1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ ngoại giao, tập 2

225 62 7
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 225
Dung lượng 4,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vĩ vậy, đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại phải không ngừng trau đổi và nâng cao trình độ nghiệp vụ, thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước Để góp phần nâng c

Trang 1

HỌC VIỆN QUAN HỆ QUỐC TẾ

GIAO TRINH MOT SO VAN ĐỀ CƠ BẢN

VỀ NGHIỆP VỤ NGOẠI GIAO

TẬP II PHẦN II: TIẾP XÚC VÀ ĐÀM PHÁN NGOẠI GIAO PHAN II: CONG VAN VA VAN KIEN NGOAI GIAO Người biên soạn: TS DƯƠNG VĂN QUẢNG

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRI QUOC GIA

Trang 2

HOC VIEN QUAN HỆ QUỐC TẾ

GIÁO TRÌNH

‘MOT SO VAN DE CO BAN

VE NGHIEP VU NGOAI GIAO

TAP Il

PHAN li: TIẾP XÚC VÀ ĐÀM PHÁN NGOẠI GIAO PHẦN II: CÔNG VĂN VÀ VĂN KIỆN NGOẠI GIAO Người biên soạn : TS DƯƠNG VĂN QUẢNG

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIÁ

Trang 3

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện

đại hoá, chủ động hội nhập với thé giới và khu vực nhằm mục

tiêu đân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Vĩ vậy, đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại phải không ngừng trau đổi và nâng cao trình độ nghiệp vụ, thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước

Để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ làm công tác đối ngoại, đồng thời đáp ứng nhu cầu học tập và

nghiên cứu của cân bộ và sinh viên ngành quan hệ quốc tế,

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản bộ giáo trình Mot

s6 van dé co ban vé nghiép vu ngoại giao do Học viện

Bộ giáo trình này để cập một cách hệ thống những vấn

để lý thuyết và kỹ năng cơ bản về nghiệp vụ ngoại giao xuất

phát từ thực tiễn hoạt động ngoại giao hiện đại của Việt Nam trong B0 năm qua và theo quy định, thông lệ quốc tế được đa

số các nước tuân thủ

Nội dung bộ giáo trình gồm những phần sau:

- Khái niệm về hgoại giao và cơ cấu tổ chức ngành ngoại giao

- Tiếp xúc va dam phán ngoai giao.

Trang 4

- Công văn và văn kiện ngoại giao

- Lễ tân ngoại giao

- Công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại

- Nghiệp vụ lãnh sự

- Công tác nghiên cứu ngoại giao

Để tiện lợi cho bạn đọc nghiên cứu và học tập, chúng tôi

in cuốn sách thành bốn tập theo từng lĩnh vực cụ thể, Tập hai gồm hai phần (phần II và phần HD) giới thiệu với bạn đọc hai nghiệp vụ ngoại giao là công tac tiếp xúc và đàm phan

ngoại giao và công tắc công văn, văn kiện ngoại giao

Đây là bộ giáo trình chính thức đầu tiên về nghiệp vụ ngoại giao, đo vậy khó tránh khỏi những khiếm khuyết Hy vọng rằng bộ giáo trình này có ích cho người sử dụng Nhà xuất bản và Học viện Quan bệ quốc tế mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng của độc giả để lần tái bản sau được hoàn chỉnh hơn

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc

Tháng 9 năm 2000 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

Trang 5

PHẦN II

TIẾP XÚC VÀ ĐÀM PHÁN

NGOẠI GIAO

Trang 6

CHƯƠNG ï

NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG

VE ĐÀM PHÁN

1 GIAO TIEP VA DAM PHAN

Xét dưới góc độ xã hội học, có thể coi đàm phán như một lĩnh vực thuộc mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp xã hội và mọi nền văn hoá Nó diễn ra hằng ngày trong mọi tình huống khác nhau và liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội, từ những diều nhỏ nhất đến những vấn

đề quốc gia đại sự: Một đứa trẻ vòi vĩnh ăn kẹo rồi mới

làm một việc gì đó, một người đi đường kỳ kèo với cảnh sát về mức xử lý khi anh ta vi phậm luật giao thông, một người mua hàng đòi giảm giá với đủ mọi lý lẽ có thể vận dụng, một quốc gia đàm phán về biên giới với nước láng giềng , tất cả đều có một nét nào đó giống nhau

Xét về mặt giao tiếp, đàm phán là quá trình sử dụng lời nói có chủ định bởi vì mỗi bên tham gia đàm phán đều muốn thông qua ngôn ngữ, bày tổ quan điểm,

Trang 7

tìm cách thuyết phục đối phương vì một mục đích nhất định và các bên có thể đi đến một thoả thuận sau khi

đã nhượng bộ lẫn nhau Như vậy, đàm phán là một hành vi giao tiếp nhằm mục đích đạt được một thoả thuận giữa các bên Song không phải mọi hành vi giao tiếp có mục đích đều được coi là đàm phán Những cuộc tiếp xúc, đấu khẩu, mặc cả chỉ nhằm thoả mãn những quyển lợi riêng tư và kết cục của nó chỉ liên quan đến chính những người trong cuộc thì không được coi là dam phan Chi những hành uì trao đổi bằng lời nói giữa các pháp nhân đại điện cho quyền lợi của một cộng đồng mới được nhìn nhận là đàm phán

2 ĐỊNH NGHĨA ĐÀM PHÁN

Đàm phán là hành 0i giao tiếp tự nguyện hoặc có chủ ý, diễn ra trong một bối cảnh không gian uà thời gian nhất định, được quy định bởi những quy tắc pháp

lý chặt chẽ trong đó mỗi pháp nhân thông qua ngôn ngữ

Uò các thủ thuật giao tiếp từn cách làm cho quan điểm của mình thắng thế nhằm đạt được một thoả thuận

Từ định nghĩa trên ta cần làm rõ thêm một số điểm:

- Người đàm phán không đại điện cho quyền lợi cá nhân mà là quyển lợi của cộng đồng, có tư cách và thim quyển đại diện

- Nội dung đàm phán là những vấn đề hệ trọng liên quan đến quyền lợi và vận mệnh của cộng đồng

Trang 8

- Ngôn ngữ sử dụng không nhất thiết là tiếng mẹ

đẻ

- Bối cảnh có thể là quốc gia, khu vực và quốc tế

- Các quy tắc pháp lý được viện dẫn có thể là nội luật, điều ước quốc tế, luật chuyên ngành, án lệ, thông

lệ quốc tế

- Thủ thuật giao tiếp hiểu theo nghĩa rộng là phương thức đàm phán trong đó người đàm phán một mặt sử dụng những lập luận để bảo vệ quan điểm của minh hay bác bỏ lập luận của đối phương, mặt khác tiến hành vận động ngoài hành lang, vận động dư luận, tuyên truyền và thậm chí cả những biện pháp gây ấp lực, gây ảnh hưởng, bắn tin, tác động tâm lý, v.v

3 MÔ HÌNH ĐÀM PHÁN

Gọi các bên đàm phán là P1 và P2 và những quyết định mà các bên muốn đưa ra là D1, D2 Nếu P1 áp đặt quyết định D1 và P2 phải chấp nhận thì đó là hành uí

áp đặt cưỡng bức:

DI

Pl ———_DD_D_D _ P2

Hanh vi ap đặt cưỡng bức

Trang 9

Trong một số trường hợp, P1 và P2 khác nhau về quan điểm, nhưng không chủ định trước một quyết định nào mà gặp nhau trao đổi nhằm phối hợp quan điểm Đây là dạng rao đổi thống nhất (concertation)

Trao đổi thống nhất

Nếu P1 đưa ra quyết định D1 nhưng P9 không chấp nhận và đưa ra D2; việc cọ sát hai quan điểm sẽ dẫn dén dam phan

D1 D2

: Đàm phán

_4 NGUYÊN NHÂN DẪN DEN DAM PHÁN

4.1 Khái niệm xung đột

Như đã nói ở trên, đầm phán là một hành vi không thể thiếu được trong đời sống xã hội Song câu hỏi đặt

Trang 10

ra là nguyên nhân nào dẫn đến đàm, phán Hay nói _ cách khác khi nào thì tiến hành đàm phán?

Trong xã hội, quốc gia hay quốc tế mỗi cộng dồng đều quản lý một địa hạt riêng hay khu vực ảnh hưởng được xác định bởi các đường ranh giới, và sống và hành động theo một thế giới quan phù hợp với chính kiến, tôn giáo, văn hoá của họ Đương nhiên, do nhu cầu phát triển và cũng là quy luật, các cộng đồng đều có xu hướng tìm cách bảo vệ, thậm chí mở rộng địa hạt, hay

áp đặt thế giới quan của mình Sự "bành trướng" của người này tất yếu sẽ đụng chạm đến sự "sống còn" của người kia và sẽ làm nảy sinh mâu thuẫn Mâu thuẫn lúc đầu có thể là tiểm tàng vì các bên biết tự kiểm chế hoặc điều chỉnh Nhưng nếu nó không được giải quyết

sẽ trở thành xung đột Xung đột là một thực trạng trong đó các bên đều muốn áp đặt quan điểm của mình

để giải quyết mâu thuẫn hiện đang tổn tại trong khi bên kia lại không chấp nhận Đờm: phán được tiến hành chính để nhằm giải quyết xung đột

Bản thân xung đột hay mâu thuẫn không có gì xấu

vì chúng tổn tại ngay trong mỗi sự vật và giữa các sự vật Nó gắn liền với quy luật cạnh tranh và việc thực thi quyền lực trong một trật tự nào đó

4.2 Phân loại xung đột

4.2.1 Hiểu lầm

Những hiện tượng sau được coi là hiểu lầm:

- Khác biệt về ngôn từ lời nói

- Hiểu sai về nhau ngay từ đầu.

Trang 11

- Cố ý tạo ra khác biệt

- Thông tin sai lệch

- Cách tiếp cận vấn đề không giống nhau

Những xung đột này nhìn chung đễ giải quyết Các bên cẦn gặp gỡ và tiếp xúc với nhau Điều quyết định trong đàm phán chính là thiện chí của các bên không muốn để xung đột phát triển theo chiều hướng xấu đi 4.3.9 Xung đột uê chính biến

Đó là các xung đột liên quan đến:

4.2.3 Xung đột uề quyền lợi

Ở đây cần phân biệt những xung đột khi quyền lợi không trùng hợp nhau và những xung đột về cách thức phân chia quyển lợi Quyển lợi eó thể thể hiện dưới dạng vật chất như tài chính, lãnh thổ, tài nguyên nhưng cũng có thể đưới dạng trí tuệ, thẩm mỹ, đạo lý

Trang 12

5 ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐÀM PHÁN

Các bên đàm phán đều phải hiểu rõ đàm phán liên quan đến vấn đề gì Không thể có sự hiểu lầm hoặc cố

tình hiểu lầm về đối tượng của đàm phán Đương nhiên

đối tượng của đàm phán là nguyên nhân, nguồn gốc gây

ra xung đột, nhưng ngay khi bắt đầu đàm phán, không

phải các bên đã để cập mọi góc độ của xung đột Chẳng

hạn, liên quan đến Hội nghị Pari, lúc đầu ta chấp nhận

tiếp xúc với Mỹ chính là nhằm buộc Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom và mọi

hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam dân

chủ cộng hoà, trước khi có hội nghị chính thức gồm các bên tham chiến để tìm giải pháp chính trị cho vấn để

Việt Nam Chỉ riêng việc đàm phán buộc Mỹ chấm dứt

ném bom đã kéo dài hon 5 thang mdi dat dude thoả

thuận Con giải pháp toàn bộ nhằm chấm dứt chiến

tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam đã phải đàm phán mất 4 năm 8 tháng

Như vậy, giải quyết xung đột thông qua đàm phán

thường trải qua nhiều giai đoạn và ở mỗi giai đoạn các

bên cố gắng giải quyết từng vấn để trước khi đạt được thoả thuận toàn bộ

6 THỜI ĐIỂM VÀ ĐỊA ĐIỂM

Dù rằng các bên có thiện chí đồng ý ngồi vào bàn

Trang 13

đầm phán, đàm phán cũng không thể bất đầu ngay, bởi

vì các bên còn phải xác định thời điểm và địa điểm của đàm phán Xác định thời điểm phụ thuộc vào nhiều yếu

tố khác nhau Đó là ¿hế va lực của các bên liên quan, tình hình nội bộ của mỗi bên và môi trường bên ngoài Nhìn lại Hội nghị Pari về Việt Nam chúng ta thấy xác định thời điểm đàm phán là một vấn đề chiến lược của

- không nói đến giải pháp cho vấn để Việt Nam Dẫu sao chăng nữa đây cũng là một lời thú nhận thất bại, buộc phải thay đổi chiến lược từ khước từ đàm phán sang chấp nhận đàm phán để thăm đò

Về phía Việt Nam, ta cho rằng thời điểm đi đến đàm phần thực chất lúc đó là quá sớm, nhưng ta không

bác bỏ đề nghị của Mỹ Để tranh thủ dư luận, ngày 3-4-

1968 Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ra tuyên

bố sẵn sàng tiếp xúc nhằm xác định với phía Mỹ việc chấm dứt không điều kiện việc ném bom và các hành động chiến tranh khác

Như vậy, Mỹ chấp nhận đàm phán để thăm dò, Việt Nam đồng ý nói chuyện để buộc Mỹ thực hiện điều kiện cua đàm phán là chấm đứt ném bom, sau đó mới

Trang 14

chuyển sang hội nghị chính thức

Về địa điểm, vấn để cũng không hề đơn giản vì địa diểm phải thuận lợi cho việc liên lạc, thông tin tuyên truyền của các bên, đó là chưa kể đến thái độ tiếp nhận dam phán của bên thứ ba phải công bằng và khách quan Nói đến thương lượng Việt - Mỹ, ngày 3-4-1968,

Mỹ dề nghị tiếp xúc sẽ diễn ra ở Giơnevơ Việt Nam để nghị chọn Phnôm Pênh, gân với ta để thuận lợi cho hoàn cảnh của ta, Mỹ không chấp nhận và để nghị Niu Đêl, Giacácta, Viên Chăn, Rănggun, ta lại để nghị Vácsava Cuối cùng ngày 2-5-1968 ta để nghị Pari và

Đàm phán thường xuyên chứa đựng những hiểu

lầm, những điều không rõ ràng và diễn ra trong không

gian chưa dược xác định rõ và giữa những người chưa hẳn đã biết nhau Do vậy, trước khi đàm phán cần xác định rõ những yếu tố chỉ phối hoạt động này

Môi trường đàm phán là toàn bộ bối cảnh điền ra đàm phán, bao gồm không gian, thời gian và tất cả những gì tác động đến tiến trình đàm phân, thái độ của người đàm phán và thậm chí cả kết cục đàm phần

Trang 15

Tuỷ thuộc tính chất, quy mô và đối tượng của đầm phần, mọi yếu tố của môi trường cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng Xét dưới góc đệ địa lý, môi trường đàm phán bao gồm môi trường quốc gia, khu vực và quếc tế Xét dưới góc độ tính chất, đó là các vấn đề liên quan đến: -

Những yếu tố này rất phức tạp và không ai có thể

tự cho là đã thông hiểu và nghiên cứu đẩy đủ mọi góc cạnh Trước và trong quá trình đàm phán cần tiếp tục nghiên cứu và bổ sung thêm những yếu tố khác mới xuất hiện

Vì nhiều lý do khác nhau, môi trường đầm phán có thể:

- Thúc ép hoặc thậm chí ấp đặt các bên tiến hành dam phan

- Tao diéu kiện hoặc gây khó khăn cho đàm phan nhằm thúc đẩy hoặc ngăn cản tiến trình đàm phán

- Có lợi cho một bên và bất lợi cho các bên khác

- Có ý nghĩa quyết dịnh đến kết quả đàm phán Tóm lại, trong đàm phán, không được phép bỏ qua, đù là nhỏ, mọi tác động của môi trường đối với đàm phán Đối với mỗi loại dàm phần và tuỷ theo thế và lực:

Trang 16

của mỗi bên cũng như đối tượng đàm phán, các bên cần chủ động xác định những yếu tố có tác động đến dam phán nói chung và đến chính bản thân mình nói riêng

8 CAC BEN THAM GIA DAM PHAN

có nhiều bên tham gia thì gọi là đàm phán đa phương Song vấn đề cốt lõi liên quan đến đàm phán nói chung

và người đàm phán nói riêng về cơ bản không khác nhau mấy giữa hai loại đàm phán Điều cần nhấn mạnh là trong đàm phần đa phương các bên tham gia đàm phán sẽ cố gắng tìm liên minh, tránh bị cô lập một

mình đương đầu với các bên còn lại

Nhìn chung, người đàm phán ít nhiều đã có thông tin về nhau, chấp nhận nhau và thống nhất với nhau về địa điểm, thời gian đàm phán và thậm chí cả hình thức đàm phán

Một điểm nữa cần lưu ý liên quan đến người đàm phán là sự đối đẳng Nếu cấp bậc quá chênh lệch nhau

sẽ dẫn đến việc người cấp cao không muốn đàm phán hoặc áp đão người cấp thấp hơn Ngược lại, người cấp

Trang 17

thấp hơn không có thẩm quyền quyết định và dễ có tư tưởng tự ti Trong cả hai trường hợp, đàm phán sẽ bế

tắc, hoặc không đạt được kết quả mong đợi

Số lượng người trong một bên đàm phán đôi khi cũng là vấn để cần được thảo luận trước để tránh sự chênh lệch quá lớn giữa các bên

Đàm phán là một hoạt động tổng hợp và phức tạp, đồi hỏi người đàm phán phải có những đức tính sau đây:

- Tu tin va lac quan

- Quyết đoán nhưng bình tĩnh và mền dẻo

- Thông minh, nhạy bén, tỉnh táo

- Cởi mở và dễ tiếp xúc

Với những đức tính trên, trong tư tưởng và cách cử

xử, người đàm phán phải tổ ra:

- Thừa nhận sự khác biệt giữa các bên và quyết tâm tìm ra giải pháp nếu thực sự muốn giải quyết xung đột

- Tìn vào sự thành công cua dam phan

- - Nắm vững hồ sơ của ban than và hiểu biết cả hồ sơ của các bên đàm phán

- Không chỉ hiểu biết sự việc và hiểu cả tâm lý người đàm phan

Trang 18

- Biết trình bày vấn để và ngược lại biết lắng nghe dối phương để phân tích, tổng hợp vấn dé

- Nắm bắt và vận dụng linh hoạt, khôn khéo các kỹ thuật đàm phan

- Có khả năng đưa ra sáng kiến khi đàm phán bị bế tắc

- Bẵn sàng nhượng bộ trên những vấn để không vi phạm nguyên tắc khi cần thiết

- Biết kết thúc đàm phán khi mọi điều kiện đã chín mudi

8.2 Thién chi cua cac bén

Thiện chí hiểu theo nghĩa rộng là các bên dồng ý ngồi vào bàn đàm phán Không thể có đàm phán nếu chỉ có một bên chấp thuận Chấp thuận đàm phán có thể là do tự nguyện hoặc do sức ép của nhiều nhân tố khác nhau

Xem xét bối cảnh trước khi có Hội nghị Giơnevơ về Việt Nam năm 1954, ta sẽ thấy rõ thái độ của các bên tham gia dàm phán Đối với Việt Nam, thiện chí đàm phán thể hiện nguyên tắc muốn giải quyết vấn đề bằng con đường hoà bình Cuối năm 1953, sau khi Hiệp định Bàn Môn Điểm ký kết (ngày 27-7-1953), Dang ta chủ trương mở cục diện vừa đánh vừa đàm Ngày 26-11-

1953, khi trả lời phỏng vấn của báo Thuy Điển Expressen về vấn đề chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Nếu Chính phủ Pháp muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn để Việt Nam theo lối

Trang 19

hoà bình thì nhân đân và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà sẵn sàng tiếp ý muốn đó"! Trong lời kêu gọi

gửi đồng bào cả nước nhân dịp kỷ niệm 7 năm toàn quốc kháng chiến Chả tịch Hỗ Chí Minh da nhac lai lập trường trên của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà Chủ trương này của ta cũng phù hợp với xu thế bắt đầu

có hoà dịu Đông - Tây

Về phía Pháp, do thiện chí của ta và sức ép của đư

luận, ngày 3-12-1953 Chính phủ Pháp phải bày to thai

độ và đầu tháng 3-1954 chấp nhận triệu tập Hội nghị quốc tế Giơnevơ về Việt Nam

Dương nhiên, phía Pháp cũng như Mỹ muôn đàm

phán trên thế mạnh Còn về phía Việt Nam, cơ sở đàm phán là Chính phủ Pháp phải tôn trọng nền độc lập thật sự của Việt Nam

9 CAC DIEU KIEN DE DAM PHAN THANH CONG

Nhìn chung, các bên khi chấp nhận ngồi lai dam

phán với nhau đều mong muốn kết thúc đàm phán có

lợi cho mình Song, để giành thắng lợi, họ phải vượt qua được những khó khăn trước, trong và sau đàm phần và

xử lý tốt những giai đoạn khác nhau của đàm phán 9.1 Xử lý những khó khăn

Khó khăn có thể xuất phát từ các bên đàm phán,

1 Hỗ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2000, t.7, tr.168

Trang 20

môi trường đầm phán và đối tượng đầm phán

9.1.1 Khó khăn do môi rường

- Thời điểm đàm phán chưa chín muôi, quá sớm hoặc quá muộn

- Địa điểm đàm phán không thuận lợi về khoảng cách địa lý, thái độ nước chủ nhà hoặc về thông tin tuyên truyền "

~ Tác động bất lợi của những yếu tố địa - chính trị, địa - kinh tế, văn hoá, xã hội

- Đi ngược lại xu thế chung

9.1.2 Khó khăn do người đàn phan

- Chấp nhận đàm phán nhưng thiếu thiện chí trong đầm phân hoặc do bị ép buộc nhận đầm phan

- Quan điểm và cách tiếp cận vấn dể của các bên dam phan qua xa nhau

- Dang dam phan dé che dậy mục đích khác

- Không muốn có giải pháp

- Thiếu lòng tin với nhau,

- Thiếu tính quyết đoán hoặc ngược lại quá cứng nhắc,

- Không có kinh nghiệm dam phan

9.1.3 Khó khăn do đối tượng đàm phán

- Không thống nhất về đối tượng đàm phán _

- Thống nhất về dối tượng nhưng không xác định rõ mục tiêu của từng giai đoạn đàm phán

- Đặt mục tiêu đàm phán quá cao, vượt quá khả năng của mình Không phân ánh đúng thế và lực của các bên

Trang 21

- Thay dối dối tượng, nội dụng trong quá trình đầm

9.2, Quá trình chuẩn bị đàm phán

Sau khi các bên đồng ý ngồi vào bàn đầm phần và thống nhất về thời gian, địa diểm và tư cách người đàm

phán thì trước khi tiến hành đàm phán thật sự các bên

còn phải chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mat

Chuẩn bị dàm phán nghĩa là dự kiến, lường trước

và tính toán mọi khía cạnh liên quan đến đàm phan: môi trường, con người, đối tượng, kỹ thuật đàm phán

- Thu thập các thông tin cần thiết về các bên đàm

phán, hiểu được cái mạnh, cái yếu của bản thân và của

đối phương

- Nắm bắt ý dịnh của các bên là muốn dam phan

thật hay chỉ là đầm phán hờ để lẩn tránh giải quyết

xung đột

- Thiết lập thứ tự các vấn để cần đề cập trong đàm

phân

- Lập hồ sơ đàm phán

- Chuẩn bị những lập luận cần đưa ra

- Dự đoán những tình huống bất ngờ, những con

hài mà các bên có thể đưa ra

Một cuộc đàm phán là quá trình đấu lý, đấu trí và

Trang 22

chịu cả sức ép mạnh mẽ về mặt tâm lý cả trong và ngoài nước, Chuẩn bị đầm phán không chỉ tiến hành về mặt vật chất, kỹ thuật mà ca về Lâm lý Nhìn chung các bên đàm phán dều muốn giành thế chủ động ngay từ khi bắt đầu đàm phán Muốn vậy các bên đều tiến hãnh các biện pháp gây tác động tâm lý, thậm chí cả các đòn cần não

Tóm lại, chuẩn bị tốt đàm phán cả về tâm lý sẽ tránh được bất ngờ và những tình thế bất lợi, đồng thời

có điều kiện giành thế chủ động trong đàm phán Song, mọi sự chuẩn bị, dù kỹ càng đến dâu cũng vẫn có thể bị dao lộn Do vậy, việc chuẩn bị tốt trước khi dàm phán phải đi đôi với việc chuẩn bị tư tưởng sẵn sàng diều, chỉnh dé phù hợp với những đột biến trong quá trình dam phán

9,3 Tiến hành đàm phán

Bước khởi đầu của dam phán là lúc kiểm chứng lại các công việc chuẩn bị có tốt và sát với thực tế diễn ra không Trên cơ sở đó các bên sẽ hoàn chỉnh phương thie dam phan

3 giai đoạn đầu, các bên sẽ trình bày quan diểm của mình và đưa ra các lập luận để bảo vệ quan điểm

đó, đồng thời tìm biểu ý đô của đối phương Muốn vậy, người đàm phán phải hiểu biết tường tận hồ sơ đàm phán, có khả năng trình bày, lập luận và biết lắng nghe dối phương

Đây là giai đoạn thăm dò nhau giữa các bên dam phán Giai đoạn này dài hay ngắn tuỳ thuộc vào đối

Trang 23

tượng đàm phán, thiện chí của các bên và dôi khi ca môi trường dam phán Vì là giai đoạn thăm đô cho nên các bên cố gắng giữ kín ý đổ đàm phán của mình, tìm cách khiêu khích và đổ trách nhiệm cho đối phương Giai doạn tiếp theo là giai đoạn đầm phán thực sự Nghĩa là các bên đi vào giải quyết xung đột Đây là lúc hiểu rõ thái độ và ý đổ của từng bên để xác định xem liệu bên kia có muốn đàm phán thực sự hay không, hiểu rõ được điểm mạnh, điểm yếu của ban thân mình

và của các bên đầm phán Từ đó các bên sẽ đánh giá rằng có khả năng giải quyết xung đột hay đầm phần sẽ

di vào bế tắc Nếu dàm phán bế tắc thì phải biết kết thúc sao cho đư luận chung thấy rằng đàm phán thất bại không phải là do phía ta; nếu có khả năng giải quyết xung đột thì phải tiếp tục đầm phán như thế nào? Huúe này đồi hỏi các bên phải có những quyết định kịp thời và chính xác Cụ thể là phải kiên định về nguyên tắc, đồng thời phải biết nhượng bộ hoặc thoả hiệp về những vấn để không quan trọng để tránh đối phương lợi dụng đẩy đàm phán vào bế tác Nói tóm lại, phải biết chọn đúng thời điểm để đi đến thoả thuận và kết thúc đầm phán Ngược lại nếu nóng vội để đối phương biết ý đồ của mình thì sẽ bị gây sức ép va dan đến nhượng bộ vô nguyên tắc

Chẳng hạn, về Hội nghị Pari, chỉ sau khi ta mở cuộc tiến công chiến lược tháng 3-1972, thì khả năng di đến giải pháp mới xuất hiện Đối với Mỹ, thắng lợi quân

sự của ta đã làm thất bại Chiến lược "Việt Nam hoá

Trang 24

chiến tranh" của Mỹ Thêm vào đó, nội bộ và chính giới

Mỹ không thống nhất, kinh tế Mỹ gặp nhiều khó khăn

Dù bản chất của tập đoàn Ních xơn là hiếu chiến và ngoan cố, nhưng họ thấy kéo dài chiến tranh cũng không thể-lật ngược dược tình thế trên chiến trường,

mà chỉ cố giữ không để cho cục diện xấu đi, hòng ép ta chấp nhận một giải pháp có lợi cho họ

Về phía ta, sau thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược, Đảng ta nhận định đã có thời cơ kết thúc chiến tranh, buộc Mỹ chấp nhận một giải pháp và giành một bước thắng lợi quan trọng có ý nghĩa chiến lược Từ đó

ta chuyển hướng sang vừa đánh vừa đàm, tạo thế và lực tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn

9.4 Kết thúc đàm phán

Ban than dam phán không phải là mục đích mà là một quá trình lâu dai, hiên quan đến nhiều bên và phải

đi đến một kết cục nào đó Kết thúc dàm phán là một quyết định chung của các bên, nhưng mang nhiều ý nghĩa khác nhau Có bốn cách kết thúc đàm phán:

- Chấm dứt đàm phán nhưng không có giải pháp

- Một bên áp đặt quan điểm của mình và các bên khác phải chấp nhận mặc dù không thoả mãn

~ Thoa hiệp giữa các bên với những mức độ khác nhau

~- Các bên hoàn toàn nhất trí

Kết thúc đàm phán gắn liền với cái dược - thua Ngược lại, cái được - thua liên quan đến khái niệm xung đột đã dược phân tích ở trên Người ta chỉ đàm phán khi

Trang 25

có xung đột Đàm phán để giải quyết xúng dột, cho nên

phải mặc cã và nhượng bộ nhau lết cục của mặc cả phụ

thuộc một phần lớn vào những điều người ta đưa vào đầm

phán Cụ thể là kết cục của đàm phán bao gồm cái người

ta dặt lên bàn để đàm phán và cái người ta thu được sau khi đàm phán Cái thu được có thể lớn hoặc nhỏ hơn cái

đặt ra ban đầu Bản chất của kết cục đàm phán phụ thuộc vào ban chất của xung đột

Trong đầm phán thương mại, kết cục chính là giá

ca, điều kiện bán - mua hàng và được đo bằng giá trị vật chất cụ thể là tiền thu về đối với người bán và tiền chỉ trả đối với người mua

Trong đàm phán ngoại giao, giá trị của kết cục

không thể quy về vật chất Một bên có thể nhượng bộ về

cái cụ thể nhưng giành dược cái vô giá: thế lực, ý nghĩa chính trị, môi trường hoà bình, v.v Chẳng hạn kbi

chấp nhận ký kết Hiệp định Pari, ta thừa nhận ở miền

Nam có hai vùng kiểm soát, hai lực lượng quân sự, hai

chính quyền và ba lực lượng chính trị Đây là cái ta bỏ

ra Cai ta giành dược mang ý nghĩa chiến lược là Mỹ phải rút khỏi miền Nam và cam kết không can thiệp

vào công việc nội bộ của miển Nam Việt Nam

Nếu đàm phán kết thúc bằng một thoả thuận được

ký kết thì các bên tiếp tục gặp nhau để soạn thảo, rồi thực hiện thoả thuận Trong cả hai quá trình đó các bên đều tìm cách giành phần lợi thế nhất về mình Quá trình soạn thảo văn bản thoả thuận cũng gay go và

phức tạp không kém gì đàm phán thực sự

Trang 26

Đối với Việt Nam, chúng ta đã ký ba hiệp” dịnh quan trọng: Hiệp dịnh Sơ bộ ngày 6-3-1946, Hiệp dịnh Giơnevd và Hiệp định lari Nhưng ca ba hiệp định đều

bị đối phương phá hoại, không thực hiện nghiêm chỉnh, buộc ta phải cầm súng tiếp tục chiến dấu Đương nhiên, chúng ta không bao giờ áo tưởng rằng đối phương sẽ thực hiện nghiêm chỉnh những gì họ cam kết

Trang 27

CHƯƠNG iT

TIẾP XÚC NGOẠI GIAO

1 KHÁI NIỆM TIẾP XÚC NGOẠI GIAO

Tiếp xúc ngoại giao là một hành vì đối thoại thông thường nhưng đóng vai trỏ không nhỏ trong quan hệ ngoại giao giữa các chủ thể của quan hệ quốc tế

Tiếp xúc ngoại giao có thể chính thức hoặc không chính thúc, công khai hoặc bí mật, hai bên hoặc nhiều bên, ngẫu nhiên hoặc có chủ định, có nghì thức hoặc không có nghị thức, có hoặc không có nội dung định sẵn

'Tiếp xúc ngoại giao không nhất thiết phải có sự ghi nhận về kết quả bằng văn bản Nội dung tiếp xúc ngoại giao có thể liên quan đến các bên tiếp xúc hoặc người thứ ba

Mọi cần bộ được hưởng quy chế ngoại giao đều có thể tiến hành tiếp xúc ngoại giao, không cần có uỷ quyền, nhìn chung không phân biệt ngôi thứ, không tính đến hai nước đã có quan hệ ngoại giao hay chưa

Trang 28

Tiếp xúc ngoại giao có thể diễn ra trong nude, tai nước có cơ quan đại diện, hoặc tại các nơi diễn ra các boạt động quốc tế: tổ chức quốc tế, hội nghị, hội thao, v.v

Đối tượng tiếp xúc ngoại giao rất rộng Ở trong nước, có thể phân biệt được hai loại đối tượng tiếp xúc: thường trú và thăm viéng Thuong tri là đoàn ngoại giao, giới truyền thông báo chí, giới doanh nghiệp Thăm viéng 1a các đoàn thuộc các cơ quan nhà nước, các dang phái chính trị, các tổ chức quần chúng, các tổ chức phi chinh phủ và các cá nhân

Ở ngoài nước, đối tượng tiếp xúc có phần da dạng hơn Cụ thể là:

- Các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ của nước sở Lại

- Các đơn vị thuộc Bộ Ngoại giao đặc biệt là Vụ Khu vue, Vu Lé tân, Vụ Báo chí, Vụ Lãnh sự

- Các tổ chức quần chúng và tổ chức phi chính phủ

- Các tổ chức kinh tế, văn hoá và xã hội

- Truyền thông dại chúng

- Các nhân sĩ trí thức

- Người Việt Nam ở nước ngoài

¬ Đoàn ngoại giao

2 DIỀU RIỆN DỀ CÓ TIẾP XÚC NGOẠI GIAO

Tiếp xúc ngoại giao dù là ngẫu nhiên, không chính

Trang 29

thức thì cũng phải thoả mãn những điểu kiện nhất

9.1 Các bên đều cảm thấy có nhu cầu nói chuyện ĐỞi nhau Trong thực tế do ngoại giao đã có nhiều thay đổi, không còn là một lĩnh vực khép kín, bí mật, và đã lược bớt đi những lễ nghỉ không cần thiết, nhu cầu tiếp xúc đối với mọi cán bộ ngoại giao trở thành thường xuyên, liên tục Ngày nay có thể nói tiếp xúc là một trong những tiêu chuẩn, thước do năng lực của cân bộ ngoại giao Nếu ngại tiếp xúc hoặc không có khả năng tiếp xúc thì không thể là một nhà ngoại giao giỏi theo đúng nghĩa của nó

2.2 Dù không đòi hỏi lễ nghĩ chặt chẽ như trước dây, tiếp xúc ngoại giao vẫn phải diễn ra trong điều kiện lễ tân tối thiểu được cả hai bên chấp thuận Hiện nay, các nước đều có quy định nghỉ thức lễ tân cụ thể về tiếp xúc ngoại giao tuỳ thuộc vào cấp bậc, chức vụ và nơi diễn ra tiếp xúc

Trong trường hợp các nhà ngoại giao tự gặp nhau ở những nơi có hoạt động ngoại giao như trong buổi chiêu dãi, hội nghị, hội thảo, mọi quy định lễ tân thường không được tính đến Song các nhà ngoại giao vẫn phải tôn trong những nghì thức lịch thiệp thông thường của ngoại giao, hiểu được phong tụe tập quán, lễ nghi tôn giáo của người đối thoại để tránh xúc phạm người đối thoại Ở đây, những kiến thức và hiểu biết về truyền thống văn hoá, lối sống của mỗi dân tộc là rất cần thiết bởi vì trong loại tiếp xúc này cá nhân cần bộ ngoại giao

Trang 30

phải đối mặt với người mình đối thoại không có cán bộ khác đi cùng, không có chuẩn bị trước

2.3, Trừ những tiếp xúc ngoại giao tại các nơi diễn

ta hoạt động ngoại giao: hội nghị, hội thảo, chiêu dãi , các cuộc tiếp xúc ngoại giao đều phải hẹn trước Thời điểm, địa điểm, số người dự cần được thông báo trước

dể các bên có thời gian chuẩn bị Nội dung cuộc tiếp xúc không nhất thiết phải được thông báo trước trừ phi người cấp thấp xin gặp người cấp cao hơn thì cần nói rõ

lý do gặp Nếu huỷ cuộc tiếp xúc đã định trước, cần có

ly do xác đáng Nhưng nếu người cấp thấp xin gặp người cấp cao hơn thì hết sức tránh huỷ tiếp xúc trừ phi

là trường hợp bất khả kháng

3 MỤC DÍCH CỦA TIẾP XÚC NGOẠI GIAO

Xót rộng, tiếp xúc ngoại giao cũng như các hoạt dộng khác, góp phần vào việc thực hiện đường lối chính trị đối ngoại của quốc gia và phục vụ mục tiêu chiến lược phát triển đất nuớc Đối với Việt Nam hiện nay, chiến lược phát triển đất nước là công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Xét cụ thể, tiếp xúc ngoal giao nhằm nhiều mục đích khác nhau

3.1 Chào hỏi xã giao

Như mọi người đều rõ, một trong những chức năng của ngoại giao là đại diện cho quốc gia của mình bên cạnh quốc gia khác Do đó, không thể thiếu được nghỉ

Trang 31

thức xã giao TTiếp xúc ngoại giao trước tiên là hành vĩ chào hỏi nước chủ nhà nơi mình được bổ nhiệm, chào hồi doàn ngoại giao, các cơ quan, tổ chức và các cá nhần

mà mình sẽ có dịp gặp gỡ, làm việc trong suốt nhiệm kỳ công tác

Ngày nay, chào xã giao không chỉ bó hẹp trong phạm vị làm quen, chào hồi trước khi bắt đầu nhiệm kỳ công tác, mà còn là dịp để cán bộ ngoại giao, nhất là người đứng đầu cơ quan đại diện, xác định khuôn khổ, cách thức và nguyên tắc làm việc với nước sở tại, trước hết là Bộ Ngoại giao Đặc biệt, với những đặc điểm mới của quan hệ quốc tế, nội dung hoạt động dối ngoại rất phong phú liên quan đến mọi lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá cán bộ ngoại giao không chỉ làm việc với Bộ Ngoại giao, mà với cả các bộ và ngành khác Nếu không nắm bắt được cách thức làm việc của nước sở tại, đôi khi tiếp xúc không có hiệu quả mặc dù vấn để đặt ra rất giản đơn

3.2 Trao đối thông tin

Trao đổi thông tin dịnh kỹ rất có lợi, cho phép duy trì quan hệ với người đối thoại, hiểu rõ quan điểm, cách tiếp cận vấn đề thậm chí cả cá tính của họ Hơn nữa, chính trao đổi thông tin giúp ta nhận thấy dược mối quan tâm của nước chủ nhà

Tìm biểu, nghiên cứu nước sở tại và nắm bắt những

hồ sơ liên quan đến quan hệ hai nước cũng nằm trong chức năng của cơ quan dai điện Thông thường, Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại điện tiến hành các cuộc

Trang 32

tiếp xúc định kỷ Mục dích là trao đổi thông tin về, những vấn để mình quan tâm hoặc rà soát lại những việc đã và sẽ tiến hành để thúc dẩy quan hệ giữa hai

nước Những cuộc tiếp xúc này có thể đi đến những kết luận mà cä hai bên đều chấp thuận, nhưng thường chỉ

dừng lại ở mức độ ghi nhận những thông tin và quan điểm được các bên nêu ra

3.3 Chuẩn bị cho những hoạt động ngoại giao

lớn

Đây là loại tiếp xúc nhằm chuẩn bị cho cuộc viếng

thăm chính thức hoặc làm việc của các nhà lãnh đạo quốc gia Tiếp xúc nhằm xác định:

- Chương trình viếng thăm

có thể liên quan đến quyển tíu đãi, miễn trừ ngoại giao,

bảo hộ công dân, hoặc một nội dung liên quan đến

quyền lợi quốc gia ở mức độ thông thường

4 CHUẨN BỊ TIẾP XÚC

Tiếp xúc ngoại giao diễn ra thường xuyên và trong

Trang 33

một thời gian nhất định và thường không có văn bản ghỉ nhận Do vậy, chuẩn bị tiếp xúc khác với chuẩn bị đàm phán Chuẩn bị tiếp xúc tuỳ thuộc vào mục đích của cuộc tiếp xúc, Nhưng cách chuẩn bị tốt nhất là người tiếp xúc phải luôn luôn nắm chắc những hồ sơ liên quan đến quan hệ hai nước, biết những vấn đề phía bên kia quan tâm và hiểu rõ cá tính, thái độ, lập trường quan điểm của người đối thoại

Nếu tiếp xúc được thỏa thuận trước, biết rõ người tiếp xúc và chủ để của tiếp xúc thì khâu chuẩn bị sẽ thuận lợi hơn Người đi tiếp xúc nắm lại tất cả những gì liên quan đến chủ để tiếp xúc: từ quan điểm của hai bên cho đến ngày tiếp xúc, những công việc được triển khai (nếu là một văn bản đã được hai bên thông qua), những khó khăn, thuận lợi, triển vọng, các biện pháp khắc phục Song, người tiếp xúc vẫn cần phải để phòng phía bên kia đặt câu hỏi ngoài chủ đề

Thông thường, trong tiếp xúc ngoại giao, sau khi tiến hành các buổi tiếp xúc có định sẵn chủ để, các bên đều hỏi han lẫn nhau về những vấn đề có vẻ như không quan trọng, nhưng thực tế là muốn nắm bắt quan điểm

và ý đồ của nhau về những vấn để quốc tế, khu vực Đối với các cuộc tiếp xúc không có chủ để định sẵn, khâu chuẩn bị đòi hỏi khả năng dự đoán nhiều hơn Nghĩa là người đi tiếp xúc dự đoán trước những vấn đề phía bên kia có thể sẽ néu ra dé chuẩn bị nội dung trả lời Ngược lại, bản thân cũng chuẩn bị trước những vấn để hỏi lại người đối thoại để có thêm thông tin, hiểu rõ quan điểm

Trang 34

của phía bên kia hoặc phục vụ một mục dích khác Trừ các cuộc tiếp xúc bất thường "ngẫu nhiên", chuẩn bị tiếp xúc gồm hai việc chính: dé nghị tiếp xúc và nội dung tiếp xúc

4.1 Đề nghị tiếp xúc

4.1.1 Đề nghị tiếp xúc có thể là của một bên hoặc các bên tiếp xúc cùng dưa ra và dược tiến hành thông qua các hình thức sau:

- Điện thoại

- Thư tín ngoại giao

- Fax

- Thoa thuận trong cuộc tiếp xúc trước

Nếu các bên chưa có quan hệ ngoại giao hoặc quan

hệ ngoại giao bị gián đoạn do nhiều nguyên nhân khác nhau thì phải tiến hành thăm do ý định xem bên kia có muốn tiếp xúc không Thông thường, người cấp thấp muốn gặp người cấp cao hơn thì không liên hệ trực tiếp

mà phải thông qua thư ký hoặc cán bộ cấp thấp hơn để nêu đề nghị tiếp xúc Cấp bậc càng cao thi dé nghị tiếp xúc càng gián tiếp, nghĩa là tiếp xúc được chuẩn bị thông qua cấp dưới và trong trường hợp một bên từ chối hoặc huỷ tiếp xúc thì bên kia không rơi vào tình trạng khó xử

4.1.2 Sát ngày giờ tiếp xúc cần khẳng định lại tiếp xúc bằng một trong những hình thức nêu trên

4.1.3 Khi đề nghị tiếp xúc, các bên thoả thuận luôn địa diểm và thời gian tiếp xúc và số người tiếp xúc

Về nguyên tắc, địa điểm tiếp xúc do người có hàm

Trang 35

cấp cao hơn quyết định, hoặc đo thoa thuận giữa các bên, Địa điểm có thể thoả thuận ở một trong ba nơi:

- Văn phòng của người để nghị tiếp xúc

- Văn phòng của người dược để nghị

- Nơi thứ ba

-4.1.4 Khi thoả thuận cần nói rõ thời gian bắt dân

và kết thúc tiếp xúc Tiếp xúc có thể kéo dài hơn thời gian dự kiến nhưng phải do hai bên cùng đồng ý hoặc người có hàm cấp cao hơn chủ động để nghị Đôi khi một trong các bên chủ động nêu rõ họ chỉ có thể tiếp xúc đến một thời gian nhất định vì sau đó có những việc không thể chậm trễ được

4.1.5 Trường hợp muộn giờ: muộn giờ là điều cần tránh, nhưng nếu vì lý do bất khả kháng, nhất thiết phải thông báo trước và xin lỗi bên kia Thông báo cần nói rõ thời gian và lý do đến muộn Nếu thời gian muộn quá dài thì có thể huỷ tiếp xúc và hẹn một dịp khác

4.9 Chuẩn bị nội dung tiếp xúc

Đối với các cuộc tiếp xúc có hẹn trước và định sẵn chủ đề, thì việc chuẩn bị nội dung tiếp xúc không thé thiếu được và bao gồm các công việc cụ thể sau:

- Xác định các vấn để hai bên sẽ để cập, liên quan đến chủ đề

- Thu thập đẩy đủ các thông tìn và nắm rõ quan điểm của nước mình kể cả xin ý kiến chỉ đạo về các vấn

để sẽ nêu Nếu có thể, thì tìm hiểu trước quan điểm của phía bên kia

Trang 36

- Chuẩn bị văn bản, tài liệu, cần phải chuyển cho người đối thoại

- Dự kiến những vấn đề mà phía đối thoại có thể hồi thêm

- Tác động và ảnh hưởng của tiếp xúc đối với dối tượng khác trong trường hợp tiếp xúc ở cấp cao

5 TIẾN TRÌNH TIẾP XÚC

5.1, Đón tiếp và sắp xếp chỗ ngồi

Thông thường người tiếp xúc không trực tiếp dón khách mà có cán bộ lễ tân hoặc một cán bộ cùng dự tiếp xúc ra đón và dẫn khách vào nơi diễn ra tiếp xúc Cán

bộ đón khách sẽ giới thiệu khách nếu cần thiết Lời giới thiệu cần ngắn gọn, rõ ràng và giới thiệu người cấp thấp cho người cấp cao Chủ nhà sẽ chỉ chỗ ngồi cho khách Trong trường hợp khách được tự chọn ghế và khách, chủ ngồi song song với nhau thì khách phải chọn ghế ngồi bên phải chủ nhà Nhưng ở một, số nước, đôi khi khách và chủ ngồi đối diện nhau ở hai bên bàn Trong mọi trường hợp, chỗ ngồi của khách phải thoải mái và không bị căn trở bởi bất cứ một chướng ngại gì 5.2 Diễn biến tiếp xúc

Có thể bắt đầu buổi tiếp xúc bằng những lời thầm

hỏi xã giao hoặc đề cập những chuyện thông thường như thời tiết, phong cảnh để tạo không khí thoải mái trước khi chính thức đi vào chủ đề tiếp xúc

Trang 37

Kết quả tiếp xúc phụ thuộc một phần quan trọng vào khả năng, trình độ và nghệ thuật của người tiếp xúc Mỗi cán bộ ngoại giao sẽ tự xây dựng cho mình một phong cách tiếp xúc Song, cũng có thể nêu ra một số quy tắc nhất định trong tiếp xúc ngoại giao:

Trong mọi tình huống xây ra đều phải giữ một thái độ lịch thiệp và tôn trọng những quy định lễ tân trong tiếp xúc

Tạo không khí thoải mái, không nên dùng ngôn từ

quá ngoại giao (trừ phi mình là cấp dưới)

Lắng nghe và có thể ghi chép nhưng đừng để cho người đối thoại có cảm giác là mình chỉ quan tâm đến ghi chép Tốt nhất là rèn luyện cho mình khả năng nhớ và tổng hợp hoặc trong một số trường hợp có thể eó người thứ hai đi cùng để ghi chóp Không cướp lời, để cho người đối thoại nói xong mình mới nói Nên có biểu hiện trong lời nói là mình đã trình bày xong Nếu sau 7, 8 giây người dối thoại không phản ứng gì thì nên tiếp lời dể tránh cho người đốt thoại khỏi lúng túng

Nếu tiếp xúc là trao đổi thông tin, thi can cung cấp thông tin chính xác; nếu không chắc chấn thì

không đề cập

- Trình bày rõ quan điểm của nước mình về vấn để phía bên kia nêu lên, không bình luận thêm

- Tránh để cập, hoặc trả lời những vấn để mình chưa rõ quan điểm của nước mình hoặc nước mình chưa bầy tỏ quan điểm

Trang 38

- Không nêu lại những vấn dé hai bên đã giải quyết xong hoặc cung cấp những thông tin mà bên Kia

đã nhận dược trong các cuộc tiếp xúc Lrucde dav

- Không nêu những vấn để có tính khiêu khích Nếu vấn đề quá nhạy cảm thì nên lựa cách nói sao cho uyểễn chuyển và dễ chấp nhận Vừa trình” bày vừa thăm dò phần ứng của người đối thoại

~ Tạo được sự tin tưởng lẫn nhau

- Không nên đặt người đối thoại vào thế khó xử nếu bản thân người đó không muốn hoặc không có thấm quyển trả lời những vấn để mình nêu ra Nếu đã trót nêu vấn để thì nên tìm cách làng tránh để trở lại không khí thoải mái ban đầu

- Không quá phụ thuộc vào tài liệu chuẩn bị trước Nhưng đối với những vấn đề tế nhị và dễ gây hiểu lam thi không ngần ngại dọc lời chuẩn bị trước, thậm chí chuyển văn bản cho phía đối thoại

- Nếu sử dụng tài liệu mà mình không muốn chuyển một bản sao cho người đối thoại thì nên kín đáo, thậm chí nên tế nhị để cho khách thấy rõ chữ "tài liệu không phổ biến"

- Cần có thái độ rõ ràng chuyển hay không chuyển tài liệu cho người dối thoại

6 SAU TIẾP XÚC

6.1 Kết thúc

Thông thưởng, người có cấp bậc cao hơn, hoặc chủ

Trang 39

nhà tuyên bế hoặc tỏ thái độ là buổi tiếp xúc đã kết thúc Người đốt thoại tế nhị cảm ơn đã được tiếp Tránh nói vớt vát và kéo dài tiếp xúc Chủ nhà tiễn khách ra đến cửa và một cán bộ khác sẽ tiễn khách đến thang máy, cổng cơ quan hoặc chỗ đỗ ô tô, tuỳ thuộc cấp bậc 6.2 Sau tiếp xúc

- Báo cáo lại cho cấp trên nội dung tiếp xúc, làm biên bản tiếp xúc trình cấp trên và gửi các cơ quan hữu quan nếu cần thiết

- Biên bản tiếp xúc gồm:

+ Địa điểm, thời điểm, thời gian, tên người tiếp xúc, người tham dự của ca hai bên

+ Những vấn đề ta đề cập

+ Những vấn để phía bên kia để cập

+ Đánh giá và nhận xét của bản thân

+ Kiến nghị biện pháp nếu cần thiết

+ Xin ý kiến về những vấn đề ghi nhận chưa trả lời

- Trong một vài trường hợp, có thể gửi công hàm thường để khang dinh lại với phía bên kia bằng văn bản những vấn để đã thảo luận, tránh hiểu lầm hoặc bỏ

SỐ

Trang 40

CHUONG LI

DAM PHAN NGOAI GIAO

1 KHÁI NIỆM VỀ DÀM PHÁN NGOẠI GIAO

Nếu trong quá khứ, chiến tranh là phương tiện chủ yếu để phá vỡ và thiết lập lại các mối quan hệ và khu vực ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế, thì ngày nay đàm phán ngoại giao đang được coi trọng và là phương thức hữu hiệu nhằm giải quyết các cuộc khủng hoảng trước khi tính đến các biện pháp khác Cuộc khủng hoảng lrắc đầu năm 1998 cho thấy mọi cuộc xung đột

dù trầm trọng đến dâu, nếu các bên liên quan có thiện chí và cộng đồng quốc tế quan tâm đúng mức thì đều có thể được giải quyết thông qua đàm phán ngoại giao mà không cần sử dụng vũ lực Chẳng hạn như việc thắng 12-1997 lrắc từ chối không cho UNSCOM thanh tra các dinh thự của Tổng thống Sadam Hútxen với lý do vi phạm chủ quyền Mỹ và Anh đã tập hợp lực lượng chuẩn bị tiến hành chiến tranh Nga, Pháp, Trung Quốc phản đối vì cho rằng mọi cố gắng ngoại giao chưa

Ngày đăng: 08/11/2022, 23:46

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w