1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình kinh tế học đại cương

179 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 8,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này có thể thấy rõ từ thực tế là: - Kinh tế vi mô không chỉ quan tâm tới nhu cầu hàng hóa của từng người tiêu dùng và quyết định cung cấp hàng hóa của từng doanh nghiệp trong nền ki

Trang 1

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG Đ Ạ I HỌC s ư PHẠM K Ỹ THUẬT THÀNH PHŨ Hồ CHÍ MINH

TRÀN ĐĂNG THỊNH (Chủ biên) - NGUYỄN THỊ THANH VÂN

HUYNH T HỊ CÂM TU - PHAN THỊ KIM PHƯƠNG

GIÁO TRÌNH

KINH TÉ HỌC ĐẠI CƯƠNG

Trang 2

B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH

TS Trần Đăng Thịnh (Chủ biên)

Ths Nguyễn Thị Thanh Vân - Ths Huỳnh Thị cẩ m Tú

Ths Phan Thị Kim Phương

GIÁO TRÌNH

KINH TÉ HỌC ĐẠI CƯƠNG

NHÀ XUẨT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước ở nước ta hiện nay, việc tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề cơ bản về kinh tế thị trường trở nên cấp bách đôi với các nhà quản lý kinh tê và các nhà quản trị doanh nghiệp

Nhằm đáp ứng nhu cầu trang bị kiến thức cơ bản về kinh tế học cho sinh viên chuyên ngành kinh tế của các trường đại học kỹ thuật, theo chương trình khung của Bộ Giáo dục - Đào tạo, chúng tôi biên soạn cuốn

giáo trình Kinh tế học đại cưotig dựa trên các giáo trình Kinh tế học đại

cương hiện đang lưu hành kết họp tham khảo kinh nghiệm nước ngoài một cách có chọn lọc

Đối tượng mà chúng tôi hướng tới là sinh viên tất cả các hệ đào tạo chuyên ngành kinh tế của các trường đại học, cao đẳng thuộc khối Kỳ thuật - Công nghệ Giáo trình này còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, cho các nhà quản lý kinh tế và các nhà quản trị doanh nghiệp Giáo trình này sẽ giúp cho người học giảm bớt thời gian ghi chép tại lóp để tập trung cho việc nghe giảng và nghiên cứu

Giáo trình gồm 3 phần với 11 chương

Phần 1: Nhập môn kinh tế học (chương 1, 2)

Phần 2: Kinh tế học vi mô (chương 3, 4, 5 và 6)

Phần 3: Kinh tế học vĩ mô (chương 7, 8, 9, 10 và 11)

Trong quá trình biến soạn, mặc dù rất cố gắng, nhưng trình độ có hạn nên khó tránh khỏi những thiêu sót, chúng tôi mong nhận được sự thông cảm và những đóng góp chân thành từ bạn đọc

Trang 4

Phần 1 NHẬP MÔN KINH TẾ HỌC

Trang 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐẺ Cơ BẢN CÙA KINH TẾ HỌC

1 KINH TÉ HỌC VI MÔ VÀ KINH TÉ HỌC v ĩ MÔ

Các ngành khoa học nói chung có thể được chia ra thành hai nhóm ngành khoa học là khoa học thực tiễn và khoa học hình thức (hay khoa học lý tưởng) Hình 1.1 mô tả tóm tắt sự phân chia các ngành khoa học

Hình 1.1: Phân ngành khoa học

Khoa học thực tiễn cung cấp những thông tin về thực tiễn Nhóm ngành khoa học này tiếp tục được phân làm hai nhánh: khoa học tự nhiên

và khoa học văn hóa - tinh thần

Một cách đơn giản có thể hiểu rằng các khoa học văn hóa - tinh thần quan tâm đến lĩnh vực con người tạo ra Khác với khoa học văn hóa

- tinh thần, khoa học tự nhiên có đối tượng nghiên cứu là các hiện tượng

tự nhiên tồn tại không có sự tác động của con người

Nhóm ngành khoa học văn hóa - tinh thần bao gồm ba lĩnh vực khoa học chủ yếu là: khoa học kinh tê, luật học và khoa học chính trị - xã hội

Trang 6

Các khoa học kinh tế có thể được phân chia theo những phạm trù khác nhau Xuất phát từ phưong thức nghiên cứu của khoa học kinh tế,

có thể chia các khoa học kinh tế thành ba loại: lý thuyết kinh tế, công nghệ kinh tế và triết học kinh tế

Lý thuyết kinh tế phân tích các nguyên nhân và tác động của các quá trình kinh tế nhằm giải thích và dự đoán tính quy luật của chúng Có thể ví dụ một mô hình giải thích lý thuyết như sau: khi tình hình Xi xảy

ra sẽ làm cho giá trị Y theo quy luật Y = a + bX

Công nghệ kinh tế phân tích các chỉ tiêu và các công cụ của hoạt động kinh tế xuất phát từ những quy luật do lý thuyết kinh tế nêu ra Công nghệ kinh tế thường quan tâm đến những vấn đề (câu hỏi) được đặt

ra, ví dụ như:

- Trong những điều kiện nào thì các mục tiêu kinh tế quan trọng có thể thống nhất với nhau hay không thể thống nhất với nhau? Các công cụ (phương tiện) nào có thể sử dụng để đạt những mục tiêu này? Giữa các công cụ cũng như giữa các mục tiêu tồn tại các mổi quan hệ nào?

- Những biện pháp nào có thể nâng cao các quá trình quyết định kinh tế và những nhân tố nào làm giảm hiệu quả? v.v

Triết học kinh tể nghiên cứu các quá trình kinh tế dựa trên giá trị luân lý và sự quy ước của chúng bằng các nguyên tắc và tiêu chuẩn, ví dụ như các nguyên tấc và tiêu chuẩn quy định trong luật

Lý thuyết kinh tế, công nghệ kinh tế và triết học kinh tế có thể phân tích các hoạt động kinh tế từ điểm nhìn tổng thể nền kinh tế quốc dân và

từ diêm nhìn từng đơn vị kinh tế riêng biệt của nền kinh tế

Một cách phân chia khác được nhiều nhà khoa học kinh tế ủng hộ

là phân biệt các khoa học kinh tế theo hai bộ phận: kinh tế học (học thuyêt kinh tê quôc dân) và kinh tê xí nghiệp

Kinh tế học nghiên cứu xã hội sử dụng các nguồn lực khan hiếm như thê nào đê sản xuât ra các hàng hóa có giá trị và phân phối chúng cho các đối tượng khác nhau Nói một các khác, kinh tế học tìm cách giải thích xã hội giải quyểt như thế nào ba vẩn đề kinh tể cơ bản: (1) sản xuất cái gì, (2) sản xuất như thế nào và (3) sản xuất cho ai Trong kinh tế xí nghiệp, sự chú

ý đến từng doanh nghiệp và các vấn đề của nó (cơ cấu và các quá trình vận hành doanh nghiệp) là trọng tâm nghiên cứu quan trọng

Các doanh nghiệp 'là những tế bào của nền kinh tế, vì thế khi nghiên cứu kinh tế xí nghiệp không thể không có các kiến thức về kinh tế quốc dân (kinh tế học), và ngược lại việc nghiên cứu kinh tế học cũng không thê thiêu các kiên thức kinh tê xí nghiệp

Trang 7

Các môn khoa học hình thức, đặc biệt như toán học, thống kê học, logic học (học thuyết về những dạng thức và quy luật nhận thức), cũng như các môn khoa học văn hóa - tinh thần như: luật học, xã hội học, chính trị học, là những phương tiện giúp đỡ quan trọng để đạt được những kiến thức về khoa học kinh tế nói chung hay kinh tế học nói riêng.Kinh tế học, một cách phổ biến, được chia thành hai bộ phận là kinh

tế vi mô và kinh tế vĩ mô Cả hai bộ phận này đều piải thích các hành vi kinh tế và mối quan hệ của các chủ thể kinh tế của nền kinh tế nhưng giữa chúng cũng có những dấu hiệu để phân biệt một cách tương đối

Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô được phân biệt trước hết qua mức

độ tổng hợp trong việc phân tích kinh tế Kinh tế vi mô quan tâm đến

nhũng quan hệ của từng chủ thể kinh tế (doanh nghiệp, hộ gia đình, người tiêu dùng, ) trong nền kinh tế trên phương diện mức độ tổng hợp thấp, trong khi kinh tế vĩ mô lựa chọn mức độ tổng hợp cao nhất (toàn bộ nền kinh tế) để phân tích các mối quan hệ kinh tế

Tuy nhiên, nếu để ý tới các hệ thống vấn đề mà thực tế được đề cập trong kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô thì có thể thấy rằng tiêu chuẩn mức

độ tảng hợp chỉ có thể chấp nhận là dấu hiệu đầu tiêu để phân biệt kinh tế

vi mô và kinh tế vĩ mô Điều này có thể thấy rõ từ thực tế là:

- Kinh tế vi mô không chỉ quan tâm tới nhu cầu hàng hóa của từng người tiêu dùng và quyết định cung cấp hàng hóa của từng doanh nghiệp trong nền kinh tế mà nó tổng họp nhu câu (câu cá nhân) và khả năng cung cấp (cung cá nhân) của nhiêu chủ thê kinh tế trên một thị trường nhất định thành nhu câu thị trường (câu thị trường)

và cung ứng thị trường (cung thị trường)

- Măt khác, kinh tế vi mô cũng không đứng trên phương diện của từng thị trường (thị trường riêng lẻ) mà nó phân tích các mối quan hệ phụ thuộc qua lại giữa các thị trường, thậm chí nó đứng trên phương diện toàn bộ nền kinh tế khi xem xét sự cân băng vi mô của một nên kinh tế

- Ngược lại, kinh tế vĩ mô không phải bao giờ cũng chỉ phân tích nền kinh tế ở mức độ tổng họp cao nhât mà còn phân tích ở mức độ tổng họp thấp hơn

Vì thế, ngoài mức độ tổng hợp khi phân biệt kinh tế vi mô và kinh

tế vĩ mô cần phải để ý tới các hệ thống vấn đề trung tâm của nền kinh tế mà kinh tế học quan tâm vì tùy theo cách đặt vấn đề khác nhau mà những vấn đề cần giải quyết được đặt ra thuộc phạm vi nghiên cứu của kinh tế vi mô hay kinh tê vĩ mô

Trang 8

Thuộc hệ thống các vấn đề của nền kinh tế có thể kể tới là:

Vấn đề qúy mô sản xuất hàng hóa có tính chất toàn bộ nền kinh tế

- Vấn đề cơ cấu sản xuất hàng hóa có tính chất toàn bộ nền kinh tế.Vấn đề phân phối hàng hóa cho người tiêu dùng của một nền kinh tế.Vấn đề quy mô, khả năng tăng trưởng của sản xuất hàng hóa liên quan tới mức độ sử dụng các yếu tố sản xuất, sự ôn định và khả năng tăng trưởng của nền kinh tế v ấ n đề quy mô sản xuất hàng hóa cũng liên quan đến vấn đề ổn định giá trị tiền tệ Tất cả các vấn đề vừa nêu thuộc phạm vi nghiên cứu của kinh tế vĩ mô Có thể nói, phân tích kinh tế vĩ

mô là sự phân tích quy mô (phân tích trình độ)

Vấn đề cơ cấu sản xuất hàng hóa liên quan tới vấn đề phù họp của

cơ cấu các nhân tố sản xuất (đầu vào) và cung ứng với sự thay đổi của cơ cấu nhu cầu (đầu ra), vấn đề này trở thành đối tượng của kinh tế vi mô,

có thể nói phân tích kinh tế vi mô là sự phân tích cơ cấu

Vấn đề phân phối hàng hóa cho người tiêu dùng của một nền kinh

tế, một mặt, liên quan tới các hàng hóa có thòi gian sống dài (tài sản); mặt khác, liên quan tới những hàng hóa có thời gian sống ngắn (hàng tiêu dùng) mà người tiêu dùng có được nó nhờ những thu nhập thường xuyên nhận được từ các doanh nghiệp do họ cung cấp các yếu tố sản xuất cho chúng Như vậy, phân phối hàng hóa có hai vẩn đề phải giải quyết là phân phối tài sản và phân phối thu nhập, vì thu nhập của người tiêu dùng đạt được từ sự cung ứng cho doanh nghiệp các nhân tố sản xuất của họ (sức lao động, đất đai, tiền vốn ) nên việc phân tích (nghiên cứu) vấn

đề phân phối thu nhập trước hết phải quan tâm tới sự cung ứng, nhu cầu

và sự hình thành giá cả trên thị trường yếu tố sản xuất Phân tích những mối quan hệ này được xem là sự phân tích phân phối có tính chất vi mô Phân tích phân phối có tính chất vĩ mô được nói tới khi đặt vấn đề nghiên cứu phân phối sản phẩm và phân phối thu nhập theo các nhóm người tiêu dùng với mức tổng hợp cao (ví dụ: những người hưởng lương) trong toàn

bộ nền kinh tê Như vậy vân đê phân phôi hàng hóa cho người tiêu dùng của một nền kinh tế, tùy theo cách đặt vấn đề khác nhau, có thể là đối tượng của kinh tế vi mô hay kinh tế vĩ mô

Tóm lại: Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô là hai bộ phận cấu thành quan trọng của kinh tế học, nghiên cứu các mối quan hệ kinh tế của nền kinh tế với những mức tổng hợp khác nhau, tùy theo cách đặt vấn

đề Kinh tế vi mô hướng vào việc nghiên cứu chi tiết một khía cạnh của hành vi kinh tế, nó nhấn mạnh đến sự thông hiểu chi tiết các thị trường cụ thể, nghiên cứu chi tiết các quyết định của các chủ thể kinh tế

Trang 9

về các hàng hóa cụ thể Kinh tế vĩ mô quan tâm đến những tổng thể lớn

và nó nhân mạnh đên sự tương tác trong nên kinh tê nói chung

Ví dụ: Các nhà kinh tế học vi mô, khi nghiên cứu về tổng sức mua

và tông sản lượng của một loại hàng hóa nào đó (chăng hạn xe đạp), thường phân loại hàng tiêu dùng thành các loại như: xe đạp, ôtô sau đó

họ nghiên cứu các quyết định của các doanh nghiệp về sản xuất xe đạp, cuôi cùng họ tập họp tât cả các quyêt định lượng xe đạp Khác với các nhà kinh tê học vi mô, các nhà kinh tê học vĩ mô ít quan tâm đên những vân đê

cụ thê trên mà quan tâm nhiều hơn đến vấn đề tương tác giữa quyết định mua hàng nói chung của các hộ gia đình và quyết định mua sam tài sản (máy móc thiết bị sản xuất, nhà xưởng ) của các doanh nghiệp

2 KINH TẾ HỌC CHUẨN TÁC VÀ KINH TÉ HỌC THựC CHỨNG

Kinh tế học chuẩn tắc và kinh tế học thực chứng là hai hướng tiếp cận khác nhau xuât phát từ hai mục đích (quan điểm) khác nhau của quá trình nghiên cứu kinh tế học

Kinh tể học thực chứng xuất phát từ mục tiêu giải thích một cách

khách quan (không phụ thuộc vào các tiêu chuẩn cá nhân của người đánh giá) xã hội quyết định như thế nào về các vấn đề sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai, nghĩa là giải thích một cách khoa học về hoạt động của nền kinh tế nên luôn luôn đặt ra những vấn đề hay những giả thiết để suy luận các mối quan hệ nhân quả Ví dụ: Vì sao lại có hiện tượnẸ này? Nếu hiện tượng này thay đôi thì sẽ gây ra hậu quả gì cho nên kinh tê?

Sử dụng phương pháp tư duy của kinh tế học thực chứng có thể giải thích hoặc chứng minh được các hành vi lựa chọn (hành vi kinh tế) này hay hành vi lựa chọn khác của xã hội Chăng hạn, sử dụng kinh tế học thực chứng có thể lý giải một cách rõ ràng rằng nếu xã hội quyết định dành phần nguồn lực hiện có của xã hội cho mục đích này thì chỉ có thể dành cho các mục đích khác phần nguồn lực còn lại

Kinh tế học chuẩn tắc nhằm vào mục tiêu đưa ra các chỉ dẫn hoặc các khuyến nghị dựa theo các tiêu chuẩn cá nhân, những đánh giá chủ quan của người phát biểu Ví dụ một khuyến nghị mang tính chuẩn tắc:

“Vì mức sống của nông dân nói chung quá thấp nên chính phủ cần trợ cấp cho nông dân” Nói chung, những khuyến nghị mang tính “chuẩn tắc” như thế thường không thể chứng minh được rõ ràng sự đúng sai bằng những luận cứ khoa học khách quan hay bằng những phân tích kinh tế

Phần đông các nhà kinh tế thừa nhận nhiều giả thiết của kinh tế học thực chứng, đồng thời họ đều có các quan điểm chuẩn tắc, và vì thế họ

Trang 10

thường sử dụng kinh tế học thực chứng để làm sáng tỏ những ủng hộ của

họ đối với các lựa chọn mang tính chuẩn tắc của xã hội

3 S ự KHAN HIÉM CỦA NGUỒN Lực VÀ CÁC NGUYÊN TẮC KINH TÉ

Để thỏa mãn nhu cầu của con người dường như ngày càng tăng lên một các vô hạn đòi hỏi xã hội luôn phải tìm mọi cách để sản xuất ra ngày càng nhiều hàng hóa và dịch vụ bằng những nguồn lực vật chất (tài nguyên, sức lao động, đất đai) và kiến thực công nghệ hữu hạn hiện có Với sự hữu hạn của nguồn lực hiện có, xã hội không thê sản xuât mọi hàng hóa và dịch vụ một cách vô hạn để thỏa mãn mọi nhu cầu vô hạn của con người Tình hình này buộc xã hội phải suy tính, lựa chọn và quyết định phương án sử dụng nguồn lực của nền kinh tế một cách hiệu quả nhất, nghĩa là sử dụng nguôn lực một cách tiệt kiệm nhât đê thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của mọi người trong xã hội

Nguyên nhân sâu xa của sự phải suy tính của xã hội để lựa chọn phương án sử dụng có hiệu quả nhất nguồn lực của nền kinh tế chính là

sự khan hiếm nguồn lực vì nếu nguồn lực là vô hạn (nghĩa là không khan hiếm) thì mọi hàng hóa và dịch vụ đều có thể được sản xuất một cách dễ dàng để thỏa mãn mọi nhu cầu Khi đó, có thể hình dung là tất cả các

hàng hóa và dịch vụ đều có thể cho không - hàng hóa cho không - và xã

hôi không cần phải giải quyết các vấn đề cái gì, thế nào và cho ai! Xã hội trong điều kiện đó sẽ không bao giờ phải đương đầu với các cơn sổc giá dầu mỏ, và khi đó đương nhiên chẳng cần gì tới kinh tế học

Trong thực tiễn xã hội, mâu thuẫn giữa nhu cầu vô hạn của con người và sự hữu hạn của nguồn lực để thỏa mãn mọi nhu cầu ấy không những luôn tồn tại mà ngày càng trở nên gay gắt vì nhu cầu ngày càng gia tăng và nguồn lực ngày một cạn kiệt Sự lựa chọn câu trả lời tốt nhất của mỗi xã hội đối với ba vấn đề kinh tế cơ bản: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Do đó sẽ ngày một khó hơn, kinh tế học cũng từ đó ngày càng trở nên hữu ích hơn và buộc phải đương đầu ngày càng nhiều với những thách thức nảy sinh của xã hội ngày càng phát triển

Khái niệm nguồn lực khan hiếm nói theo ngôn từ của kinh tế học

được hiểu là nguồn lực mà tại điểm giá bằng không thì lượng cầu về nó lớn hơn lượng cung sẵn có

Do nguồn lực khan hiếm mà hầu hết các hàng hóa và dịch vụ đều trở nên khan hiếm và do vậy đều có giá Khái niệm hàng hóa kinh tế để chỉ những hàng hóa và dịch vụ khan hiếm

Trang 11

Nguồn lực khan hiếm đã đòi hỏi các doanh nghiệp phải lựa chọn kinh tế đối với các quyết định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế như mong muốn trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì nguồn lực khan hiếm có thể sử dụng cho nhiêu mục đích khác nhau.

Nguồn lực khan hiếm cũng đòi hỏi người tiêu dùng phải lựa chọn kinh tê tôi ưu trong tiêu dùng hàng hóa hay dịch vụ

Có hai nguyên tắc trong việc lựa chọn kinh tế tối ưu: (1) tối đa hóa lợi ích khi sử dụng mọi nguồn lực xác định và (2) tối thiểu hóa chi phí nguồn lực đối vói những lợi ích xác định

Đối với doanh nghiệp trong lựa chọn kinh tế tối ưu, các nguyên tắc trên có thể được mô tả như sau:

• Nguồn lực sử dụng xác định <=> tối đa hóa sản lượng sản xuất

• Sản lượng sản xuất xác định •=> tối hiếu hóa nguồn lực sử dụng

Đối với người tiêu dùng trong lựa chọn kinh tế tối ưu, các nguyên tắc trên có thể được mô tả như sau:

• Nguồn lực sử dụng xác định ^ toi đa hóa lợi ích tiêu dùng

• Lợi ích tiêu dùng xác định *=> tối thiểu hóa nguồn lực sử dụng

4 ĐƯỜNG CONG GIỚI HẠN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ CHI PHÍ C ơ HỘI

Đưòng cong giới hạn khả năng sản xuất (PPF) là đường đồ thị biểu

diễn phương án sản xuất có hiệu quả hai loại sản phẩm hàng hóa hay dịch

vụ nghĩa là các phương án sử dụng triệt để nguồn lực (các đầu vào và công nghệ sản xuất) cho trước để có thể đạt được mức sản lượng sản xuất tối đa Nó cho biết các lựa chọn phương án sản xuất và tiêu dùng khác nhau có thể có đối với xã hội

Nói một cẩch khác, đường cong giới hạn khả năng sản xuất mô tả các phương án phối hợp tối đa của sản lượng sản xuất mà nền kinh tế có thể tạo ra được khi sử dụng toàn bộ nguồn lực sẵn có

Khái niệm đường cong giới hạn khả năng sản xuất cũng có giá trị đối với doanh nghiệp, nó mô tả các phương án sản xuất hai loại sản phẩm hay dịch vụ trong điều kiện sử dụng triệt để nguồn lực sản xuất hiện có của doanh nghiệp

Đường cong giới hạn khả năng sản xuất thông thường có dạng đường cong lồi (hình 1.2)

Trang 12

Đường cong giới hạn khả năng sản xuất chỉ ra một ý niệm kinh tế

về sự đánh đối: khi nền kinh tế (hay doanh nghiệp) hoạt động có hiệu quả (phưomg án sản xuất nằm trên đường PPF) thì chỉ có thể sản xuât nhiêu hơn hàng hóa này khi chấp nhận phải giảm bớt sản lượng hàng hóa khác,

nghĩa là, theo ngôn từ kinh tế, phải gánh chịu chỉ phí cơ hội (CPCH)

“Chi phí cơ hội” cho mọi phương án được quyết định lựa chọn có thể được hiểu là phần thu nhập bị hi sinh từ mội cơ hội (phương án) tôt nhất đã bị bỏ qua

Ví dụ: doanh nghiệp có thể sản xuất được 3 loại hàng hóa X,Y và

z Nếu tận dụng triệt để nguồn lực sản xuất hiện có để sản xuẩn hàng hóa

X thì sản lượng đạt được hàng năm là 120 tỉ đồng Nếu toàn bộ nguồn lực sản xuất hiện có được sử dụng để sản xuất hàng hóa Y thì sản lượng đạt được hàng năm là 100 tỉ đồng Nếu không sản xuất X và Y mà 100% nguồn lực sản xuất hiện có được sử dụng đê sản xuất hàng hóa z thì sản lượng đạt được hàng năm là 150 tỉ đông

Giả sử doanh nghiệp quyết định sử dụng 100% nguồn lực hiện có

để sản xuất hàng hóa X thì chi phí cơ hội của quyết định này là 150 tỉ đồng (sản lượng z =150 tỉ đồng bị hi sinh do cơ hội sản xuất hàng hóa z không được lựa chọn)

Cũng tương tự như thế, nếu doanh nghiệp quyết định không sản xuất hàng hóa X mà dùng toàn bộ nguồn lực hiện có để sản xuất hàng hổa Y thì chi phí cơ hội của quyết định sản xuất hàng hóa Y cũng là 150

tỉ đồng Nếu doanh nghiệp quyết định toàn bộ nguồn lực hiện có sẽ sử dụng để sản xuất hàng hóa z thì chi phí cơ hội của quyết định là 120 tỉ đồng (sản lượng X là 120 tỉ đồng bị hi sinh do cơ hội sản xuất hàng hóa

X không được lựa chọn)

Hình 1.2: Đườtig cong giới hạn

khả năng sản xuất (PPF)

Hỉnh 1.3: Đường cong giới hạn khả năng sản xuất của doanh nghiệp

Trang 13

Trong kinh tế học, chi phí cơ hội cho một mặt hàng có thể được đo băng sô lượng của các mặt hàng khác phải bỏ không sản xuất (hi sinh) để sản xuât thêm một đơn vị của mặt hàng đó Có thê dựa và đường cong giới hạn khả năng sản xuât để xác định chi phí cơ hội của một mặt hàng.

Ví dụ: một doanh nghiệp có khả năng sản xuất 2 loại hàng hóa dịch

vụ X và Y Giả sử đường cong giới hạn khả năng sản xuất được mô tả như ở hình 1.3

Dựa vào đường cong giới hạn khả năng sản xuất có thể xác định chi phí cơ hội của các quyết định sản xuất sản phẩm X như sau:

Quyết định sản

xuất sản phẩm

X với số lượng

CPCH của quyết định sản xuất sản phẩm X (số lượng sản phẩm Y bị hi

sinh)

CPCH tính cho 1 đơn vị sản phẩm X (số lượng sản phẩm Y phải hi sinh để sản xuất thêm 1 đơn vị sản

án sản xuất mà nền kinh tế (hay doanh nghiệp) không có khả năng đạt tới

từ nguồn lực hiện có (các phương án không khả thi) Khi nguồn lực càng lớn thì đường cong giới hạn khả năng sản xuất càng xa gốc tọa độ và ngược lại về phương diện lý thuyêt có thê suy diên răng trong trường hợp nền kinh tế (hay doanh nghiệp) không có nguồn lực cho phép sử dụng để sản xuất thì đường cong giói hạn khả năng sản xuất suy biến thành một điếm tại gốc tọa độ

Khi bổ sung nguồn lực sản xuất (đầu vào) hoặc khi công nghệ sản xuất được cải tiến (hiện đại hơn), đường cong giới hạn khả năng sản xuất

sẽ dịch chuyển sang phải và ngược lại (hình 1.4)

Trang 14

PPF ban đầu

Hình 1.4: Sự dịch chuyển đường cong giới hạn khả năng sản xuất

5 MÔ HÌNH NÈN KINH TÉ

5.1 Mô hình kinh tế chỉ huy (kế hoạch hóa tập trung)

Có thể phân biệt ba mô hình nền kinh tể điển hình mà lịch sử xã hội loài người đă trải qua ở quốc gia này hay quốc gia khác ở những mức độ cụ thể khác nhau: (1) mô hình nền kinh tế chỉ huy (còn gọi là mô hình nền kinh

tế kế hoạch hóa tập trung), (2) mô hình nền kinh tế thị trường (tự do - không

có sự can thiệp của chính phủ) và (3) mô hình nền kinh tế hỗn hợp

Mô hình nền kinh tế chí huy là mô hình mô tả một nền kinh tế mà trong đó việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản chủ yếu do nhà nước thực hiện theo phương thức kế hoạch hóa tập trung thống nhất Mô hình nền kinh tế chỉ huy có những đặc trưng cơ bản là:

- Không chấp nhận sự tồn tại của thị trườnệ và sự chi phối của các quy luật thị trường như cạnh tranh, quan hệ cung cầu, trong nền kinh tế

- Việc lựa chọn phương án giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản của nền kinh tế cũng như của các cơ sở sản xuất đều do nhà nước thực hiện, nhà nước can thiệp trực tiếp và toàn diện vào các hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong xã hội

- Nhà nước quản lý tập trung, theo một kế hoạch thống nhất mọi hoạt động sản xuất và tiêu dùng

- Giữa người sản xuất và người tiêu dùng không có mối liên hệ mật thiết vì các cơ sở sản xuất thực hiện các quá trình sản xuất và giao nộp sản phẩm cho nhà nước theo các chỉ tiêu kế hoạch nhà nước, để nhà nước

Trang 15

thực hiện quá trình phân phối sản phẩm cho người tiêu dùng chứ không phải xuất phá từ nhu cầu của người tiếu dùng.

- Người tiêu dùng không được tự do lựa chọn tiêu dùng cái mình cân mà tiêu dùng theo sự phân phôi của nhà nước

Nền kinh tế chỉ huy với những đặc trưng cơ bản nói trên có khả năng to lớn trong việc giải quyết những nhu cầu công cộng của xã hội, hạn chê sự phân bô giàu nghèo và bât công xã hội, tuy nhiên, nó cũng chứa đựng nhiều hạn chế đáng kể như:

- Không thúc đẩy và kích thích sản xuất và tiêu dùng phát triển, cả người sản xuất và người tiêu dùng đều ỷ lại và trông chờ vào nhà nước

- Bộ máy quản lý nặng nề, cồng kềnh, kém hiệu quả

- Phân phối bình quân gây nên những sự trì trệ và bất công xã hội

Nen kinh tế nước ta và hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa khác, do những đặc điểm lịch sử cụ thể của mình, trước đây đã trải qua mội thời gian khá dài vận hành theo cơ chế kinh tế chỉ huy

5.2 Mô hình nền kinh tế thị trường

Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, nghĩa là nền kinh tế hàng hóa tự điều chỉnh bằng “bàn tay vô hình” hay bằng các quy luật kinh tế khách quan của thị trường (quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung - câu hàng hóa ), không có sự can thiệp của chính phủ

Trong nền kinh tế này, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản đều thông qua hoạt động của quan hệ cung cầu trên thị trường, quan hệ cạnh tranh và giá cả thị trường, trong đó giá cả thị trường có vai trò quyêt định Quan hệ cạnh tranh và quan hệ cung cầu trên thị trường xác định giá cả và lượng cung cầu thị trường, giá cả thị trường là cơ sở để các doanh nghiệp lựa chọn và quyết định sản xuât cái gì, bao nhiêu và cho ai sao cho có thể tìm kiếm được lợi nhuận tối đa

Động cơ lợi nhuận thúc đẩy các doanh nghiệp năng đổi mới cộng nghệ sản xuất và phát triên công nghệ tô chức và quản lý sản xuât kinh doanh Ưu điểm này của cơ chế thị trường có tác dụng tích cực trong việc phân phối và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước, của ngành, của địa phương và của từng cơ sở kinh doanh

Tuy nhiên, do cạnh tranh vì động cơ lợi nhuận nên nhiều nhu cầu

xã hội không được đáp ứng, đặc biệt là những nhu cầu về các hàng hóa

Trang 16

và dịch vụ chi phí sản xuất cao, giá bán thấp, không mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp Đồng thời, nhiều vấn đề xã hội không được giải quyết một cách thỏa đáng như vấn đề ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu nghèo, bất công xã hội, những yêu cầu về an ninh, quốc phòng và các vấn đề xã hội khác Đó là những khuyết tật của cơ chế thị trường.

5.3 Mô hình nền kinh tế hỗn họp

Là nền kinh tế thị trường có sự can thiệp của nhà nước, là sự phối họp giữa kinh tế thị trường và nhà nước trong tổ chức nền kinh tế; sự phối hợp này làm cho ưu thế của hai mô hình được phát huy đồng thời hạn chế được những khuyết tật của chúng

Mô hình kinh tế hỗn họp, ngày nay đã trở thành phương thức tổ chức, phát triển kinh tế của cả thế giới Nền kinh tế hỗn hợp đòi hỏi phải coi trọng cả vai trò của thị trường và vai trò của nhà nước trong việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa tính khách quan của thị trường và quy chế của nhà nước trong tổ chức và phát triển kinh tế

Nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH được xác định là: nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo hướng XHCN

Vì thế, kinh tế hỗn họp có khả năng bảo đảm cho sự tăng trưởng của nền kinh tế, đạt hiệu quả cao về sử dụng các nguồn lực, đồng thời quan tâm đúng mức tới những vân đê công bằng xã hội, văn minh, sự bền vững của môi trường sinh thái và an ninh quổc phòng

Hiện nay có thể nói không có một quốc gia nào vận hành nền kinh tế theo mô hình nền kinh tế thị trường tự do mà hầu hết đều tổ chức và quản

lý nền kinh tế theo mô hình nền kinh tế hỗn họp phù họp với đặc điểm tình hình cụ thê của môi nước Sự khác nhau giữa các nước chỉ ở định hướng phát triển kinh tế và mức độ can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế

5.4 Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trưòng có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nưóc ta

a Sự cần thiết phải có sự can thiệp của chính phủ trong nền kinh tế hỗn họp

Vấn đề phân bố nguồn lực của nền kinh tế một cách có hiệu quả có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển vững chắc của nền kinh

tế về vấn đề này người ta thường đề cập tới chuẩn mực phân bố nguồn lực - hiệu quả Pareto trong kinh tế học phúc lợi hiện đại

Sự phân bố nguồn lực được gọi là có hiệu quả pareto khi không thể phân bố lại nguồn lực để làm cho một số người giàu lên mà không đồng thời làm cho những người khác nghèo đi.

Trang 17

Mục tiêu kinh tế của một nền kinh tế trên giác độ kinh tế phúc lợi là phải đạt được một cơ cấu sản lượng sản phẩm tối ưu, nghĩa là một cơ cấu sản lượng sản phàm phù họp với những yêu cầu xã hội, nhưng thị trường không phải bao giờ cũng tạo ra một cơ cấu sản phẩm phù hợp với nhũng yêu câu của xã hội do những “trục trặc của thị trường” Sự trục trặc của thị trường xảy ra do có sự cạnh tranh không hoàn hảo, do những ưu tiên của

xã hội vì mục tiêu công băng xã hội, do các ngoại ứng và do những thị trường còn thiêu khác Do đó, cân phải có sự can thiệp của chính phủ.Trong một nền kinh tế luôn xuất hiện những ngọai ứng do hoạt động kinh tê vi mô gây ra Khái niệm “ngoại ứng” nói ở đây được hiểu là những ảnh hưởng của các quyết định sản xuất hoặc tiêu dùng của một cá nhân đôi với người khác trong xã hội mà không thông qua giá cả thị trường Chang hạn hoạt động sản xuất của một hãng gây ra ô nhiễm môi trường sinh thái mà không phải chịu một chi phí nào, hoặc một cá nhân trang hoàng đẹp đẽ cho nhà mình đồng thời làm đẹp cho cả xã hội nhưng không nhận được một khoản bù đăp nào của xã hội Các ngoại ứng dẫn đến sự chênh lệch giữa chi phí hoặc lợi ích của cá nhân và xã hội Những ảnh hưởng của các ngoại ứng tự bản thân nền kinh tế thị trường (tự do) không giải quyết được, đòi hỏi phải có sự can thiệp của chính phủ

Hàng hóa và dịch vụ công cộng là những hàng hóa và dịch vụ không thể tiêu dùng cho riêng ai và không có tính cạnh tranh như các hàng hóa và dịch vụ cá nhân Do vậy, thị trường tự do thường có xu hướng sản xuất không đủ hàng hóa công cộng và sản xuất thừa hàng hóa

cá nhân Do đó, cần có sự can thiệp của chính phủ

Cơ chế thị trường dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo Trong xã hội còn có những người già, tàn tật, thất nghiệp cần có sự can thiệp của chính phủ để đảm bảo công bằng xã hội

Độc quyền trong nền kinh tế thị trường có sức mạnh rất lớn Nhà độc quyền có khả năng quy định số lượng sản phẩm được sản xuất, ấn định mức giá sản phẩm cao nhằm đạt được lợi nhuận độc quyền tối đa

Do tính bảo thủ rất lớn của nhà độc quyên nên nhà độc quyên thường ít đổi mới công nghệ sản xuất dẫn tới lãng phí nguồn tài nguyên và cản trở nền kinh tế đạt mức sản lượng tối ưu Sự can thiệp của chính phủ bằng những biện pháp điều tiết độc quyền nhằm hạn chế sức mạnh của thị trường độc quyền

Mức độ rủi ro của các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường rất lớn dẫn tới sự hỗn loạn về giá cả, tình trạng lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế theo chu kỳ, do đó, đòi hỏi sự can thiệp của chính phủ để ổn định giá cả, phát triển kinh tế

Trang 18

b Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế hỗn họp

Trong nền kinh tế hỗn họp, chính phủ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc điều tiết nền kinh tế nhằm khắc phục những khuyêt tật vôn

có của cơ chế thị trường tự do

Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế trước hết được thể hiện qua

ba chức năng kinh tế chủ yếu:

- Chức năng hiệu quả: Chính phủ xây dựng hệ thống luật pháp và

các luật lệ, chính sách điều tiết nền kinh tế nhàm tạo ra môi trường pháp

lý thuận lợi và an toàn cho sự phát triển có hiệu quả của các hoạt động kinh tế xã hội

- Chức năng công bằng: Bằng chính sách thuế khóa và chi tiêu của

chính phủ, chính phủ có thể điều tiết vấn đề phân phối sản phẩm (sản xuất cho ai) trong xã hội, đảm bảo sự công bằng xã hội

- Chức nũng ổn định: Bằng các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là

chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, chính phủ tác động vào sản lượng, việc làm và lạm phát của nền kinh tế nằm duy trì sự ổn định kinh tế

Vai trò quan trọng của chính phủ còn được thể hiện rõ qua việc tổ chức và sử dụng hệ thốnp kinh tế nhà nước để điều tiết nền kinh tế: kiểm soát một số ngành kinh tế thông qua sở hữu nhà nước

Hệ thống kinh tế nhà nước trong nền kinh tế hỗn hợp có tác dụng quan trọng trong việc khăc phục những khuyết tật của thị trường tự do, góp phần giải quyết việc làm và tăng thu cho ngân sách nhà nước Chính phủ, bằng hệ thống doanh nghiệp nhà nước có thể đảm nhiệm sản xuât các mặt hàng và dịch vụ công cộng như quôc phòng, cơ

sở hạ tầng kỹ thuật, giáo dục đào tạo, y tế, bảo hiểm, và một số hàng hóa dịch vụ cá nhân khác, đặc biệt là hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần nhưng các doanh nghiệp tư nhân không muốn đầu tư sản xuất do không

có hoặc ít khả năng thu lợi nhuận cao

c Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trường ở nưóc ta hiện nay

Từ cuối những năm 50 của thế kỷ này, Đảng và Nhà nước ta đã đổi mới tư duy cho phù họp với diễn biến của tình hình chính trị và kinh tế trong nước cũng như trên thế giới, đã chủ trương đường lối xóa bỏ quan liêu bao cấp, hành chính mệnh lệnh của kinh tế chỉ huy trước đây, tổ

chức nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế mới: nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Thực chất của mô hình kinh tế này là

Trang 19

mô hình kinh tế hỗn hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Do đặc điểm riêng của nước ta, ngoài việc thực hiện các chức năng kinh tế để điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội, Chính phủ đặt biệt quan tâm đến việc đổi mói hệ thống doanh nghiệp nhà nước để hệ thống kinh

tế nhà nước thực sự trở thành một công cụ đắc lực để định hướng nền kinh tế, hướng đến kinh tế phát triển vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng yăn minh

- Đổi mới cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: tập trung vào các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và dịch vụ công cộng, các doanh nghiệp trọng yếu trong các ngành và lĩnh vực then chốt, các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ mà xã hội có nhu cầu nhưng các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư sản xuất

- Đổi mới quan hệ sở hữu: Xác định rõ người đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, tách biệt rõ ràng quyền sở hữu và quyền quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, đa dạng hóa các hình thức sở hữu doanh nghiệp nhà nước

- Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước: Doanh nghiệp nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật và bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trước pháp luật, chống độc quyền, phát triển cạnh tranh, xóa bỏ sự can thiệp của các cơ quan quản lý hành chính vào hoạt động sản xuât kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước

Trang 20

Biến số kinh tế vì thế mà trở thành một trong những công cụ phân tích kinh tế quan trọng, nó giúp các nhà kinh tế phát hiện các vấn đề kinh

tế phát sinh trong nền kinh tế để từ đó nghiên cứu tìm hiểu nhằm giải thích, đánh giá chúng trên cơ sở những lập luận lý thuyết các mối quan

hệ logic

Biến số kinh tế giúp ích cho các nhà kinh tế trong việc kiểm nghiệm những lập luận lý thuyết hay những mô hình mang tính lý thuyết được xây dựng phù hợp với thực tế tương ứng ở mức độ nào

Các nhà kinh tế thường sử dụng các biến số kinh tế được tổ chức, sắp xếp với các dạng dãy số thời gian, số liệu chéo và chỉ số:

- Dãy số thời gian: Chuỗi các giá trị đo của một biến số kinh tế ở

các thời điểm khác nhau Dãy số thời gian cho biết biến số kinh tế đang xem xét biến động theo xu hướng nào theo thời gian Dãy số thời gian thông thường được biếu diễn dưới các dạng: bảng và đồ thị Các giá trị

đo biến số kinh tế trong dãy số thời gian có thể là số tuyệt đối, số tương đối hay số bình quân và tùy từng trường hợp mà có thể sử dụng dãy số thời gian biểu thị dưới dạng này hay dạng khác một cách phù hợp

- Số liệu chéo: giá trị đo của một biến số kinh tế ở một thời điểm

theo các tiêu thức phân tổ thống kê khác nhau, chẳng hạn số lượng người thất nghiệp phân theo lứa tuối, theo nghề nghiệp, theo giới tính hay theo khu vực địa l ý ,

- Chỉ số: sổ tương đối so sánh giữa giá trị đo của một biến số kinh

tế với một giá trị gốc nào đó, chẳng hạn giá vàng năm 1997 so với giá vàng năm 1990 tăng gấp 2,5 lần thì có chỉ số giá vàng là 2,5 hay 250%

Biển sổ kinh tế có đon vị đo bằng tiền sử dụng trong phân tích kinh

tế thường được phân thành hai loại: biến số danh nghĩa và biến số thực tế

Trang 21

- Biến số danh nghĩa: Biến số kinh tế được đo theo mức giá hiện

hành tại thời điếm đo

- Biển số thực tế: Biến số kinh tế được đo theo mức giá cố định

(nói cách khác: Biến số danh nghĩa được điều chỉnh theo mức biến động của giá cả theo thời gian)

2 MÔ HÌNH KINH TÉ DƯỚI DẠNG HÀM SỐ

Mô hình kinh tế có thể được hiểu là cách thức được sừ dụng để mô

tả một thực tế kinh tế của nền kinh tể và dựa vào đó để có thể phân tích,

lý giải và rút ra những nhận định về hoạt động kinh tế của nền kinh tế

Mô hình kinh tế dưới dạng hàm số có thể ví dụ như:

- Hàm số về một hàng hóa X mô tả mối quan hệ giữa lượng cầu hàng hóa X và các nhân tố ảnh hưởng tới nó

Q = f(X ,,X 2,X3 ,XN)

- Hàm tổng cung, hàm tổng cầu, hàm tiêu dùng, hàm đầu tư, được sử dụng trong nghiên cứu kinh tế vĩ mô

3 MÔ HÌNH KINH TÉ DƯỚI DẠNG HÌNH ẢNH

Trong nhiều trường họp, mô hình kinh tế được biểu diễn dưới dạng hình ảnh như mô hình hay hình vẽ

Mô hình kinh tế dưới dạng hình ảnh có ví dụ như:

- Mô hình đường cung và đường cầu về một hàng hóa hay dịch vụ

X vẽ băng các đường cong trên hệ trục POQ mô tả mối quan hệ giữa lượng cung (lượng câu) và giá cả hàng hóa hay dịch vụ X

Trang 22

- Mô hình dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô của nền kinh tế đóng giản đơn (mô hình 2 khu vực: doanh nghiệp (hãng kinh doanh) và hộ gia đình mô tả luông thu nhập và chi tiêu của nên kinh tê giả định chỉ có hai tác nhân kinh tế là doanh nghiệp và hộ gia đình.

- Mô hình dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô của nền kinh tế mở (mô hình 4 khu vực: doanh nghiệp (hãng kinh doanh), hộ gia đình, chính phủ và khu vực nước ngoài) mô tả luồng thu nhập và chi tiêu của nền kinh tế mở

4 TÍNH ĐƠN GIẢN HÓA CỦA MÔ HÌNH KINH TÉ

Các mô hình kinh tế được xây dựng đế nghiên cứu, luận giải các hiện tượng hay các hoạt động kinh tế diễn ra trong nền kinh tế thường được đơn giản hóa thực tế một cách có ý thức nghĩa là bỏ qua một vài yếu tố hay chi tiết của thực tế để tạo ra những điều kiện dễ dàng hay thuận lợi hơn trong việc xem xét và phân tích đánh giá, cũng như có thể tập trung vào những yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến quá trình và kết quả hoạt động của nền kinh tế

Nghệ thuật trong việc đơn giản hóa mô hình kinh tế là ở chỗ bỏ qua một vài yếu tố của thực tế trong mô hình nhưng không làm ảnh hưởng tới việc hình dung thực tế đế hiếu hành vi của các tác nhân kinh tế trong nền kinh tế

Do tính đơn giản hóa của mô hình kinh tế mà việc tư duy cũng như việc nghiên cứu phân tích kinh tế các hoạt động của nên kinh tê trong nhiều trường họp trở nên dễ dàng hơn.Trên cơ sở những mô hình kinh tê được xây dựng, bằng phương pháp giả định cố định các điều kiện khác giữ nguyên khi xem xét một yêu tô ảnh hưởng cũng như phương pháp suy luận logic có thể lượng hóa từng ảnh hưởng riêng biệt của từng yếu

tố đến hiện tượng kinh tế nghiên cứu hoặc rút ra được những kết luận vê hành vi của các tác nhân của nền kinh tế

Vì mỗi mô hình kinh tế đều được đưa ra những giá định để đơn giản hóa mô hình nên có thể coi mô hình kinh tế là một lý thuyết Cũng

do đó mà các kết luận rút ra từ việc nghiên cứu mô hình cũng mang tính

lý thuyết ở một chừng mực nào đó Vì thế, các mô hình kinh tế cũng như những kết luận rút ra từ mô hình luôn cần phải được kiếm tra, kiểm chứng hay kiểm nghiệm bằng thực tế tức là bằng các biến số kinh tế

Trang 23

Phần 2 KINH TÉ HỌC VI MÔ

Trang 24

Chương 3 CUNG - CẢU VÀ GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG

1 CÀU

1.1 Các khái niệm về cầu

• Cầu (Demand) mô tả số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua muốn mua và có khả năng ở mọi mức giá trong một thời gian nào

đó (các yếu tố khác không đổi).

Thông thường ta thấy rằng khối lượng một mặt hàng mà người tiêu dùng mua ở bất kỳ thời điểm nào phụ thuộc vào giá cả của nó Người mua sẽ mua một loại sản phẩm với số lượng lớn hon nếu giá của hàng hóa đó hạ thấp xuống Giá thấp hơn sẽ lôi cuốn người tiêu dùng sử dụng nhiều sản phẩm hơn, và cũng hấp dẫn những người mua mới

Như vậy: Ở bất kỳ thòi điểm nào đều tồn tại mối quan hệ nhất định giữa giá cả thị trường của một mặt hàng và khối lượng hàng hóa mà người tiêu dùng muốn mua Mối tương quan giữa giá cả với lượng cầu được mô tả dưới dạng: biểu cầu, quy luật cầu, đồ thị cầu hay hàm số cầu

• Đường cầu: là sự mô tả về hàng hoá, trong mối tương quan với giá cả của nó trên đồ thị với trục hoành biểu thị lượng cầu (Q) trục tung biểu thị giá cả (P) (với các yếu tô khác không đôi)

Để đơn giản hóa, chúng ta xem đường cầu là đường thẳng

Giả sử có bảng số liệu về tiêu dùng một mặt hàng cụ thế như là cà phê của thị trường với quan hệ giữa giá và lượng cầu như sau:

p

(lOOOđ/kg)

Số lượng Q (triệu kg/ngày)

Trang 25

Đường cầu được vẽ từ biểu cầu, hay từ hàm sô câu Đường câu dôc xuống từ trái sang phải.

• Hàm số cầu có dạng tổng quát (dạng tuyến tính)

p = a.Q + b (với a < 0)

Từ biểu cầu cho trước, có thể viết phưong trình đường cầu

• Quy luật cầu

Giữa giá cả (P) và lượng cầu (Q) của hàng hoá có quan hệ nghịch biến, vì vậy, khi các yếu tổ khác không đổi (giá cả hàng hoá liên quan, thu nhập người tiêu dùng, thị hiếu ):

- Giá cả hàng hoá tăng thì cầu giảm.

- Giá cả hàng hoá giảm thì cầu tăng.

1.2 Những yếu tố làm thay đổi đưòug cầu

• Sự thay đổi của cầu dọc theo đường cầu:

Sự thay đổi của cầu dọc theo đường cầu là sự thay đổi lượng cầu về hàng hóa khi giá cả của nó thay đổi, các yếu tố khác không đổi (hàm sô cầu không thay đổi)

Khi các yếu tố khác không đổi, giá cả thay đổi làm sản lượnậ thay đổi (thay đổi lượng cầu), nghĩa là chỉ có sự di chuyển dọc đường câu đôi với một hàng hoá Theo hình 3.1, ta thây khi giá giảm từ 5 xuông 4, làm

sản lượng tăng từ 5 lên 10, lúc đó xảy ra sự trượt trên đường cầu (từ

điểm A xuống điểm B)

• Sự dịch chuyển của đường cầu:

Sự dịch chuyển của đường cầu là sự thay đổi vị trí của đường cầu trên

đồ thị: đường cầu dịch chuyển hoàn toàn sang bên phải hay bên trái đồ thị.Nguyên nhân sự dịch chuyển của đường cầu: là do các yếu tố ngoài giá cả của hàng hóa tác động như: thu nhập, giá cả các mặt hàng liên quan, quy mô thị trường, thị hiếu Khi các yếu tố này thay đổi, hàm số cầu thay đổi Trên thực tế, các yếu tố ngoài giá tác động đồng thời, kết quả tổng họp theo hai chiều hướng: cộng hưởng hay bù trừ cho nhau, kết cục chỉ biêu hiện qua giá cả của hàng hóa trong mối tưong quan hàm số với lượng câu vê hàng hóa

Nhu cầu đối với một sản phẩm phụ thuộc vào giá của nó, nhưng cũng phụ thuộc vào những biến sô kinh tế khác như: thu nhập, giá cả của hàng hóa khác, thị hiếu Các yếu tố này thay đổi sẽ làm đường cầu dịch chuyển

Trang 26

Hình 3.2: Sự dịch chuyến của đường cầu

- Thu nhập của dân cư thay đôi.

Khi thu nhập khả dụng thay đổi, người tiêu dùng có khuynh hướng thay đôi chi tiêu, cho nên câu vê hàng hóa, dịch vụ thay đôi Đôi với phần lớn các lọai hàng hóa, cầu tăng khi thu nhập tăng Mức thu nhập tăng cao hon sẽ làm đường cầu sang phải Ngược lại, sẽ làm đường cầu dịch chuyển sang trái

- Quy mô của thị trường thay đôi.

Nếu mọi thứ khác đều không đổi, khi tăng số người tiêu dùng sẽ làm cho lượng cầu tăng lên, có nghĩa là quy mô thị trường càng lớn thì mức cầu càng cao

- Sự thay đổi giá cả các mặt hàng có liên quan.

Những thay đổi về mặt giá cả của hàng hóa có liên quan cũng có tác động đến cầu Ví dụ: mỡ và dầu là hai hàng hóa thay thế cho nhau, nên cầu đối với mỡ tăng lên khi giá của dầu tăng lên

- Sự thay đối sở thích của người tiêu dùng.

Sở thích là sự ưu tiên của người tiêu dùng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ Sở thích có ảnh hưởng lớn đến cầu của người tiêu dùng

Ví dụ người tiêu dùng ở Việt Nam chưa quen sản phẩm cà phê hòa tan do vậy cầu đối vói cà phê hòa tan còn thâp Như vậy thị hiếu là một yếu tố khác hẳn các yếu tố khác của cầu

Ngoài những nguyên nhân trên còn có một số nguyên nhân như: hiệu ứng “bầy đàn”, hiẹu ứng “choi trội” cũng làm cho đường cầu thay đổi

1.3 Sự co giãn của cầu (elasticity of đemand)

Chúng ta thấy cầu đối với một mặt hàng phụ thuộc vào giá cả của

nó, cũng như thu nhập của người tiêu dùng và vào giá cả của các loại hàng hóa khác Ví dụ: giá cà phê tăng, lượng câu cà phê giảm bao nhiêu? Cầu sẽ thay đổi bao nhiêu nếu thu nhập tăng lên 10%?

Trang 27

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta sử dụng đặc tính co giãn của câu, tức là độ co giãn của cầu Sự co giãn của câu phản ánh sự thay đôi của cầu về hàng hoá khi có sự thay đổi của giá cả hàng hoá hay thu nhập, được tính toán băng hệ sô co giãn của câu Độ co giãn của câu là sô đo tính nhạy cảm của một biến số này đối với một biến số khác.

a Hệ số co giãn của cầu theo giá: là % biến đổi của lượng cầu so với %

biến đối của giá cả hàng hoá

Sự co giãn của cầu theo giá đo sự nhạy cảm của lượng hàng hóa được yêu cầu đối với những thay đổi giá cả Nó cho chúng ta biết tỉ lệ phần trăm thay đổi trong lượng cầu đối với một sổ mặt hàng sau khi giá của hàng hóa đó tăng lên 1%

Trong thực tế, có hai phưomg pháp tính toán độ co giãn: phương pháp đoạn cầu và phương pháp điểm cầu

Biếu thị lượng hàng hóa là Q và giá hàng hóa là p Chúng ta biết được độ co giãn của cầu theo giá theo phương pháp điểm cầu như sau:

Trong trường họp quan hệ giữa p và Q được biểu diễn bằng phương trình

p = f(Q), chúng ta có thê tính độ co giãn tại một điểm trên đường cầu băng công thức:

Trang 28

Phương pháp đoạn cầu được sử dụng khi các trị số p và Q nằm trong một quãng nào đó (Pi và P2 tương ứng với Qi và Q2) Để thuận lợi,

p và Q trong công thức được hiếu là số trung bình của p = (Pi + P2)/ 2 và

Q = (Qi + Q2)/ 2, khi đó Ep được tính theo công thức:

E ( Q 2 - 0 ) (P1 + P2)

p ( P2 - PÌ ) (QÌ + Q2) + Do p và Q nghịch biến nên Ep luôn âm, để tiện so sánh chỉ xét trị

số tuyệt đối của Ep

Neu Ep > 1: cầu co giãn nhiều (sự thay đổi của cầu lớn hơn sự thay đổi của giá)

Ep < 1: cầu co giãn ít (sự thay đổi của cầu nhỏ hơn sự thay đổi của giá)

Ep = 1: cầu co giãn 1 đơn vị (sự thay đổi của cầu bằng sự thay đổi của giá)

Ep = 0: cầu hoàn toàn không co giãn (cầu không thay đổi khi giá thay đổi), lúc này đường cầu là một đường thẳng đứng song song với trục tung

Ep tiến đến vô cực thì cầu hoàn toàn co giãn, lúc này đường cầu là một đường thẳng nằm ngang

Độ co giãn trong trường họp này là vô định (lưu ý do mẫu số của hàm tính độ co giãn bằng 0) Đường cầu có độ co giãn hoàn toàn mà chúng ta có thể thấy rõ nhất là đường cầu của một xí nghiệp sản xuất một lượng sản phẩm rất nhỏ trong tổng sản phẩm được sản xuất trên thị trường Trong trường họp này, xí nghiệp này chiếm một phần rất nhỏ nên phải chấp nhận giá đã được thị trường định trước Chẳng hạn một nồng dân không có quyền kiểm soát giá mà nông dân này nhận được khi mang sản phẩm ra bán trên thị trường Khi nông dân này cung câp 100 hoặc

200 giạ lúa mì, giá mà nông dân nhận được cho môi giạ là giá của thị trường ngày hôm đó Ngược lại, một đường câu thăng đứng được gọi là đường cầu không co giãn, nghĩa là giá thay đổi nhưng cầu không đổi Trong thực tế, chúng ta không hy vọng thấy đường cầu không co giãn hoàn toàn Với một số mức giá của những hàng hóa đặc biệt như dược phẩm trị bệnh có vẻ như cầu không co giãn Tuy nhiên, khi giá của những hàng hóa này tăng, lúc đó lượng cầu có khuynh hướng giảm vì các

cá nhân có ngân sách hạn chế

Trang 29

0 1 3 q

cầu hoàn toàn không co giãn

- ».

0 1 2 3 q

cầu hoàn toàn co giãn

Hỉnh 3.3: Các loại co giãn của cầu theo giá

+ Hệ số co giãn của cầu và tổng doanh thu (TR)

Có một cách nhanh chóng để xác định một đường cầu co giãn như thế nào, mà không cần qua tính tóan hệ số co giãn Cách tính này dựa vào

sự so sánh sổ tiền mà người tiêu dùng chi tiêu trước và sau khi giá thay đổi Tổng số chi tiêu của người tiêu dùng chính là tổng doanh thu của người sản xuất Tổng doanh thu do việc bán sản phẩm là:

TR = p *Q = giá cả * số lượng bán được

- Nếu sau khi p giảm mà tổng doanh thu TR cũng giảm, ta có thể kết luận rằng đường cầu ít co giãn (Ep < 1)

Ep < 1: TR đồng biến với giá cả

Trang 30

- Neu tổng doanh thu TR tăng sau khi giá hạ thì cầu co giãn nhiều Khi Ep > 1: TR nghịch biến với giá cả

Ep = 1: TR không phụ thuộc giá cả

Chúng ta có thể lưu ý giá giảm dẫn tới:

• Một mức tăng của tổng doanh thu khi cầu có tính co giãn

• Không có sự thay đổi ở tổng doanh thu khi cầu là đon vị co giãn

• Một mức giảm ở tổng doanh thu khi cầu không có tính co giãn Theo cách tương tự, một mức tăng giá sẽ dẫn tới:

• Một mức giảm ở tổng doanh thu khi cầu có tính co giãn

• Không có sự thay đổi ở tổng doanh thu khi cầu là đơn vị co giãn

• Một mức tăng ở tổng doanh thu khi cầu không có tính co giãn

b Hệ số co giãn của cầu theo thu nhập (income elasticity of demand):

là % biến đổi của cầu so với % biến đổi của thu nhập (các yếu tố khác

Trong đó: E].- hệ số co giãn theo thu nhập

Q: khối lượng cầu AQ: sự thay đổi cung cầuI: thu nhập của người tiêu dùng AI: sự thay đổi trong thu nhậpNhư trong trường hợp độ co giãn của cầu theo giá chéo, dấu của độ

co giãn của cầu theo thu nhập có thê âm hoặc dương Một giá trị dương

về độ co giãn theo thu nhập xảy ra khi một sự tăng lên vê thu nhập dẫn tới một sự tăng lên về cầu một hàng hoá Trong trường hợp này, hàng hoá

được gọi là hàng hoá thông thường (normal goods) Trong thực thê,

hầu het hàng hoá có vẻ là hàng hoá thông thường (và vì vậy có một độ co giãn theo thu nhập là dương)

Trang 31

Một hàng hoá được gọi là hàng hoá thứ cấp (iníerior goods) nếu một sự tăng lên trong thu nhập dẫn tới một sự giảm đi vê lượng câu hàng hoá Xem xét kỹ định nghĩa độ co giãn của câu theo thu nhập sẽ làm sáng

tỏ một hàng hoá thử câp sẽ có độ co giãn theo thu nhập âm Thực phâm biến đổi gien, ô tô đã qua sử dụng và những hàng hoá tương tự là những hàng hoá thứ cấp với nhiều người tiêu dùng

Một sự phân biệt phổ biến khác được đưa ra là giữa hàng hoá xa xỉ

(luxuries) và thiết yếu (necessỉtỉes) Một tỉ lệ thu nhập tăng lên được chi

dùng cho những hàng hoá xa xỉ khi thu nhập tăng Điều này có nghĩa 10% tăng thu nhập phải kéo theo hơn 10% tiêu dùng cho hàng hoá xa xỉ

Sử dụng định nghĩa độ co giãn của cầu theo thu nhập, chúng ta có thế thấy một hàng hoá xa xỉ phải có độ co giãn theo thu nhập lớn hơn 1

Một tỉ lệ thu nhập nhỏ hơn được tiêu dùng cho những hàng hoá thiết yếu khi thu nhập tăng Điều này có nghĩa là những hàng hoá thiết yếu có một độ co giãn theo thu nhập nhỏ hơn 1

Hãy lưu ý tất cả những hàng hoá xa xỉ là những hàng hoá thông thường trong khi tất cả những hàng hoá thứ cấp lại là những hàng hoá thiêt yêu (Nêu điêu này không rõ ràng tức thời, hãy lưu ý một độ co giãn theo thu nhập lớn hơn 1 thì hăn phải lớn hơn 0 trong khi một độ co giãn theo thu nhập nhỏ hơn 0 thì hẳn phải nhỏ hơn 1) Hàng hoá thông thường

có thê vừa là hàng hoá thiêt yêu hoặc vừa là hàng hoá xa xỉ

Độ co giãn của cầu đối với thu nhập đo lường mức độ đường cầu dịch chuyên ra sao đối với những biến đổi của thu nhập Hệ số co giãn là dương, có nghĩa là thu nhập tăng làm gia tăng số cau Các sản phẩm thuộc loại này gọi là các sản phẩm bình thường Ngược lại, nếu thu nhập gia tăng mà sô sản phâm giảm sút thì sản phẩm đó được gọi là sản phẩm thứ câp Sự khác biệt có thê tóm gọn như sau:

Nếu hệ số Ei > 0: sản phẩm bình thường

Ei < 0: sản phẩm cấp thấp (khoai, bắp)Trong sản phẩm bình thường có 2 nhóm:

Neu: Ei > 1: là hàng xa xỉ

Ei < 1: là hàng thiết yếu

Do giá cả được giả định là không đổi khi E | > 1 có nghĩa là người tiêu dùng sẽ dùng một tỉ lệ lớn trong mức gia tăng thu nhập của mình để mua các hàng hóa lọai này (ăn ở các nhà hàng sang trọng, dùng nước hoa đắt tiền ) Khi E i < 1 có nghĩa là người tiêu dùng chỉ sừ dụng một bộ phận nhỏ trong mức gia tăng của mình đê mua các lọai hàng như: gạo, cá

Trang 32

c Hệ số co giãn chéo của cầu (cross-price elasticity of demand); là %

biến đổi của một mặt hàng so với % biến đổi của giá mặt hằng khác có liên hệ

À Qa

Pb

Trong đó: Eab: là hệ sổ co giãn chéo

Qa: khối lượng hàng hoá aAQa: sự thay đổi lượng cầu hàng hoá aPb: giá cả hàng hoá b

APb: sự thay đổi trong giá của hàng hoá bKhi Eab > 0: đây là hai hàng hoá thay thế nhau (ví dụ hai sản phẩm như dầu và mỡ)

Eab < 0: đây là hai hàng hoá bổ sung nhau (ví dụ hai sản phẩm đường

và cà phê)

Eab = 0: a & b là hai hàng hoá không liên quan nhau

Vì vậy, độ co giãn của cầu theo giá chéo giữa hai hàng hoá cho chúng ta biết liệu hai hàng hoá này là hàng hoá thay thế hay hàng hoá bổ sung Dự tính độ lớn của độ co giãn của câu theo giá chéo có thê được các công ty sử dụng trong việc đưa ra những quyết định về sản lượng và giá cả

Ví dụ: Nhu cầu của sản phẩm X là 200 đon vị mỗi ngày khi mà giá của Y là 5 $ và nhu cầu này tăng lên 220 khi giá của Y là 6$ Khi đó độ

co giãn chéo giữa X và Y là:

Exy = (220-200) / 200 X 5 /1 = 0,5

<=> X và Y là hai sản phẩm thay thế

2 CUNG

2.1 Các khái niệm về cung

• Cung thị trường (Supply): mô tả lượng sản phẩm mà người bán muốn bán và có khả năng bán ở mọi mức giá trong khỏang thời gian nhất định (các yếu tố khác không đổi)

Trang 33

Là sự mô tả cung về hàng hoá trong mối tương quan vói giá cả của

nó trên đồ thị với trục tung biểu thị giá cả của hàng hoá (P) còn trục hoành biểu thị lượng cung về hàng hoá (Q) (các yếu tố khác không đổi)

Không giống như đường cầu, đường cung có khuynh hướng đi lên

Có lẽ dễ dàng giải thích điều này, khi mức giá của một sản phẩm nào đó tăng lên, nhà sản xuất có khuynh hướng đầu tư sản xuất nhiều hơn, điều

đó làm tăng sản lượng cung ứng ra thị trường khi mức giá tăng lên

Đường cung được vẽ từ biểu cung, từ hàm số cung

• Hàm số cung có dạng tổng quát (trường họp đơn giản nhất) p =

aQ + b (với a > 0)

• Quy luật cung

Giá cả và số lượng cung có quan hệ đồng biến Khi các yếu tố khác không đổi,

Giá cả hàng hoá tăng, cung tăng

Giá cả hàng hoá giảm, cung giảm

Tại sao giá cao hơn lại dẫn đến cung cao hơn và ngược lại Câu trả lời đó là do lợi nhuận Nếu như giá của các yếu tố đầu vào dung để sản xuất ra hàng hóa không đổi thì giá hàng hóa cao hơn có nghía là lợi nhuận cao hơn và ngược lại

2.2 Những yếu tố làm thay đổi đường cung

- Sự di chuyến trên đường cung: Các nhà sản xuất sẽ cung ứng sản

lượng ở các mức giá khác nhau, do đó, có sự di chuyển trên đương (trượt trên đường cung)

- Sự dịch chuyển đường cung: Ngoài giá của bản thân hàng hóa còn

có nhiều yếu tố khác xác định hoặc dịch vụ; các yếu tố cơ bản là:

Trang 34

'C Công nghệ sản xuất thay đổi,

Công nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất, giảm chi phí lao động trong quá trình sản xuất Sự cải tiến công nghệ làm cho đường cung dịch chuyển sang bên phải, nghĩa là làm tăng khả năng cung lên

V Giá cả các yếu tổ đầu vào sản xuất thay đổi (chi phí sản xuất).

Các nhà sản xuất có mục tiêu là lợi nhuận Khi chi phí sản xuất giảm sẽ dẫn đến giá thành sản xuất giảm có nghĩa là cơ hội tìm kiếm lợi nhuận sẽ cao lên

V Các tác động từ phía chính phủ (chính sách thuế, các luật

định )

■C Sổ lượng người sản xuất.

c Kỳ vọng: mong đợi về sự thay đổi giá cả, chính sách

thuế

2.3 Sự co giãn của cung (elasticity of supply)

Một đường cung không co giãn hoàn toàn là đường thẳng đứng, song song với trục tung Giá co giãn của cung băng 0 khi cung không co giãn hoàn toàn Với những giá cao hơn một ngưỡng cụ thể, đường cunẸ không co giãn hoàn toàn'với một số hàng hoá chỉ có một số lượng cổ định Điều này cũng đúng với những hàng hóa dễ bị hỏng cần phải bán trong ngày trên thị trường Chẳng hạn, một người câu cá không có thiết

bị cất giữ phải bán tất cả số cá bắt được vào cuối ngày với bất kỳ mức giá nào Có thể thấy rằng đường cung không co giãn hoàn toàn rất hiếm, vì nếu giá quá thấp thì người sản xuất sẽ không chịu bán Theo ví dụ trên, ví như người bán cá không có thiết bị cất giữ cá, cuối ngày, giá nào cũng phải bán Đúng với một giá tương đôi thôi Nêu như bạn đòi mua 1 kilô

cá với giá 500 đồng VN, thì chắc chắn người bán cá thà đem về cho mèo

ăn, hoặc vứt nó đi còn sướng hơn tốn công cân đo và gói cá cho bạn)

Sự co giãn của cung là mức độ biến đổi lượng của một hàng hoá cung ứng ra thị trường trước mức độ biến đổi của giá cả hàng hoá đó Người ta đo lường sự co giãn của cung bằng hệ số co giãn của cung

Trang 35

Lưu ý dấu giá trị tuyệt đối không được sử dụng khi tính giá co giãn của cung dó chúng ta không dự tính quan sát một đường cung dốc xuống.

3 CÂN BẰNG CUNG, CẦU TRÊN THỊ TRƯỜNG

3.1 Sự hình thành điểm cân bằng cung cầu

Cân bằng cung, cầu trên thị trường là trạng thái lượng cung và lượng cầu bằng nhau tại một mức giá nào đó Trên đô thị, đường cung căt đường cầu tại một điểm gọi là điểm cân băng, diêm này xác định lượng cân bàng và giá cả cân bằng cung cầu

Ví dụ: Cung cầu về giày da ở Thành phố Hồ Chí Minh 1996

( 1 0 0 0 đôi/tháng) (iooođ/đôi) ( 1 0 0 0 đôi/tháng)

Cân bằng cung cầu trên thị trường

Với các mức giá p > 60, mức cung (Qs) lớn hơn mức cầu (Qd ) sẽ

có sự dư thừa sản phâm trên thị trường Ngược lại, nếu mức giá p < 60 mức cầu lớn hơn mức cung, sản phẩm thiếu

3.2 Chuyển dịch của điểm cân bằng

Cung và cầu quyết định số lượng hàng hoá và giá cả cân bằng trên thị trường Vì vậy, khi cung, cầu thay đổi thì giá cả và sản lượng cân bằng trên thị trường thay đổi: Ba trường hợp:

Trang 36

Giá cà

Q (Số lượng)

Qi Qs

Hình 3,6a: Thay đôi về phía cung,

phía cầu,cầu không đổi

Hình 3.6 c: Cả cung và cầu cùng thay đổi.

s không đổi s tăng s giảm

D không đổi p và Q giữ nguyên p giảm, Q tăng p tăng, Q giảm

D tăng p tăng Q tăng p không rõ Q

tăng

p tăng Q không rõ

D giảm p giảm Q giảm p giảm Q không

p không rõ Q giảm

3.3 Sự vận dụng

a Kiểm soát giá cả

Đôi khi chúng ta thấy chính phủ thường cố gắng kiểm soát và điều tiết giá cả thị trường Tuy nhiên, việc định giá thường không phù hợp với điều kiện khách quan và làm giảm tính hiệu quả của thị trường

Trang 37

Mức giá tối đa - Giá trần (Price cellings) là giới hạn của giá cả, là

mức giá cao nhất mà nhà nước ấn định, buộc những người bán phải tuân thủ Mục tiêu của giá tối đa là giảm giá cho người tiêu dùng, nó thường được ấn định cho các loại hàng hoá thiết yếu trong thời kỳ khan hiêm

Mức giá trần khi được kiểm soát thường gây ra hiện tượng thiếu hụt trên thị trường và làm giảm chất lượng hàng hóa và dịch vụ, bảo vệ người tiêu dùng, phân phối lại thu nhập, ổn định thị trường

Mức giá tối thiểu - Giá sàn (Price Floors) là mức giá thấp nhất mà

nhà nước ấn định buộc những người mua phải tuân thủ Mục tiêu của giá tối thiểu là hỗ trợ người bán, nó thường được áp dụng cho hàng hoá nông phẩm, hay hàng hoá sức lao động

Mức giá sàn khi được kiểm soát thường gây ra hiện tượng dư thừa trên thị trường (do cầu lớn hơn cung), hỗ trợ nông dân, hỗ trợ nhà sản xuất

Hình 3.7: Giá trần và giá sàn Q

b Kiểm soát cung cầu

Kiểm soát cung cầu là một hướng vận dụng khác mà các nhà nước áp dụng nhăm các mục tiêu như: bảo hộ hàng hoá trong nước, khuyến khích xuất khẩu, thực hành tiết kiệm, tiêu dùng thông qua chính sách thuế và can thiệp bằng giá cả

Đánh thuế, hay trợ cấp trên một đơn vị hàng hóa, là một hình thức phân phôi lại thu nhập, hạn chế sản xuất hay tiêu dùnệ của một lọai hàng hóa dịch vụ nào đó Ta có thể xem tác động của thue đến cung cầu qua

đô thị sau:

Trang 38

Hình 3.8: Chính phủ kiểm soát cung cầu bằng thuế

Giả sử khi chính phủ đánh thuế t đồng trên một đon vị sản phẩm bán ra, người bán muốn bán với mức giá tăng lên t đồng Lúc đó, đường cung dịch chuyển lên trên, trong khi đường cầu không đổi Giá cân bằng cao hon có nghĩa là người sản xuất chuyển một phần thuế sang người tiêu dùng(khoản E2A) Tuy nhiên, người sản xuât vân phải chịu một khoản thuế là (t - E2A) Phần thuế ai chịu nhiều hon còn phụ thuộc vào sự co giãn của cầu về hàng hóa

- Nếu đường cầu hoàn toàn co giãn theo giá thì người sản xuất phải gánh chịu toàn bộ khoản thuế

- Nếu đường cầu hoàn toàn không co giãn theo giá thì người tiêu dùng phải gánh chịu toàn bộ khoản thuế

Đối vói chính sách trợ cấp ta có thể xem đây là một khỏan thuế âm

và tác động ngược lại với trường hợp đánh thuế

Trang 39

là phân tích hành vi lựa chọn tiêu dùng tối ưu của người tiêu dùng Dựa trên những lý thuyết và mô hình, chúng ta sẽ giải thích cách thức lựa chọn tiêu dùng tối ưu trên cơ sở xem xét sự tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan (sở thích, thị hiếu, giá cả, thu nhập ) đến hành vi tiêu dùng Tiêu dùng tối ưu cũng chính là tiêu dùng hợp lý hay còn được gọi là cân bằng tiêu dùng.

1 LÝ THUYÉT VÈ HÀNH VI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG

1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của người tiêu dùng

Mỗi chúng ta khi lựa chọn hàng hóa dựa trên các sự ràng buộc bởi

các yếu tố cơ bản nào? Một là, chúng ta chỉ mua những hàng hóa mà

chúng ta thích, sở thích này xếp loại hàng hóa theo mức thỏa mãn mà

chúng đem lại; Hai là, sự lựa chọn của chúng ta phụ thuộc vào khả năng

mua được hàng hóa được quy định bởi thu nhập có được của người tiêu

dùng và giá cả trên thị trường của hàng hóa; Thứ ba, với khả năng thu

nhập có hạn trong khi chúng ta lại cân đên nhiêu loại hàng hóa, chúng ta

sẽ chọn mua những tập hợp hàng hóa sao cho tông lợi ích là tôi đa Như vậy, có bốn yếu tố cơ bản liên quan đến hành vi tiêu dùng là:

- Thu nhập của người tiêu dùng

- Giá cả của hàng hóa

- Sở thích của người tiêu dùng

- Giả định người tiêu dùng luôn hành động để đem lại lợi ích tối đa cho bản thân họ

Lý thuyết về sự lựa chọn của người tiêu dùng góp phần giải thích việc người tiêu dùng làm thế nào để dung hòa giữa những cái mà họ muốn (sở thích, khẩu vị ) và những cái mà thị trường cho phép, tùy thuộc vào thu nhập của họ và giả cả các loại hàng hóa trên thị trường

Trang 40

1.2 Môt số khái niệm cơ bản

• Lọi ích (hay hữu dụng), kí hiệu u - Utìlity: Lợi ích là một khái

niệm trừu tượng của kinh tế học Lợi ích dùng để chỉ sự như ý, sự hài lòng, sự thích thú hay sự thoả mãn chủ quan nào đó của người tiêu dùng khi người tiêu dùng tiêu dùng hàng hóa hay dịch vụ mang lại.

Ví dự Một người tiêu dùng nào đó ăn để đạt được sự ngon miệng

và no bụng hay nghe nhạc để đạt được sự khoan khoái và thư giãn Như vậy cảm giác ngon, no, hết khát hay sự thoải mái, khoan khoái, thư giãn được coi là lợi ích hay hữu dụng của người tiêu dùng, lợi ích hay hữu dụng của người tiêu dùng chỉ có được khi người tiêu dùng tiêu dùng hàng hóa hay dịch vụ

Tuy nhiên, lợi ích là một khái niệm rất khó lượng hóa Giả sử lợi ích là đo được, ta thường đo lường lợi ích qua giá mà người tiêu dùng săn sàng trả cho sản phẩm chứ không phải là giá thị trường của sản phẩm Khi hài lòng về một loại hàng hóa nào đó người ta sẵn sàng trả giá cao và ngược lại Hay nói cách khác, lợi ích và sự sẵn sàng trả giá của người tiêu dùng có quan hệ tỉ lệ thuận

• Tỏng lọi ích (hay tổng hữu dụng), kí hiệu TU - Total Utilừy: là

toàn bộ sự như ý, sự hài lòng, sự thích thú hay sự thoả mãn chủ quan nào

đó của người tiêu dùng khi người tiêu dùng sử dụng sổ lượng hàng hóa hay dịch vụ trong một đcm vị thời gian nào đó.

Như vậy, tương tự như lợi ích, nếu tổng lợi ích được lượng hóa, ta

sẽ đo lường lợi ích qua tổng giá cả mà người tiêu dùng sẵn sàng trả cho

sô lượng các hàng hóa hay dịch vụ

Lợi ích hay tổng lợi ích (tính cho việc tiêu dùng nhiều loại sản phàm) có thê khái quát hóa dưới dạng hàm số toán học gọi là hàm lợi ích haỵ hàm tônẹ lợi ích Hàm lợi ích có thể là hàm một biến hoặc hàm nhiều biên Mỗi biển số biểu thị cho một loại hàng hóa cụ thể nào đó trong tiêu dùng của người tiêu dùng, chảng hạn:

TU = f(X) là hàm TƯ có một biến X, trong đó X là loại sản phẩm X

TU = f(X,Y) là hàm TU có hai biến X, Y, trong đó X, Y là loại sản phẩm X, Y

TU = f(X, Y, z ): hàm TU có nhiều hơn hai biến Trong đó X, Y,

z là loại sản phâm X, Y, z

Công thức tính:

Đối với một hàng hóa hoặc dịch vụ: TUj = Ui

46

Ngày đăng: 08/11/2022, 23:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS Dưong Tấn Diệp, Kinh tế học vĩ mô, NXB Thống kê, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học vĩ mô
Tác giả: TS Dưông Tấn Diệp
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
2. PGS.TS. Lê Thế Giói, Kinh tế vi mô, NXB. Tài chính, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vi mô
Tác giả: Lê Thế Giói
Nhà XB: NXB. Tài chính
Năm: 2006
3. Michel HerLand, cẩm nang tự học kinh tế học vĩ mô, NXB Giáo dục, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: cẩm nang tự học kinh tế học vĩ mô
Tác giả: Michel HerLand
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
4. N. Gregory Mankiw, Nguyên lý Kinh tế học, NXB. Thống kê, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý Kinh tế học
Tác giả: N. Gregory Mankiw
Nhà XB: NXB. Thống kê
Năm: 2003
5. PGS.TS Lê Bảo Lâm - TS Nguyễn Như Ý - TS Trần Thị Bích Dung - TS Trần Bá Thọ, Kinh tế vi mô, NXB Lao động.- Xã hội. 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vi mô
Nhà XB: NXB Lao động.- Xã hội. 2007
6. Paul A. Samuelson, William D. Nordhaus, Kinh tế học, NXB Chỉnh trị Quốc gia, HN 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học
Tác giả: Paul A. Samuelson, William D. Nordhaus
Nhà XB: NXB Chỉnh trị Quốc gia
Năm: 1997
7. Đinh Đăng Quang, Kinh tế học cho kỹ sư kinh tế, NXB Xây dựng, HN 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học cho kỹ sư kinh tế
Tác giả: Đinh Đăng Quang
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2001
8. TS. Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư - TS Phan Nữ Thanh Thủy, Kinh tế vĩ mo, NXB Phương Đông, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vĩ mô
Tác giả: TS. Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư, TS Phan Nữ Thanh Thủy
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2006
9. TS. Trần Đăng Thịnh, Giáo trình Kinh tế học đại cương, NXB Đại học Quốc gia TPHCM, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học đại cương
Tác giả: Trần Đăng Thịnh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TPHCM
Năm: 2009

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm