Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời. Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp. Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HOA SEN
NHÓM 3
PHẬT GIÁO ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA
CON NGƯỜI VIỆT NAM.
BÀI BÁO CÁO
TP HỒ CHÍ MINH, 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HOA SEN
NHÓM 3
PHẬT GIÁO ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA
CON NGƯỜI VIỆT NAM
Môn: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Lớp: 1783
BÀI BÁO CÁO
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GV ThS Phạm Thị Ngọc Anh
TP.HỒ CHÍ MINH, 2022
Trang 3MỤC LỤC MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 4
MỞ ĐẦU 6
NỘI DUNG 7
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ PHẬT GIÁO 7
1.1 Nguồn gốc ra đời 7
1.2 Sự truyền bá Phật giáo trên Thế giới 9
1.3 Sự phát triển Phật giáo ở Việt Nam 12
1.3.1 Từ khi Phật giáo du nhập vào cho đến thế kỷ X 13
1.3.2 Phật giáo thời Đinh - Lê - Lý - Trần (thế kỷ X đến thế kỷ XV)14 1.3.3 Phật giáo thời Lê Sơ đến nhà Nguyễn (XV-XX) 15
1.3.4 Phật giáo từ thế kỷ XX đến hiện nay hiện nay 15
PHẦN 2: PHẬT GIÁO ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM 18
2.1 Phật giáo ảnh hưởng đến đời sống của con người Việt Nam hiện nay 18
2.1.1 Phật giáo đã góp phần hình thành lối sống của con người Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện nay 19
2.1.2 Cách thức giao tiếp, ứng xử của người Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các quan niệm của Phật giáo 19
2.1.3 Phật giáo còn in đậm dấu ấn của mình trong phong tục, tập quán của người dân Việt Nam 20
2.2 Mặt hạn chế của Phật giáo Việt Nam 22
2.3 Cảm nhận sự ảnh hưởng của Phật giáo đén giới trẻ hiện nay 23
KẾT LUẬN 27
DANH MỤC TÀI TIỆU THAM KHẢO 29
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể mang đến ngày hôm nay bài viết “Phật giáo ảnh hưởng đến đời sống của con người Việt Nam” Nhóm chúng em đã nhận được rất nhiều đóng góp cũng như những dữ liệu bổ ích từ rất nhiều phương diện khác nhau
Lời đầu tiên, xin cho nhóm chúng em được gửi đây một lời cảm ơn chân thành nhất đến cô Phạm Thị Ngọc Anh – Giảng viên trường Đại học Hoa Sen – Người đã luôn hết lòng hướng dẫn và hỗ trợ cho chúng em có thể hoàn thành được bài viết một cách tốt nhất Do chưa có nhiều kinh nghiệm làm đề tài cũng như hạn chế về kiến thức, trong bài thu hoạch này chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự nhận xét, ý kiến đóng góp, phê bình từ phía cô để bài thu hoạch được hoàn thiện hơn
Bên cạnh đó cũng không thể không nhắc đến Ban giám hiệu trường Đại học Hoa Sen, đã tạo điều kiện cho chúng em đến tham quan Bảo tàng lịch sử Thành Phố
Hồ Chí Minh để có thể thu thập thông tin và hình ảnh phù hợp với đề tài
Lời cuối cùng, nhóm em kính chúc cô nhiều sức khỏe, thành công và hạnh phúc
Trang 5Hình 1: Nhóm 3 tại Bảo tàng lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 6MỞ ĐẦU
Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượng phật tử đông đảo được phân bố rộng khắp Đạo Phật được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người Việt Nam
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận của chúng ta nhưng bên cạnh đó,
bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống dai dẳng, trong đó giáo
lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng tình cảm của một số bộ phận lớn dân cư Việt Nam Việc xóa bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó là không thể thực hiện được nên chúng ta cần vận dụng nó một cách hợp lý để góp phần đạt được mục đích của thời
kỳ quá độ cũng như sau này Hơn nữa quá trình, Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của con người Vì vậy khi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng, đạo đức Việt Nam không thể không
đề cập đến Phật giáo và những mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng Tóm lại, nghiên cứu Phật giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống và con người Việt Nam là một nội dung quan trọng nhằm tìm hiểu lịch sử cũng như định hướng cho sự phát triển nhân cách, tư duy con người Việt Nam trong tương lai
Trang 7NỘI DUNG PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ PHẬT GIÁO
bá của minh, đạo Phật đã kết hợp với tín ngưỡng, tập tục, dân gian, văn hoá bản địa
để hình thành rất nhiều tông phái và học phái, có tác động vô cùng quan trọng với đời sống xã hội và văn hoá của rất nhiều quốc gia Buddha vốn là một thái tử tên là Tất Đạt Đa ( Siddharta), con trai của Trịnh Phạn Vương ( Suddhodana) vua nước Trịnh Phạn, một nước nhỏ thuộc Bắc ấn Độ ( nay thuộc đất Nepal ) ông sinh ra vào khoảng năm 623 trước công nguyên
Hình 2: Tượng Sư Tổ
Trang 8Cuộc đời của Phật Thích Ca được kể lại ở trong truyền thuyết như sau:
“ Vào một đêm Mahamaia, người vợ chính của Suddhodana, Vua của người Saia mơ thấy mình được đưa tới hồ thiêng Anavatapta ở Himalaya Sau khi các thiên thần tắm rửa cho bà ở trong hồ thiêng, thì có một con voi trắng khổng lồ có đoá hoa sen ở vòi bước tới và chui vào sườn bà Ngày hôm sau các nhà thông thái được mời tới để giải mơ của Hoàng hậu Các nhà thông thái cho rằng giấc mơ là điềm Hoàng hậu đang có mang và sẽ sinh hạ được một Hoàng tử tuyệt vời, người sau này sẽ trở thành vị chúa tể của thế giới hoặc người thầy của thế giới Đến ngày, đến tháng, Hoàng hậu Mahamaia trở về nhà cha mình để sinh con Thế nhưng vừa đến khu vườn Lumbini, cách thủ đô Kapilavastu của người Sakia không xa, Hoàng hậu trở dạ và
vị Hoàng tử đã ra đời Vừa ra đời, vị Hoàng tử tí hon đã đứng ngay dậy, đi bảy bước
và nói: “ Đây là kiếp cuối cùng của ta, từ nay ta không phải luôn hồi một kiếp nào nữa!”
Để ngăn cản Hoàng tử không nghĩ tới việc tu hành, đức vua cha đã tìm mọi cách tạo ra quanh người con trai mình một cuộc sống vương giả Lần đó, Hoàng tử nhìn thấy một vị hành khất dáng vẻ bần hàn nhưng lại ung dung tự tại Vừa nhìn thấy
vị hành khất Hoàng tử như bừng tỉnh và quyết định sẽ ra đi trở thành nhà hành khất như thế Rời hoàng cung, dứt áo ra đi, Hoàng tử Siddhartha đã trở thành nhà tu hành Thoạt đầu, Hoàng tử đi lang thang đây đó, sống theo kiểu khổ hạnh Sau đó, ngài vào rừng tu Nhà hiền triết Alara Calama dạy cho chàng các phép thiền định và những triết lý của Upanishad Học thuyết và thực hành giải thoát cá nhân của Upanishad không hấp dẫn Hoàng tử Chàng đi tiếp và nhập vào nhóm năm người tu khổ hạnh Suốt sáu năm trường ép xác Hoàng tử gần như chỉ còn bộ xương khô mà vẫn chưa tìm ra chân lý của sự giải thoát Ngài bèn bỏ cuộc sống tu hành khổ hạnh
và trở lại ăn uống bình thường Khi Hoàng tử Siddhartha 35 tuổi, một hôm ngài đến ngồi dưới gốc cây bồ đề ở ngoại vi thành phố Gaia thuộc vùng đất của vua Bimbisara,
Trang 9vua nước Magadha Ngài ngồi thiền định và nguyện sẽ không đứng dậy nếu không tìm ra sự giải thoát về điều bí ẩn của sự đau khổ Hoàng tử đã ngồi dưới gốc cây bồ
đề suốt 49 ngày đêm- 7 tuần lễ đó là cả một chuỗi ngày đầy thử thách Siddhartha đã hoàn toàn giác ngộ và trở thành Buddha (Đấng giác ngộ) Sau khi giác ngộ, Đức Phật còn ngồi tiếp bảy ngày nữa dưới cây bồ đề suy ngẫm về những chân lý diệu kỳ
mà mình đã khám phá Ngài phân vân không biết có nên phổ biến đạo pháp của mình cho thế giới không vì có huyền diệu quá khó hiểu quá đối với mọi người Chính thượng đế Brahma phải giáng trần để khích lệ Đức phật truyền bá đạo pháp của mình cho thế gian Chỉ khi đó Phật mới rời khỏi gốc cây bồ đề đi đến khu vườn Lộc Uyển
ở Varanasi để giảng bài thuyết pháp đầu tiên cho năm người bạn tu khổ hạnh của mình Giáo pháp mới của Đạo phật đã gây ấn tượng mạnh đối với năm nhà tu, họ nhanh chóng trở thành những môn đồ đầu tiên của Đức Phật Vài ngày sau số môn
đồ của Phật đã tăng lên 60 người, theo thời gian số môn đồ Đạo Phật ngày càng tăng
và các tổ chức tăng gia đã ra đời Đến năm 80 tuổi, biết mình tuổi cao, sức yếu, Đức Phật cùng các môn đồ trở về chân núi Himalaya nơi ngài sinh ra và lớn lên Trên đường Phật đã chuẩn bị mọi thứ cho các môn đồ để họ có thể tự lập được sau khi ngày viên tịch Và, tại một nơi thuộc ngoại vi thành phố Kushinagar, Phật đã ra đi Câu nói cuối cùng của Phật là: “ Hỡi các tỳ kheo tất cả những gì đang tồn tại rồi sẽ qua đi Vậy các người càng không nên ngừng gắng sức!”
1.2 Sự truyền bá Phật giáo trên Thế giới
Trước khi Thích ca Mâu Ni tạ thế, các khu vực truyền bá đạo Phật chủ yếu ở miền Trung lưu vực Sông Hằng, đặc biệt xung quanh các khu vực thành phố lớn mới nổi lên Sau khi ngài tạ thế, các thế kỷ trực tuyến của ngài đã đem đạo Phật mở rộng đến hạ lưu sông Hằng về phía Đông, phía Nam đến bờ sông Cadaveri, phía Tây đến
bờ biển Ả Rập, phía Bắc tới khu vực Thaiy Siro Ở thời kỳ thống trị của vua A Sô
Ca thuộc vương triều Maurya, đạo Phật bắt đầu phát triển tới các vùng biển của Đại
Trang 10lục, Đông tới Myanmar, Nam tới Sri Lanka, Tây tới Syria, Ai Cập Nhanh chóng trở thành tôn giáo mang tính thế giới
Hình 3: Tượng Phật ở các nước Đông Nam Á
Sau khi vương triều Casan (Kushan) hưng khởi lại truyền tới Iran, các nơi ở trung tâm Châu Á, rồi qua con đường tơ lụa truyền vào Trung Quốc Các nơi khác: Mấy năm gần đây ở một số nước như: Italia, Thụy Sỹ, Thụy Điển
Trang 11Hình 4: Tượng Phật ở Trung Quốc và Nhật Bản
Trang 12Việc nghiên cứu Đạo Phật cũng rất sôi nổi, đã xây dựng nên không ít cơ sở nghiên cứu Phật giáo và trung tâm nghiên cứu Phật học Ví dụ sở nghiên cứu Trung Đông, Viễn Đông Italia, dưới sự chủ trì của Đỗ Kỳ đã biên tập và xuất bản “ Tư sách
La mã với Đông Phương” ( Đến năm 1977 đã xuất bản được 51 loại ) trong đó bao gồm rất nhiều trước tác phẩm Phật giáo
1.3 Sự phát triển Phật giáo ở Việt Nam
Hình 5: Tượng Phật Việt Nam
Trang 131.3.1 Từ khi Phật giáo du nhập vào cho đến thế kỷ X
Theo các nghiên cứu lịch sử thì Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, khoảng những năm đầu công nguyên Chính sử của Trung Quốc cũng đã ghi nhận rằng, vào những năm đầu Công nguyên, trong khi miền Nam Trung Quốc chưa có đạo Phật thì ở Kinh đô Giao Chỉ nước Việt đã có một trung tâm Phật giáo và Phật học khá phồn thịnh
Đến thế kỷ V, Phật giáo đã được truyền đến nhiều nơi trên đất nước và đã xuất
hiện những nhà sư Việt Nam có nhiều danh tiếng như: Huệ Thắng (học trò của Đạt
Ma Đề Bà) Tuy nhiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam thì từ thế kỷ thứ VI cho đến
thế kỷ X vẫn được xem là giai đoạn truyền giáo của đạo Phật, song giai đoạn này các nhà truyền giáo của Ấn Độ bắt đầu giảm dần và các nhà truyền giáo của Trung Quốc bắt đầu tăng lên, dẫn theo đó bắt đầu có các phái thiền của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam cụ thể như:
- Phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi: Cuối thời kỳ hậu Lý Nam Đế, khoảng năm 580 một nhà sư Ấn Độ tên Tỳ Ni Đa Lưu Chi - là Tổ thứ ba của phái Thiền Trung Quốc đã vào Việt Nam tu tại chùa Pháp Vân (tỉnh Bắc Ninh) và trở thành vị
Tổ sư của phái Thiền này ở Việt Nam
- Phái Thiền Vô Ngôn Thông: Năm 820, phái Thiền Vô Ngôn Thông truyền vào Việt Nam (Vô Ngôn Thông họ Trịnh - là người Quảng Châu, Trung Quốc,
tu tại chùa Song Lâm, Triết Giang) Năm 820, ông sang tu tại chùa Trấn Quốc (Hà Nội) và trở thành vị tổ sư của phái thiền này ở Việt Nam
Mười thế kỷ đầu Phật giáo truyền bá vào Việt Nam, mặc dù trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược và đô hộ nhưng đạo Phật đã tạo ra được những ảnh hưởng trong nhân dân và có những sự chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới khi đất nước độc lập, tự chủ
Trang 141.3.2 Phật giáo thời Đinh - Lê - Lý - Trần (thế kỷ X đến thế kỷ XV)
Từ thế kỷ X, nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ sau một ngàn năm Bắc thuộc Việc này đã tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển sang một bước mới Dưới hai triều đại Đinh - Lê, tuy không tuyên bố Phật giáo là Quốc đạo nhưng đã công nhận Phật giáo là tôn giáo chính của cả nước Các triều Vua Đinh - Lê có nhiều chính sách nâng đỡ đạo Phật Đặc biệt Vua Lê Đại Hành và Vua Đinh Tiên Hoàng
đã trọng dụng và phong thưởng cho nhiều nhà sư có công giúp Vua lo việc triều chính
Năm 971, Vua Đinh Tiên Hoàng đã triệu tập các vị cao tăng để định rõ phẩm trật cho tăng chúng Thiền sư Ngô Chân Lưu (933-1011), hậu duệ của Ngô Quyền được Đinh Tiên Hoàng tôn làm Khuông Việt Thái sư (khuôn mẫu cho nước Việt) và được phong chức Tăng thống đứng đầu Phật giáo cả nước Đến thời kỳ dưới triều Vua Lê Đại Hành, ngoài các vị cao tăng trên còn có thêm Thiền sư Đỗ Pháp Thuận (915-990) - là người ở đời thứ 10 của phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi được Vua trọng dụng, giúp triều đình trong việc đối nội, đối ngoại
Ở hai triều Đinh - Lê không chỉ trọng dụng các tăng sĩ mà còn hỗ trợ cho Phật giáo phát triển Vua Lê Đại Hành và Đinh Tiên Hoàng đã cho xây dựng nhiều chùa tháp ở vùng Hoa Lư, biến nơi đây không chỉ là một trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội mà còn là một trung tâm Phật giáo lớn của cả nước Tuy nhiên, đến triều nhà Lý thì mới được xem là triều đại Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam vì Lý Công Uẩn - Lý Thái Tổ xuất thân từ chốn thiền môn, nên ông hết lòng ủng hộ cho Phật giáo Dưới triều nhà Trần, Phật giáo Việt Nam phát triển tới mức cực thịnh và trở thành tôn giáo chính thống của cả nước Vị vua đầu tiên của Triều Trần là vua Trần Thái Tông trong
ba mươi ba năm giữ ngôi (1225-1258), ông vừa trị quốc vừa nghiên cứu Phật giáo
và trở thành người có trình độ Phật học uyên thâm Dưới thời nhà Trần, ngoài Vua
Trang 15Trần Thái Tông thì còn có nhiều vị Vua, quan khác đóng vai trò quan trọng đối với
sự phát triển của đạo Phật được lịch sử ghi nhận và tôn vinh
1.3.3 Phật giáo thời Lê Sơ đến nhà Nguyễn (XV-XX)
Triều Lê Sơ (thế kỷ XV) trở đi, chế độ Phong kiến ở Việt Nam phát triển lên một bước mới, lấy Nho giáo làm chỗ dựa cho tư tưởng chính trị và đạo đức nên Phật giáo từ chỗ phát triển cực thịnh đã suy yếu dần Tuy nhiên với truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc thì Phật giáo vẫn giữ được gốc rễ sâu bền trong lòng nhân dân; đồng thời với thái độ khoan dung, Phật giáo đã làm cho tư tưởng Tam giáo (Phật, Lão, Nho) vốn có từ trước bắt đầu mang một sắc thái mới
Thời kỳ Nam - Bắc triều, khi chúa Trịnh ở đàng ngoài, chúa Nguyễn ở đàng trong, Phật giáo có sự khởi sắc trở lại khi các Chúa Trịnh, Nguyễn đều tạo điều kiện cho việc tôn tạo, sửa chữa chùa chiền Trong giai đoạn này có nhiều chùa được Chúa Trịnh, Nguyễn cho xây dựng như: chùa Phúc Long (xây năm 1618), chùa Thiền Tây
ở Vĩnh Phúc (xây năm 1727), chùa Thiên Mụ ở Huế (xây năm 1601) Cũng thời kỳ này, ở Việt Nam xuất hiện phái thiền mới là Thiền Tào Động ở đàng ngoài và Thiền Lâm tế ở Đàng trong
1.3.4 Phật giáo từ thế kỷ XX đến hiện nay hiện nay
Phật giáo Việt Nam đã suy dưới triều Lê Sơ, sau này đôi lúc có sự khôi phục song không còn thịnh vượng như trước Phật giáo Việt Nam vẫn tiếp tục suy cho đến những năm ba mươi của thế kỷ XX mới bắt đầu có sự khởi sắc trở lại bởi phong trào Chấn hưng Phật giáo
Đầu thế kỷ XX, phong trào Chấn hưng Phật giáo không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà còn diễn ra ở nhiều nước Phong trào Chấn hưng Phật giáo kéo dài đến năm
1950 đã đưa lại những kết quả hết sức quan trọng đó là:-
Trang 16- Đưa Phật giáo đi vào hoạt động có tổ chức; khác với sự rời rạc lỏng lẻo trước
đó Một loạt tổ chức Phật giáo ra đời ở 03 miền nhưng trong giai đoạn này có
06 tổ chức quan trọng của tăng, ni, cư sĩ đó là:
Miền Nam có 02 tổ chức, trong đó: Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học do Hòa thượng Khánh Hòa lập vào năm 1930 và Hội Tăng già Việt Nam được lập vào tháng 6/1951
Ở miền Trung có 02 tổ chức, trong đó: An Nam Phật học hội do Cư sĩ Lê Đình Thám lập năm 1932 và Hội Tăng già Trung Việt lập năm 1949
Ở miền Bắc có 02 tổ chức, trong đó: Hội Phật giáo Bắc Kỳ do cư sĩ Nguyễn Năng Quốc lập năm 1934 và Hội chỉnh lý Tăng ni Bắc Việt do Thượng tọa Tố Liên thành lập năm 1949
- Sự kiện quan trọng nữa trong lịch sử Phật giáo Việt Nam và cũng là kết quả của Phong trào Chấn hưng Phật giáo đó là năm 1951, tại Huế, các tổ chức Phật giáo nói trên đã họp lại để lập ra Tổng hội Phật giáo Việt Nam Đây được coi là một cuộc vận động thống nhất Phật giáo đầu tiên về mặt tổ chức của Phật giáo Việt Nam ở thế kỷ XX
Năm 1954, khi đất nước bị chi cắt thành 02 miền thì tình hình Phật giáo ở 02 miền cũng bắt đầu có sự khác nhau:
- Miền Bắc, sau khi ra đời, Hội Phật giáo Thống Nhất Việt Nam vừa hoạt động tôn giáo vừa hoạt động xã hội, tham gia tích cực các phong trào thi đua yêu nước Đặc biệt Hội Phật giáo Thống Nhất Việt Nam đã động viên tín đồ, tăng
ni ủng hộ, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
- Miền Nam, những năm 1954-1975, tình hình Phật giáo có những diễn biến phức tạp, đáng chú ý là có sự ra đời của nhiều tổ chức, hệ phái Giáo hội Phật