vậy, cần phát huy lợi thế nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân tài để cạnh tranh và chiếm lĩnh những ngành có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu Tuy nhiên, khi đánh giá tổng quát kết quả thực hiện Nghị quyết đại hội XI (2011 - 2015), Báo cáo chính trị đã nêu:
6 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.22
7 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.22
“Nền kinh tế vẫn chủ yếu phát triển theo chiều rộng, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố về vốn, tài nguyên, lao động trình độ thấp, chưa dựa nhiều vào tri thức, khoa học và công nghệ, lao động có kỹ năng” 8 Đó là nguyên nhân cơ bản dẫn đến nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Báo cáo chính trị khẳng định nguyên nhân của những hạn chế và yếu kém hiện nay là quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm và chưa gắn với sự phát triển của kinh tế tri thức Để bảo đảm thành công cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa và sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại, không còn con đường nào khác ngoài việc phát triển mạnh mẽ kinh tế tri thức.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức ở nước ta nhằm không chỉ tăng trưởng kinh tế mà còn đạt được các mục tiêu xã hội thiết yếu: tăng năng suất lao động đồng thời tạo thêm ngày càng nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động, bảo đảm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, và hướng tới dân chủ, công bằng, văn minh Những yếu tố này phản ánh bản chất định hướng xã hội chủ nghĩa của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức mà Việt Nam đang hướng tới.
Kế thừa và phát huy những thành tựu, bài học học kinh nghiệm của 30 năm đổi mới, nhất là 5 năm gần đây, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã nêu ra phương hướng phát triển đất nước trong 5 năm (2016 - 2020) “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” 10 với chủ trương “công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu; huy động và phân bổ có hiệu quả mọi nguồn lực phát triển” 11
8 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.84
9 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.85
10 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.89
11 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.90 Điều chỉnh các chỉ tiêu cụ thể cho phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Mục tiêu đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đã được xác định từ Đại hội VII của Đảng, và trong 20 năm qua toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nỗ lực phấn đấu thực hiện mục tiêu này; Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu này chưa đạt được; Trong 5 năm tới phải phấn đấu quyết liệt hơn, phát triển kinh tế nhanh, bền vững để sớm đạt được mục tiêu; Với quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, Nghị quyết Đại hội XII đã đề ra những chỉ tiêu xã hội quan trọng nhằm giải quyết tốt các vấn đề xã hội và hướng tới nền kinh tế tri thức: đến năm 2020 GDP bình quân đầu người khoảng 3.200–3.500 USD; tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 40%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65%–70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; quá trình thực hiện các chỉ tiêu của Đại hội XII đồng nghĩa với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Việt Nam cần khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực nội lực và ngoại lực để đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH đất nước, thông qua tăng cường hợp tác quốc tế và huy động nguồn vốn cho đổi mới và phát triển Nền nông nghiệp nhiệt đới và lực lượng lao động trí tuệ, sáng tạo đang ở thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” là lợi thế lớn để thu hút nguồn lực và công nghệ nước ngoài Bên cạnh các thành tựu KH-CN và kinh tế tri thức, các mối quan hệ hợp tác quốc tế cùng hiệp định thương mại ký kết với các đối tác có nguồn công nghệ hàng đầu thế giới tạo ra nguồn ngoại lực quan trọng Việt Nam có thể khai thác Trong thời gian tới, cần đẩy mạnh cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư và chuyển giao công nghệ, tăng cường năng lực lao động và nghiên cứu, ứng dụng công nghệ để tận dụng tối đa các nguồn lực nội lực và ngoại lực phục vụ quá trình CNH-HĐH.
- Tiếp tục phát triển những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là lao động chất lượng cao, phân bố lao động hợp lý, đẩy mạnh chuyển dịch lao động từ lĩnh vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
12 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.272
- Thực hiện hiệu quả chiến lược xuất khẩu lao động theo chương trình mục tiêu, qua đó tạo nguồn vốn và nhân lực chất lượng cao cho CNH, khắc phục tình trạng xuất khẩu lao động kiểu “4D” như hiện nay.
Chúng tôi tổ chức các khóa đào tạo khởi nghiệp, kỹ năng nghề và ngoại ngữ theo chương trình mục tiêu dành cho các đối tượng đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên nhưng chưa tìm được việc làm phù hợp, nhằm biến đội ngũ trí thức này thành nguồn lao động chất lượng cao Chương trình tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh, trang bị kiến thức khởi nghiệp và kỹ năng nghề thiết yếu, đồng thời tăng cường khả năng ngoại ngữ để mở rộng cơ hội việc làm trên thị trường lao động Với lộ trình học tập linh hoạt và phù hợp, người học được hỗ trợ tiếp cận việc làm phù hợp và phát triển sự nghiệp một cách bền vững.
Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn bằng cách tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo mô hình hợp tác xã kiểu mới, đồng thời tăng cường hợp tác và tiếp nhận chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp công nghệ cao từ Nhật Bản và Israel Mục tiêu là khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế của đất nước để tạo nguồn nông sản chất lượng cao, sản lượng lớn, đáp ứng đầy đủ nhu cầu xuất khẩu và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Ba là, đổi mới giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời phát triển, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng sạch, công nghệ thông tin phục vụ CNH, HĐH đất nước Cụ thể là:
- Xác định rõ nhu cầu và mục tiêu nhân lực chất lượng cao cho quá trình CNH, HĐH giai đoạn 2016-2020 và 2021-2025, để thực hiện đổi mới giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Về kinh tế
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế.
Chủ đề của Đại hội là tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh của toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình và ổn định; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đại hội nêu rõ mục tiêu và nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước cho giai đoạn 5 năm 2016-
2020, đó là: Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế đã thực hiện và đạt được kết quả bước đầu Tuy vậy, mô hình tăng trưởng về cơ bản vẫn theo mô hình cũ, chậm được đổi mới; tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư và số lượng lao động, chưa dựa vào tăng năng suất lao động, ứng dụng khoa học - công nghệ Quan điểm chỉ đạo của Trung ương là: Nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển nhanh và bền vững toàn diện về cả kinh tế, xã hội và môi trường Gắn kết chặt chẽ với thực hiện ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế với trọng tâm ưu tiên là:
- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn, thuận lợi cho khởi nghiệp và đổi mới, sáng tạo, nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài.
Việc cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới nhằm nâng cao hiệu quả và sinh kế cho người dân, đồng thời cơ cấu lại đầu tư công để phân bổ nguồn lực công tư hợp lý; đồng thời cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng nhằm tăng tính cạnh tranh và ổn định tài chính; việc cơ cấu lại ngân sách nhà nước và nợ công được thực hiện để duy trì cân bằng tài khóa và ổn định vĩ mô, còn cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công và hiệu quả hoạt động của hệ thống công.
- Nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, có ý nghĩa quyết định đối với thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước Trung ương đã đưa ra những định hướng lớn, những nhiệm vụ và giải pháp để tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng của nền kinh tế trong thời kỳ mới.
Việc thực hiện đường lối của Đảng về hội nhập quốc tế đã đem lại những thành tựu quan trọng trong tất cả các lĩnh vực nhưng trong thực hiện các cam kết quốc tế mới với quốc tế sẽ đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cả về kinh tế, cả về chính trị, xã hội; sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhiều ngành, doanh nghiệp và sản phẩm của nước ta sẽ gặp khó khăn hơn Hội nghị đã chủ trương: “Thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.”
Quan điểm chỉ đạo của Trung ương là: Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia - dân tộc là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hội nghị Trung ương về phát triển kinh tế tư nhân đã trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quan điểm chỉ đạo của Trung ương là: Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiệt, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỷ trọng đóng góp trong GDP Xóa bỏ rào cản, định kiến, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh và đúng định hướng Phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước của kinh tế tư nhân, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, có đủ khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu Khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia góp vốn Thúc đẩy phát triển mọi hình thức liên kết sản xuất, chuỗi giá trị thị trường giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Về văn hóa
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam Bởi vì, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rất rõ vai trò và sức mạnh của văn hóa: “Văn hóa phải tham gia kháng chiến, kiến quốc”; “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”… Ngày nay, Đảng ta chủ trương “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và vai trò của văn hóa được khẳng định là nền tảng tinh thần, động lực và mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội và của chủ nghĩa xã hội ở nước ta Vì vậy, việc vận dụng các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng vào giảng dạy chuyên đề trên là rất cần thiết.
Một số văn kiện, nghị quyết, chủ trương của Đảng có liên quan đến lĩnh vực văn hóa, cụ thể như:
Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) là nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về lĩnh vực văn hóa, nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, X, XI Đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (2014) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Đây cũng là nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sau 15 năm, kể từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII - “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu, quán triệt, vận dụng các nghị quyết trên vào biên soạn, giảng dạy, nhất là nội dung liên quan đến lĩnh vực văn hóa, cụ thể:
Trong bối cảnh phát triển đất nước, mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa được nêu rõ trong hai văn kiện quan trọng của Đảng là Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016) Hai nghị quyết này nhấn mạnh văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội và đồng thời gắn công tác văn hóa với sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn bản sắc dân tộc và nâng cao đời sống văn hóa của người dân Để đạt được mục tiêu đó, các văn kiện đề ra định hướng, nguyên tắc và giải pháp về đổi mới nhận thức, củng cố hệ thống quản lý văn hóa, huy động nguồn lực và sự tham gia của toàn xã hội vào các hoạt động văn hóa, giáo dục và truyền thông, nhằm xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước.
- Trong Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, Đảng ta xác định rất rõ: Mục tiêu chung và 05 Mục tiêu cụ thể Cần nghiên cứu, nắm vững các mục tiêu này, vì nó được Đảng ta xác định tại một Hội nghị chuyên đề của Ban Chấp hành Trung ương, trước nhưng rất gần với Đại hội XII của Đảng.
Trong Văn kiện Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo của cấp ủy và các ngành phải nhận thức đầy đủ và thực hiện có kết quả các mục tiêu đã đề ra, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, đổi mới toàn diện và phát triển bền vững; từ đó nâng cao hiệu lực của hệ thống chính trị, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân và củng cố quốc phòng an ninh.
Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng tới chân - thiện - mỹ; thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học nhằm hình thành thế hệ đầy bản lĩnh, sáng tạo và trách nhiệm, từ đó nâng cao vị thế của Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển bền vững.
Đặt văn hóa lên làm nền tảng tinh thần vững chắc cho xã hội, ta xây dựng sức mạnh nội sinh quan trọng nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Văn hóa đóng vai trò cốt lõi trong định hình giá trị, chuẩn mực và nhận thức cộng đồng, từ đó tăng cường đoàn kết, trách nhiệm xã hội và khả năng thích ứng với thời đại Khi văn hóa trở thành động lực phát triển, kinh tế - xã hội sẽ thăng hoa song hành với các chuẩn mực dân chủ, công bằng và văn minh, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Đây chính là nền tảng để bảo vệ sự thịnh vượng lâu dài của đất nước và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường thế giới.
5.2 Về quan điểm chỉ đạo
Quan điểm 1 khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước Vì vậy, văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị và xã hội để đảm bảo sự cân bằng, thúc đẩy đổi mới và tăng trưởng dài hạn.
Quan điểm 2 nhấn mạnh xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Nền văn hóa được hình thành từ các đặc trưng dân tộc kết hợp với các giá trị nhân văn, dân chủ và khoa học, nhằm phát triển toàn diện, bền vững và thích ứng với thời đại Việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời mở rộng hợp tác và hội nhập sẽ tạo ra một nền văn hóa Việt Nam vừa riêng biệt vừa đoàn kết, phục vụ sự phồn vinh của đất nước.
Quan điểm 3: Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
Quan điểm 4: Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế.
Quan điểm 5: Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
5.3 Về nhiệm vụ và giải pháp
Trong Văn kiện Đại hội XII, Đảng ta chỉ rõ có 07 nhiệm vụ cụ thể như sau:
Thứ nhất, cần xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Môi trường này phải thúc đẩy các giá trị tích cực, tôn trọng pháp luật, sự đa dạng và hài hòa xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho sáng tạo và học hỏi, tăng cường hợp tác giữa các tổ chức trong nước và quốc tế Việc xây dựng môi trường văn hóa như vậy sẽ củng cố nền tảng xã hội, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững và nâng cao khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế.
Thứ hai: Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế.
Thứ ba: Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa.
Thứ tư: Làm tốt công tác lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản.
Thứ năm: Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa.
Thứ sáu: Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Thứ bảy: Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa.
5.3.2 Những giải pháp chủ yếu
ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ XI
Về đánh giá, dự báo tình hình thế giới
Đại hội XIII kế thừa các nhận định căn bản của các kỳ đại hội trước đây, đặc biệt Đại hội XII, về các đặc điểm có tính quy luật và xu thế dài hạn của thế giới, đồng thời được cập nhật, điều chỉnh phù hợp với tình hình mới Đại hội XIII khẳng định hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn; toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng đối mặt với nhiều thách thức do thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh, phức tạp và khó dự báo Châu Á - Thái Bình Dương ngày càng đóng vai trò quan trọng, song đây là khu vực tiềm ẩn nhiều bất ổn.
Một điểm mới là, trên cơ sở đánh giá Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, Đại hội XIII đã đưa việc tranh thủ thành tựu của cuộc cách mạng này vào nội hàm quan điểm phát triển đất nước, trên cơ sở đó xác định rõ “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” là một định hướng lớn trong chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030.
2 Về đối ngoại: Đại hội XIII khẳng định "bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc", tức là đặt lợi ích quốc gia- dân tộc lên trước hết và trên hết; đồng thời, chỉ ra nguyên tắc chung là phải luôn nỗ lực đạt được lợi ích quốc gia- dân tộc tới mức cao nhất có thể. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia- dân tộc không có nghĩa nước ta theo chủ nghĩa dân tộc vị kỷ
13 Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 10 năm 2021-2030
Bên cạnh đó, Đại hội XIII bổ sung bảo đảm an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xã hội trật tự, kỷ cương cũng là những lợi ích quan trọng của quốc gia- dân tộc Các thành tố nói trên có quan hệ chặt chẽ, tương hỗ và thống nhất với nhau, không thể coi nhẹ thành tố nào, đồng thời là căn cứ quan trọng nhất để xác định đối tác- đối tượng, hợp tác- đấu tranh trong đối ngoại, là "bất biến" để ứng phó với tình hình diễn biến nhanh, phức tạp.
2.1 Về vị trí, vai trò và nhiệm vụ Đại hội XIII là lần đầu tiên Đảng xác định rõ vị trí, vai trò tiên phong của đối ngoại trong "tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước" 14 Cùng với tư duy tiên phong, tư duy phát triển là điểm mới trong tư duy đối ngoại của Đảng tại Đại hội XIII.
Đại hội XIII nhấn mạnh “tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về đối ngoại, không để bị động, bất ngờ”.
Giữ vững môi trường hòa bình và ổn định là điều kiện then chốt để đất nước phát triển và bảo vệ Tổ quốc Đây là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó đối ngoại bằng các biện pháp hòa bình đóng vai trò quan trọng để ngăn ngừa, hóa giải và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh và xung đột từ sớm, từ xa Nhờ duy trì hòa bình và an ninh, đất nước được bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và có điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển bền vững.
Tiên phong huy động các nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước.
Tiên phong mở đường, đồng hành, phục vụ lợi ích của người dân, địa phương và doanh nghiệp trong hội nhập quốc tế.
Tiên phong nâng cao vị thế và uy tín đất nước thông qua phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải, đảm nhận tốt các trọng trách quốc tế, đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào quan tâm chung của thế giới Đại hội XIII xác định đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương, phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công và các khuôn khổ hợp tác cũng như trong những
14 phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 28, năm 2013 được tổng kết như một tuyên bố mang tính chiến lược, nêu rõ các vấn đề quan trọng phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện của đất nước Những phát biểu này thể hiện sự kiên định về đường lối đối ngoại, nhấn mạnh tính đồng bộ giữa mục tiêu trong nước và hoạt động trên trường quốc tế, đồng thời đề cao sự hợp tác đa phương và song phương để bảo vệ lợi ích quốc gia Nội dung tập trung vào việc xây dựng một nền ngoại giao hiệu quả, linh hoạt trước thách thức và cơ hội của thời đại, trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc và đảm bảo tính khả thi của các đề xuất Qua đó, bài viết mang lại cái nhìn tổng thể về tầm chiến lược trong các phát biểu và định hướng cho công tác đối ngoại của đất nước trong tương lai.
2.2 Triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng
Là định hướng bao trùm của đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Tính đồng bộ thể hiện ở sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các trụ cột đối ngoại.
Tính sáng tạo đòi hỏi đối ngoại không ngừng đổi mới, linh hoạt, khôn khéo xử lý các vấn đề phức tạp, tìm hướng đi, cách làm mới với “tinh thần chủ động tiến công, dám vượt ra khỏi những tư duy, những lĩnh vực quen thuộc để có suy nghĩ và hành động vượt tầm quốc gia, đạt tới tầm khu vực và quốc tế” 15
Hiệu quả của đối ngoại được thể hiện ở việc đưa các quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu, thực chất và thiết thực; đồng thời huy động và kết hợp hiệu quả các nguồn lực bên ngoài với nguồn lực trong nước để phục vụ tốt nhất cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
Đại hội XIII đặt ra yêu cầu hội nhập quốc tế phải được thực hiện một cách toàn diện và sâu rộng, thông qua mọi kênh Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng thời được triển khai qua các hình thức hợp tác song phương và đa phương ở tất cả các cấp, ngành và lĩnh vực.
2.3 Đại hội XIII đề ra chủ trương “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân”
Nền ngoại giao Việt Nam thể hiện tính toàn diện thông qua chủ thể thực hiện đối ngoại gồm hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và nhân dân; hoạt động đối ngoại diễn ra trên mọi lĩnh vực trọng yếu: chính trị, quốc phòng, an ninh và kinh tế-xã hội, với toàn bộ đối tác, địa bàn và khu vực Trọng tâm là đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống.
15 Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 30, tháng 8/2018. thống, chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương quan trọng có tầm chiến lược.
Tính hiện đại thể hiện ở tính chất nền ngoại giao Việt Nam là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống, bản sắc ngoại giao của dân tộc, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đường lối đối ngoại của Đảng qua các thời kỳ và tinh hoa ngoại giao thời đại; ở vận hành nền ngoại giao trong khuôn khổ thể chế ngày càng hoàn thiện, gắn kết chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; ở tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả với phương thức hoạt động khoa học, chuẩn hóa và số hóa, có năng lực đổi mới, sáng tạo và chủ động thích ứng với chuyển biến mau lẹ của tình hình.
3 Về công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước