1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ (giáo trình nội bộ

181 9 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích Môn học Nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ giúp sinh viên nắm được những kiến thức cơ bản về công tác tổ chức, cán bộ của Đảng như: Xây dựng được quy chế hoạt động của một tổ

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

- -

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ NĂM 2017

Trang 2

TẬP THỂ TÁC GIẢ

1.TS Lê Văn Hội - Chủ nhiệm

2 PGS,TS Nguyễn Văn Giang

3 PGS,TS Đinh Ngọc Giang

4 PGS,TS Trần Khắc Việt

5 PGS,TS Lâm Quốc Tuấn

Trang 3

Đề cương chi tiết học phần 1

Chương 1: Nhập môn và khái lược về nghiệp vụ công tác….

II Khái lược về nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ 15

Chương 2: Xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức

I Nhận thức chung về quy chế hoạt động của tổ chức 21

III Quy trình xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức 32

Chương 3: Sinh hoạt chi bộ, đảng bộ

Chương 4 Tổ chức sinh hoạt và đại hội tổ chức chính trị - xã hội

Chương 5 Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ

Chương 6 Công tác quy hoạch, luân chuyển, điều động và

Chương 7 Công tác quản lý, đánh giá cán bộ

Danh mục tài liệu tham khảo 171

Trang 5

NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC TỔ CHỨC, CÁN BỘ

1 Tên học phần: Nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ

Đơn vị phụ trách: Khoa Xây dựng Đảng, Học viện Báo chí và Tuyên

tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng, đánh giá phân loại tổ chức cơ sở đảng,

tổ chức đại hội chi bộ, đảng bộ; Thực hành nghiệp vụ công tác cán bộ như: Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ; công tác quy hoạch, luân chuyển, điều động và bổ nhiệm cán bộ; công tác quản lý, đánh giá cán bộ

6 Mục đích

Môn học Nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ giúp sinh viên nắm được

những kiến thức cơ bản về công tác tổ chức, cán bộ của Đảng như: Xây dựng được quy chế hoạt động của một tổ chức; Tổ chức sinh hoạt chi bộ, đảng bộ tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng; Đánh giá, phân loại tổ chức cơ sở đảng; Tổ chức đại hội chi bộ, đảng bộ; Tổ chức sinh hoạt và đại hội đoàn thể chính trị - xã hội; Ra nghị quyết và; Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ; Công tác quy hoạch, luân chuyển, điều động và bổ nhiệm cán bộ; Công tác quản lý, đánh giá cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Rèn luyện cho sinh viên một số kỹ năng về tổ chức và công tác tổ chức, công tác cán bộ của Đảng nhằm nâng cao năng lực tham mưu giúp cho cấp ủy, ban thường vụ và thường trực cấp ủy về công tác tổ chức, công tác cán bộ của

Trang 6

nước và các đoàn thể chính trị- xã hội trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước Trên cơ sở đó, hình thành cho

người học kỹ năng phân tích, tổng hợp và khả năng vận dụng những hiểu biết

của mình vào thực hiện công tác tổ chức, cán bộ hiện nay

7 Yêu cầu

Sau khi học xong môn học, người học có thể:

+ Nắm được nội dung và kỹ năng có thể xây dựng được quy chế hoạt động của một tổ chức

+ Nắm được nội dung cơ bản của việc đánh giá, phân loại tổ chức cơ sở đảng

+ Nắm được và có thể thực hành tổ chức sinh hoạt chi bộ, đảng bộ

+ Hiểu và thực hành được tổ chức đại hội chi bộ, đảng bộ

+ Nắm được tổ chức sinh hoạt và đại hội đoàn thể chính trị - xã hội;

+ Hiểu và thực hành được quy trình ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng

+ Nắm được những kiến thức cơ bản về xây dựng tiêu chuẩn cán bộ

+ Nắm được những kỹ năng cơ bản của công tác quy hoạch, luân chuyển, điều động và bổ nhiệm cán bộ

+ Nắm và hiểu được những kiến thức cơ bản về công tác quản lý, đánh giá cán bộ

+ Hiểu, phân tích mục đích, yêu cầu và giải pháp kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác cán bộ

8 Phân bổ thời gian

- Lý thuyết : 40 tiết

- Thực hành : 18 tiết

Trang 7

TT Họ và tên;

học hàm, học vị Cơ quan công tác Chuyên ngành

1 TS Lê Văn Hội Học viện BC&TT Quản lý kinh tế

2 TS Đỗ Minh Tuấn Học viện BC&TT Tư tưởng Hồ Chí Minh

3 ThS Phùng Văn Hải Học viện BC&TT Xây dựng Đảng và Chính

Phân bổ thời gian

Lý thuyết

Thực hành, thảo luận, bài tập

1 Nhập môn và khái lược về nghiệp vụ

2 Xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức 5 3 2

4 Tổ chức sinh hoạt và đại hội tổ chức

6 Công tác quy hoạch, luân chuyển, điều

7 Công tác quản lý, đánh giá cán bộ 7 5 2

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

Lịch sử gần 90 năm lãnh đạo đấu tranh cách mạng của Đảng khẳng định, khi đã có đường lối chính trị đúng đắn thì yếu tố quyết định sự thành bại của cách mạng là công tác tổ chức và cán bộ Mục tiêu, lý tưởng của Đảng trong mọi thời kỳ không thay đổi, nhưng nhiệm vụ của từng thời kỳ lại khác nhau, do đó công tác tổ chức, cán bộ phải luôn đổi mới để đáp ứng yêu cầu của mỗi giai đoạn lịch sử

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin và Đảng ta từ lâu đã khẳng định vị trí, vai trò của tổ chức, cán bộ và công tác tổ chức, cán bộ trong

sự phát triển của xã hội và con người Qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng Nga, V.I.Lênin đã rút ra kết luận: “Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là tổ chức”1

và khi đã giành được chính quyền, toàn bộ nhiệm vụ của đảng cầm quyền là “…tổ chức, tổ chức và

tổ chức”2

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin, trong đó có lĩnh vực hoạt động quan trọng là xây dựng tổ chức và đề ra các giải pháp tổ chức thực hiện phù hợp với truyền thống dân tộc và thực tiễn Việt Nam Trong từng thời kỳ kháng chiến và kiến quốc, xây dựng và phát triển đất nước, ngoài việc đề ra phương hướng, nhiệm

vụ cách mạng đúng đắn, Người và Đảng ta đã dành nhiều công sức cho việc xây dựng Đảng lãnh đạo và các tổ chức quản lý, đoàn thể nhân dân xung quanh Đảng Sau hơn nửa thế kỷ lãnh đạo thành công cách mạng Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã khẳng định: “Tổ chức là một khâu quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng”3

Trang 9

Cùng với việc kiện toàn tổ chức bộ máy, công tác cán bộ luôn được

Đảng ta đặc biệt quan tâm Dù còn những yếu kém nhất định, nhưng chưa bao

giờ đội ngũ cán bộ của cả hệ thống chính trị phát triển khá toàn diện như hiện

nay, nhất là sau Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về Chiến lược cán bộ

thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Xác định cán bộ là

nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị các khóa đã ban hành, chỉ đạo thực hiện nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về cán bộ và công tác cán bộ

Giáo trình đề cương môn học nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ là cuốn giáo trình nằm trong chương trình đào tạo cử nhân Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước ở Khoa Xây dựng Đảng thuộc Học viện Báo chí và Tuyên truyền, được biên soạn để phục vụ công tác giảng dạy và học tập của giáo viên, học viên, sinh viên ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền Cuốn giáo trình nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ gồm 7 chương như sau:

Chương 1: Nhập môn và khái lược về nghiệp vụ công tác tổ chức, cán

bộ

Chương 2: Xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức

Chương 3: Sinh hoạt chi bộ, đảng bộ

Chương 4: Tổ chức sinh hoạt và đại hội tổ chức chính trị - xã hội; Chương 5: Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ

Chương 6: Công tác quy hoạch, luân chuyển, điều động, lựa chọn và bổ

nhiệm cán bộ

Chương 7: Công tác quản lý, đánh giá cán bộ

Đây là tập tài liệu đang trong quá trình nghiên cứu để bổ sung, hoàn thiện nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, các đồng nghiệp, học viên, sinh viên và quý

Trang 10

vị độc giả quan tâm góp ý, đặc biệt là rất mong nhận được những ý kiến đóng của các cán bộ, công chức đã và đang làm công tác tổ chức, cán bộ ở các địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị của Hệ thống chính trị Việt Nam

Xin trân trọng cảm ơn !

Mọi thông tin liên hệ, xin gửi về: TS Lê Văn Hội

Gmail: levanhoi.btctw@gmail.com

Trang 11

Chương 1

NHẬP MÔN VÀ KHÁI LƯỢC VỀ NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC TỔ CHỨC, CÁN BỘ

I NHẬP MÔN NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC TỔ CHỨC, CÁN BỘ

1 Khái niệm, vị trí môn học

1.1 Khái niệm

Hiện nay có nhiều cách tiếp cận khoa học nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ Tùy theo mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu có thể đưa ra những quan niệm, khái niệm khác nhau về nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ trong xây dựng tổ chức hệ thống tổ chức Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội của cả hệ thống chính trị Do đó có thể có những khái niệm, định nghĩa khác nhau về nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ cũng là điều tất yếu

Nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ có nội dung rộng vì nó bao hàm cả công tác tổ chức và công tác cán bộ Công tác tổ chức là cách thức để tổ chức (bao gồm cả con người và chính tổ chức) thích ứng với sự thay đổi Đó là một chiến lược phức tạp hướng đến thay đổi một số tiêu chí cụ thể của tổ chức như hành vi, niềm tin hay cách ứng xử Đó cũng là quá trình làm cho tổ chức

có thể tiếp nhận được những sự thay đổi của công nghệ, thị trường và những thách thức mới Điều mà tổ chức phải làm là tự mình phải vận động, tự bản thân tổ chức phải phân tích và đưa ra cách ứng xử cần thiết nhằm làm cho tổ chức đạt đến sự phù hợp với những gì mà tổ chức đề ra và tồn tại, phát triển lâu dài trong môi trường thị trường đầy biến động

Công tác tổ chức, theo nghĩa rộng là hoạt động xác định mục tiêu, nguyên tắc tổ chức, thiết lập hệ thống tổ chức, cơ chế vận hành của một tổ chức nhất định cùng với việc bố trí, sắp xếp sử dụng con người và các nguồn lực tài chính, phương tiện vật chất, kỹ thuật nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của tổ chức

Trang 12

Nghiệp vụ công tác tổ chức là quá trình vận dụng các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật quy định của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị- xã hội vào quá trình vận hành tổ chức của mình, làm cho tổ chức thích ứng một cách hiệu quả nhất những sự thay đổi của môi trường bên trong

và bên ngoài của tổ chức, nhằm làm cho tổ chức phát triển bền vững, ổn định

cả trước mắt và lâu dài

Nghiệp vụ công tác cán bộ bao hàm nhiều nội dung rất rộng như: tuyển dụng, bố trí cán bộ, thực hiện việc quản lý, sử dụng và phân công, phân cấp quản lý cán bộ; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; nhận xét, đánh giá cán

bộ hằng năm hoặc theo nhiệm kỳ; bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ; khen thưởng, kỷ luật, bãi nhiệm cán bộ; thực hiện chế độ, chính sách cán bộ; kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; giải quyết khiếu nại, tố cáo cán bộ nhằm phát huy năng lực đội ngũ cán bộ theo hướng bố trí số lượng hợp lý, nâng cao

phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ (vừa hồng

vừa chuyên), đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu hoạt động của hệ thống

chính trị trong tình hình mới

Công tác tổ chức, cán bộ là xác định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động, phân công và phối hợp trong mỗi tổ chức cũng như giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị; ban hành các quy định và tổ chức thực hiện việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, quy hoạch, bố trí sử dụng và thực hiện chế độ, chính sách tiền lương, đãi ngộ, khen thưởng,

kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức trong tổ chức

Tóm lại, nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ là tổng hợp các hoạt động liên quan đến công tác tổ chức và công tác cán bộ của những người có thẩm quyền, trách nhiệm đối với tổ chức trong việc thiết kế xây dựng, vận hành tổ chức, lựa chọn, bố trí sử dụng cán bộ vận hành tổ chức theo quy chế sao cho

tổ chức hoạt động có hiệu quả cao và đạt được mục tiêu chung của tổ chức để tồn tại, phát triển lâu dài

Trang 13

Làm được tốt nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ sẽ xây dựng được tổ chức, cơ quan, đơn vị vững mạnh, trong sạch, góp phần tích cực khắc phục những yếu kém trong công tác tổ chức, cán bộ; khắc phục tình trạng sa sút, suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu và những tiêu cực xã hội Thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội thực hiện tốt mục tiêu chung là dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ văn minh đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội

1.2 Vị trí môn học

Môn học nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Đảng về tổ chức, trong đó môn học này đi sâu vào nghiệp vụ công tác tổ chức và nghiệp vụ công tác cán bộ trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác tổ chức và công tác cán

bộ Nhất là đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị- xã hội

Môn học nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ cung cấp cho người học những kỹ năng, nghiệp vụ cơ bản về công tác tổ chức và công tác cán bộ như: Việc thiết kế xây dựng tổ chức mới hoặc điều chỉnh, hoàn thiện tổ chức đang vận hành nhưng có nhiều vấn đề cần phải sắp xếp điều chỉnh, chuyển đổi chức năng, nhiệm vụ hoặc sáp nhập, giải thể tổ chức; xây dựng và thực hiện quy chế hoạt động của tổ chức; vận hành tổ chức thông qua các hoạt động sinh hoạt, hội nghị, đại hội tổ chức; công tác lựa chọn quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; công tác luân chuyển, điều động cán bộ; công tác bổ nhiệm, bố trí sử dụng cán bộ; công tác đánh giá, phân loại tổ chức, cán bộ trong các tổ chức của cả hệ thống chính trị

Công tác tổ chức, cán bộ có vai trò quan trọng trong việc thiết kế hệ thống chính trị nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa tính chính trị và tính khoa

Trang 14

học Tổ chức cán bộ là công tác có quan hệ trực tiếp đối với con người, do đó đòi hỏi phải có sự kết hợp hài hòa giữa tính khoa học và tính nghệ thuật nhằm bảo đảm hiệu quả cao nhất trong thiết kế tổ chức và sử dụng nhân lực Thực tiễn xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị gần 90 năm qua ở nước ta dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, công tác tổ chức, cán bộ

là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng nói riêng và xây dựng hệ thống chính trị nói chung

Kế thừa và phát triển chiều sâu của môn học xây dựng Đảng về tổ chức, môn học nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ là môn học thuộc khoa học chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực khoa học xã hội

và nhân văn Môn học có mối quan hệ chặt chẽ với các môn khoa học xã hội khác như triết học Mác- Lênin, khoa học tổ chức, khoa học lãnh đạo, quản lý, tâm lý học, xã hội học.v.v

2 Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tương nghiên cứu môn học

Nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ có nội dung rộng trong đó bao hàm

cả nghiệp vụ công tác tổ chức và nghiệp vụ công tác cán bộ trong quá trình thiết kế xây dựng, vận hành các tổ chức trong hệ thống chính trị Do đó, đối tượng nghiên cứu của môn học cũng rất rộng, bao hàm nhiều nội dung, trong

đó có nhiều nội dung trùng với nội dung của một số môn học liên quan

Tuy nhiên, cần xác định rõ đối tượng của môn học để phân biệt và trang bị cho người học những kiến thức, kỹ năng cần thiết sau khi học xong

có thể tham mưu hoặc trực tiếp thực hiện nghiệp vụ công tác tổ chức hoặc nghiệp vụ công tác cán bộ trong các tổ chức của các tổ chức, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị nước ta

Tóm lại, đối tượng nghiên cứu môn học nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ là những vấn đề phổ biến, mang tính quy luật và quy luật của việc thực

Trang 15

hiện và vận dụng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị nhằm đảm bảo công bằng quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi thành viên trong tổ chức Tạo động lực để mỗi thành viên trong tổ chức thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình một cách tự giác với trách nhiệm cao nhất với tổ chức nhằm góp phần làm cho tổ chức thực hiện tốt, hiệu quả mục tiêu chung của tổ chức

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu môn học

Trên cơ sở mục đích, yêu cầu của chương trình đào tạo cử nhân chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, môn học nghiệp vụ công tác

tổ chức, cán bộ giúp sinh viên nắm được những kiến thức cơ bản về công tác tổ

chức, cán bộ của Đảng như: Xây dựng được quy chế hoạt động của một tổ chức; tổ chức sinh hoạt chi bộ, đảng bộ; tổ chức đại hội chi bộ, đảng bộ; đánh giá, phân loại tổ chức cơ sở đảng; tổ chức sinh hoạt và đại hội đoàn thể chính trị - xã hội; xây dựng tiêu chuẩn cán bộ; công tác quy hoạch, luân chuyển, điều động, lựa chọn và bổ nhiệm cán bộ; công tác quản lý, đánh giá cán bộ

Rèn luyện cho sinh viên một số kỹ năng về tổ chức và công tác tổ chức, công tác cán bộ của Đảng nhằm nâng cao năng lực tham mưu giúp cho cấp ủy, ban thường vụ và thường trực cấp ủy về công tác tổ chức, công tác cán bộ của Đảng; phục vụ sự lãnh đạo của các cơ quan lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị- xã hội trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước Trên cơ sở đó, hình

thành cho người học kỹ năng phân tích, tổng hợp và khả năng vận dụng những

hiểu biết của mình vào thực hiện công tác tổ chức, cán bộ hiện nay

2.3 Phương pháp nghiên cứu môn học

Môn học Nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ đặt trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- lênin, kế thừa thành quả nghiên cứu và có quan

Trang 16

hệ với nhiều môn khoa học xã hội có liên quan, và hình thành một số phương pháp chủ yếu sau:

a) Phương pháp phân tích - tổng hợp

Phân tích là phương pháp phân chia cái toàn thể thành ra từng bộ phận, từng mặt, từng yếu tố để nghiên cứu và hiểu được các bộ phận, mặt, yếu tố đó Còn tổng hợp là phương pháp dựa vào sự phân tích và liên kết, thống nhất các bộ phận, mặt, yếu tố lại để nhận thức được cái toàn thể

Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp nhận thức khác nhau, có chiều hướng đối lập nhau, song lại thống nhất biện chứng với nhau Phân tích chuẩn

bị cho tổng hợp, tổng hợp giúp cho phân tích đi sâu vào bản chất của sự vật Tư duy không chỉ đem những đối tượng trong nhận thức phân chia thành các nhân

tố mà còn đem những nhân tố có quan hệ với nhau hợp thành một thể thống nhất Không có phân tích thì không có tổng hợp

Trong quá trình nghiên cứu, có thể thu thập thông tin từ tiếp cận phân tích trước, song cũng có thể thu thập thông tin từ tiếp cận tổng hợp trước Tuy nhiên, cuối cùng vẫn phải xác lập đánh giá tổng hợp đối với tổ chức được xem xét Sự thống nhất giữa phân tích và tổng hợp là một yếu tố quan trọng của phép biện chứng, nó đòi hỏi phải biết kết hợp cả hai phương pháp đó trong nhận thức khoa học

b) Phương pháp lịch sử và lôgíc

Mọi sự vật, hiện tượng đều có lịch sử của mình, tức đều có quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của nó Phương pháp lịch sử đòi hỏi phản ánh trong tư duy quá trình lịch sử - cụ thể của sự phát triển; nắm

sự vận động lịch sử trong toàn bộ tính phong phú của nó, tái hiện “sợi dây” phát triển lịch sử với mọi tính chất cụ thể của nó

Lôgíc là phạm trù chỉ mối liên hệ tất yếu và trình tự giữa các tư tưởng phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người Có thể nói, lôgíc là sự

Trang 17

tỏi hiện lịch sử bằng tư duy Trong mối quan hệ giữa lịch sử và lụgớc thỡ lịch

sử là cỏi cú trước, lụgớc là cỏi cú sau, lụgớc là phản ỏnh lịch sử, do lịch sử quy định

Phương phỏp lịch sử là xem xột sự vật qua những sự kiện xuất hiện trong quỏ khứ Mỗi sự kiện riờng biệt đú là ngẫu nhiờn, nhưng một chuỗi sự kiện trong quỏ khứ thỡ luụn bị điều khiển bởi một quy luật tất yếu Bằng sự thu thập thụng tin về chuỗi cỏc sự kiện trong quỏ khứ, người nghiờn cứu sẽ nhận biết được lụgớc tất yếu của quỏ trỡnh vận động, phỏt triển

Phương phỏp lụgớc là phương phỏp nghiờn cứu quỏ trỡnh lịch sử của

sự vật dưới hỡnh thức lý luận trừu tượng và khỏi quỏt, nhằm vạch ra bản chất, quy luật phỏt triển của sự vật Phương phỏp lụgớc khụng bỏm sỏt mọi bước đi của lịch sử, nú tước bỏ những cỏi ngẫu nhiờn, khụng bản chất, khụng điển hỡnh để nắm lấy cỏi chủ yếu, bản chất, tất nhiờn của sự vật , xu hướng phỏt triển của nú

Phương phỏp lụgớc và phương phỏp lịch sử là hai phương phỏp nghiờn cứu khỏc nhau, gắn bú chặt chẽ với nhau Phương phỏp lịch sử mà khụng cú lụgớc sẽ mự quỏng, ngược lại, phương phỏp lụgớc mà tỏch rời lịch sử sẽ mất đối tượng và dễ rơi vào chủ quan, tự biện Phương phỏp lịch

sử và lụgớc đũi hỏi thu thập thụng tin khỏch quan về cỏc sự kiện, sắp xếp cỏc sự kiện theo một trật tự nhất định, từ đú mà làm bộc lộ lụgớc tất yếu trong tiến trỡnh vận động, phỏt triển của tổ chức

d) Phương phỏp mụ hỡnh hoỏ

Là phương phỏp nghiờn cứu bằng thực nghiệm trờn mụ hỡnh của đối t-ợng (quỏ trỡnh, sự vật…) thay vỡ nghiờn cứu trực tiếp đối tượng ấy ở dạng tự nhiờn (“thực địa”) Vỡ vậy, phải xõy dựng mụ hỡnh sao cho những kết quả thớ nghiệm trờn mụ hỡnh cú thể ỏp dụng tớnh toỏn trờn thực thể “thực địa” Quỏ trỡnh mụ hỡnh hoỏ bao gồm: Xõy dựng mụ hỡnh giả định và thớ nghiệm trờn

Trang 18

mô hình; đánh giá kết quả thực hiện sau khi mô hình giả định hoạt động và rút kết luận

e) Phương pháp thực nghiệm xã hội

Thực nghiệm là phương pháp trong đó người nghiên cứu chủ động tạo

ra hiện tượng cần nghiên cứu bằng cách đặt nhóm người được thực nghiệm vào hoàn cảnh buộc họ phải có phản ứng trước tác động thực nghiệm Với biến thiên của các điều kiện trong thực nghiệm người nghiên cứu có thể xác định được mối quan hệ nhân quả và xác định được những quan hệ có tính quy luật giữa các hiện tượng

Thực nghiệm là một phương pháp kết quả thu được nhanh chóng, sâu sắc và đáng tin cậy hơn các phương pháp khác…, nhưng nó lại là một phương pháp rất phức tạp khi sử dụng vì khách thể của nó là các nhóm người trong xã hội Vì vậy, nó đòi hỏi người làm thực nghiệm phải có quá trình nghiên cứu

và tập dượt nghiêm túc, thận trọng, có trách nhiệm cao để tránh gần như tuyệt đối những sai lầm vi phạm đến các chuẩn mục xã hội, nhất là về vấn đề đạo đức xã hội, pháp luật, quy tắc tổ chức xã hội

f) Phương pháp phi thực nghiệm

Phương pháp phi thực nghiệm là phương pháp nghiên cứu dựa trên

sự quan sát những sự kiện đã hoặc đang tồn tại, đang diễn ra, tổ chức đang vận động, trên cơ sở đó phát hiện quy luật của sự vật, tổ chức Trong phương pháp này, người nghiên cứu chỉ quan sát những gì đã hoặc đang tồn tại, vận động mà không có bất cứ sự chủ động can thiệp nào gây biến đổi trạng thái của đối tượng nghiên cứu

Những phương pháp nghiên cứu chủ yếu về Nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ nêu trên được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu công tác tổ chức

và công tác cán bộ Các phương pháp chủ yếu này có quan hệ biện chứng với nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau, nhưng không thay thế cho nhau Trong mỗi phương pháp đó có thể còn bao gồm những phương pháp cụ thể

Trang 19

hơn, có phạm vi ứng dụng và có thể đem lại những kết quả nhất định Do

đó, đòi hỏi nhà tổ chức phải linh hoạt, năng động trong quá trình nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn công tác của mình góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức và giúp cho tổ chức phát triển ổn định, lâu dài

II KHÁI LƯỢC SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC TỔ CHỨC, CÁN BỘ Ở VIỆT NAM

Nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ có nội dung rộng vì nó bao hàm cả công tác tổ chức và công tác cán bộ trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị của cả

hệ thống chính trị Công tác tổ chức là cách thức vận hành để tổ chức (bao gồm cả con người và chính tổ chức) thích ứng với sự thay đổi Là quá trình làm cho tổ chức có thể tiếp nhận được với những sự thay đổi của công nghệ, thị trường và những thách thức mới trong môi trường biến động hằng ngày

Do đó, công tác tổ chức lao động khoa học nói chúng, nghiệp vụ (tác nghiệp) công tác tổ chức, cán bộ nói riêng đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và đã có nhiều luận thuyết về khoa học tổ chức và tổ chức lao động khoa học, khoa học lãnh đạo, quản lý trong tổ chức Ở Việt Nam, việc nghiên cứu khoa học tổ chức nói chung, khoa học về nghiệp vụ công tác tổ chức, cán

bộ nói riêng tính từ khi Đảng ta ra đời lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến nay

có thể chia thành 3 thời kỳ (giai đoạn) phát triển của khoa học này, cụ thể là:

1 Giai đoạn trước giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975)

Trong giai đoạn này, cả nước thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân dồn hết sức người, sức của cho sự nghiệp cách mang đánh đuổi Đế quốc Pháp rồi Mỹ ra khỏi đất nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giành chính quyền và để giành lấy quyền lãnh đạo nhân dân cả nước thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa trên đất nước Việt Nam

Trang 20

Do đặc thù của giai đoạn cách mạng này, nhiệm vụ chính trị trọng tâm của cách mạng là giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước nên công tác tổ chức, cán bộ tập trung chủ yếu vào việc lựa chọn những người có đủ đức, đủ tài sẵn sàng hy sinh mọi lợi ích cá nhân, kể cả sẵn sàng hy sinh cả xương máu của mình vì lợi ích chung của dân tộc, cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước

Ở chiến trường khi đó, những tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội đòi hỏi phải có những cán bộ, đảng viên

có năng lực lãnh đạo, chỉ huy và luôn sẵn sàng xung phong gương mẫu đi đầu trong các trận đánh tiêu diệt quân thù góp phần giải phóng dân tộc Ở hậu phương đòi hỏi phải có những cán bộ, đảng viên ưu tú gương mẫu đi đầu trong các phong trào lao động sản xuất và chiến đấu, phục vụ chiến đấu ở hậu phương để có nhiều lương thực, thực phẩm cung cấp cho tiền tuyến và sắn sàng chiến đấu với không lực của Đế quốc bắn phá hậu phương

Do đó, nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ trong giai đoạn này chủ yếu dựa vào tinh thần nhiệt tình cách mạng tự nguyện, tự giác tham gia của các cán bộ, đảng viên vào các tổ chức trong hệ thống chính trị với tinh thần cách mạng triệt để Những cán bộ, đảng viên này sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân

để lãnh đạo tổ chức, cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nghĩa vụ với đất nước, với dân tộc vì lợi ích của tập thể và lợi ích của dân tộc là nhanh chóng đánh đuổi

Để quốc ra khỏi đất nước, giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc

2 Giai đoạn từ sau giải phóng miền Nam đến trước Đại hội VI (1986)

Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giành được chính quyền hoàn toàn về tay nhân dân ta Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân bước vào một thời kỳ mới thời kỳ xây dựng tái thiết đất nước sau chiến tranh và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa

Trang 21

Trong giai đoạn này chúng ta áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mô hình này vốn đã được thực hiện trong thời kỳ kháng chiến đã đem lại những kết quả, thành tựu to lớn là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhưng áp dụng mô hình này trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường

đã nhanh chóng trở thành rào cản kìm hãm sự phát triển kinh tế Thêm vào đó

là bị Mỹ bao vây cấm vận làm cho nền kinh tế nước ta không những không phát triển mà ngày càng rơi vào tình trạng suy thoái, đời sống việc làm của người lao động ngày càng trở nên khó khăn trầm trọng

Công tác tổ chức cán bộ của Đảng nói chung, nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ của hệ thống chính trị nói riêng cũng gặp nhiều khó khăn Tình trạng cán bộ độc đoán, chuyên quyền diễn ra phức tạp Những cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội của cả hệ thống chính trị đã có nhiều công lao thành tích trong kháng chiến trước đây thì khi chuyển sang lãnh đạo phát triển kinh tế gặp nhiều khó khăn

do không có kinh nghiệm, trình độ quản lý kinh tế hạn chế, mô hình kinh tế

kế hoạch hóa tập trung dẫn đến tập trung quan liêu, bao cấp Vì vậy, nghiệp

vụ công tác tổ chức, cán bộ chủ yếu áp dụng theo mô hình của thời chiến tranh tập trung quan liêu bao cấp dẫn đến độc đoán, chuyên quyền làm cho nền kinh tế mỗi ngày mỗi rơi vào tình trạng khó khăn, đòi hỏi phải nhanh chóng tìm ra mô hình phát triển phù hợp với môi trường mới

3 Giai đoạn từ 1986 đến nay

Trong khi nền kinh tế xã hội đã và đang gặp nhiều khó khăn, thách thức đòi hỏi phải tìm ra con đường xây dựng và phát triển tái thiết đất nước, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng đã tìm ra con đường phát triển kinh tế, xã hội đất nước Đảng ta đã tìm hướng đi đúng đó là giải pháp mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, trên tinh thần đổi mới tư duy, trước hết là tư duy về kinh tế, Ðảng Cộng sản

Trang 22

Việt Nam đã khẳng định: Công cuộc đổi mới do Ðảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã trải qua 30 năm Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Ðảng, toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân đã tận dụng thời cơ, thuận lợi, nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thử thách, đưa công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu

Qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn,

có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy

và ngày càng mở rộng Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao

Những thành tựu to lớn trên tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển trong những năm tới; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử để chúng ta vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa

Có được những thành tựu trên đây là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân đồng tình ủng hộ, tích cực thực hiện Đảng ta đã nhận thức, vận

Trang 23

dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam; có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời nhạy bén, sáng tạo, kịp thời đưa ra những chủ trương, quyết sách phù hợp cho từng giai đoạn cách mạng, khi tình hình thế giới và trong nước thay đổi Đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đã nỗ lực phấn đấu, tận dụng thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện đường lối đổi mới Sự nghiệp đổi mới của đất nước ta được bạn bè quốc tế ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ

Qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016) tại Đại hội XII của Đảng đã tổng kết, đánh giá thành tựu và hạn chế khuyết điểm, trên cơ sở đó rút ra 5 bài học

Một là, trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo

trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Kế thừa

và phát huy thuyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam

Hai là, đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi

ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Ba là, đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp, tôn trọng

quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra

Bốn là, phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; kiên định độc

lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình

Trang 24

đẳng, cùng có lợi; kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Năm là, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực

lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và của hệ thống chính trị; tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân

Trong 5 bài học, đặc biệt là bài học thứ tư rất mới, có ý nghĩa đột phá, là: “phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết – đó là lợi ích tối cao” thì sự nghiệp đổi mới; công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, và mục tiêu

“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mới giành thắng lợi

Như vây, từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay, trải qua hơn 30 năm đổi mới, khoa học nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ đã

và đang được các nhà nghiên cứu và các nhà hoạt động thực tiễn về công tác

tổ chức, công tác cán bộ trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị- xã hội quan tâm Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đã được công bố Có nhiều cuộc tọa đàm khoa học

về các chủ đề liên quan đến công tác tổ chức và công tác cán bộ Các bộ, ban, ngành, các tổ chức, cơ quan, đơn vị hằng năm đều tổ chức tổng kết, tọa đàm

về công tác tổ chức, cán bộ để đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém, từ đó đưa ra những phương hướng, giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác tổ chức cán bộ, nhân sự góp phần phát triển ổn định, lâu dài từng tổ chức nói riêng và các tổ chức trong từng bộ, từng ban, ngành và cả hệ thống chính trị nói chung

Trang 25

Chương 2

XÂY DỰNG QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC

I NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC

1 Khái niệm

Trong hệ thống chính trị và xã hội có rất nhiều loại hình tổ chức khác nhau được ra đời và tồn tại Mỗi tổ chức được thành lập đều có những chức năng, nhiệm vụ và được quy định thành văn bản mang tính pháp lý Những quy định này thường tập trung vào một văn bản với những nội dung quan trọng nhất, chung nhất và gọi chung là quy chế hoạt động của tổ chức

Quy chế là một thể loại văn bản quy phạm nhằm cụ thể hóa, chi tiết hóa chức năng, nhiệm vụ, giúp cho mỗi tổ chức xác định rõ hơn chức năng, nhiệm

vụ, chế độ công tác, hoạt động và các mối quan hệ giữa các bộ phận; xác định

rõ hơn thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi thành viên, mỗi đơn vị trong hoạt động; làm cơ sở cho sự phối hợp đồng bộ, đoàn kết thống nhất trong tổ chức nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức

Hoạt động của tổ chức là quá trình thực thi những chức năng, nhiệm vụ hướng tới mục tiêu của tổ chức lớn mà tổ chức nhỏ là thành viên Hoạt động của một tổ chức là tổng hợp các quá trình vận động, tương tác giữa các yếu tố,

bộ phận trong cơ cấu tổ chức bộ máy, giữa các thành viên của tổ chức đó

Quy chế tổ chức và hoạt động của tổ chức là những điều quy định thành chế độ để mọi người trong tổ chức thực hiện trong quá trình thực thi nhiệm vụ theo chức năng, nhiệm vụ của mình; là hệ thống những điều khoản quy định thành chế độ của tổ chức cũng như những bộ phận của tổ chức để mọi thành viên của tổ chức tuân theo trong quá trình thực hiện chức trách và nhiệm vụ của mình Quy chế gắn liền với tổ chức, dù là tổ chức chính trị, kinh

tế hay văn hoá, xã hội… đều cần có quy chế hoạt động với những quy định cụ

Trang 26

thể để các bộ phận và mọi thành viên của tổ chức tuân theo, tạo nên sự thống nhất, đồng bộ trong hoạt động của tổ chức

Trong hệ thống chính trị của nước ta hiện nay, quy chế hoạt động của

một tổ chức (hay còn gọi là quy chế làm việc) là một văn bản quy phạm cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ hoạt động, các mối quan hệ công tác trong hoạt động của tổ chức để mọi thành viên trong tổ chức đó chấp hành, do tổ chức, cơ quan có thẩm quyền xây dựng và phê duyệt, ban hành nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao trách nhiệm và chất lượng công tác, hoạt động của tổ chức Quy chế hoạt động của một tổ chức trong hệ thống chính trị

chính là cụ thể hoá những nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm

vụ, cơ chế hoạt động của tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu chung của hệ thống chính trị

2 Vai trò, tác dụng quy chế hoạt động của tổ chức

Bất kỳ một tổ chức nào trong xã hội, muốn tồn tại, phát triển bền vững thì nhất thiết phải xây dựng, ban hành được quy chế tổ chức và hoạt động của

tổ chức đó Căn cứ vào những quy định trong quy chế mà mỗi tổ chức con và mỗi thành viên của tổ chức lấy đó làm khuân mẫu ứng xử và hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ đã quy định Trên cơ sở kết quả thực thi chức năng, nhiệm vụ đã được phân công mà đánh giá, phân loại và có các hình thức khen thưởng, kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời đối với tổ chức và cá nhân trực thuộc nhằm phát triển tổ chức

2.1 Quy chế hoạt động góp phần hiện thực hoá các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tổ chức

Quy chế hoạt động là rất cần thiết đối với tổ chức nói chung và mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị nói riêng Tầm quan trọng đó xuất phát từ bản chất, quy luật vận động của tổ chức và từ sự phong phú, đa dạng của thực tiễn hoạt động của các loại tổ chức trong xã hội

Trang 27

Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, như: Nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình… bảo đảm cho Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội vừa phát huy tốt vai trò của tổ chức mình vừa bảo đảm sự thống nhất, kỷ luật nghiêm minh, thường xuyên tự chỉnh đốn để phát triển Nhưng nội dung, tác dụng của các nguyên tắc đó chỉ trở thành hiện thực khi

có các quy định thành chế độ, chế tài cụ thể buộc tổ chức và các thành viên trong tổ chức đó phải tuân theo Thông thường, các nguyên tắc được ghi nhận ngắn gọn trong các văn bản có tính pháp lý cao nên khó đi vào thực tiễn hoạt động, nếu không cụ thể hóa bằng quy chế của mỗi tổ chức thì nhiều nguyên tắc không phát huy vai trò trong thực tiễn

Thực tế cho thấy, để thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, quản lý của mình, mỗi cấp ủy nếu không xây dựng và thực hiện tốt quy chế hoạt động thì các cấp ủy sẽ không rõ chức trách, nhiệm vụ của tập thể và cá nhân, không thể phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu và các thành viên lãnh đạo trong cấp ủy, cơ quan lãnh đạo của chính quyền, các đoàn thể quần chúng Vì vậy, để thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của mình, mỗi tổ chức phải xây dựng và hoạt động theo quy chế riêng của mình

2.2 Quy chế hoạt động của tổ chức là công cụ lãnh đạo, quản lý và

là cơ sở bảo đảm sự thống nhất hành động của các thành viên trong tổ chức

Trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, ngoài những văn bản quy phạm được các cơ quan Trung ương ban hành, quy chế hoạt động của một tổ chức

là một văn bản có tính pháp lý của bản thân tổ chức với những điều quy định thành chế độ, chế tài mang tính bắt buộc mọi người trong tổ chức thuộc đối tượng điều chỉnh của quy chế bắt buộc phải tuân theo trong quá trình thực hiện chức trách và nhiệm vụ của mình Quy chế của tổ chức chính là một

Trang 28

công cụ để chủ thể quản lý lãnh đạo, quản lý và điều hành mọi hoạt động của

tổ chức thực hiện mục tiêu chung của tổ chức

Tổ chức là một tập hợp người với sự đa dạng, phong phú về trình độ, năng lực, sở trường, thói quen để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt được mục tiêu nhất định Để thực hiện mục đích chung, ngoài yếu tố tự nguyện, tự giác, quy chế hoạt động nhằm hướng sự đa dạng của từng thành viên vào mục tiêu chung của tổ chức Quy chế hoạt động chính là điều kiện đảm bảo cho các thành viên của tổ chức thống nhất trong hoạt động thực hiện nhiệm vụ, chức trách của mình để đạt được những mục tiêu đã xác định Tổ chức không có quy chế hoạt động thì tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” là điều khó tránh khỏi Khi đó tổ chức sẽ không còn là tổ chức, sẽ mất

đi sự thống nhất, đồng thuận tạo ra sức mạnh, và do đó không thể thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức, đúng như V.I.Lênin viết: “Tổ chức làm cho sức mạnh tăng thêm gấp mười lần”1

, và Ông nêu luận điểm nổi tiếng:

“Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên”2

Sức mạnh của tổ chức được hình thành bởi nhiều yếu tố như: nguyên tắc tổ chức, cơ cấu tổ chức, chế độ hoạt động, chất lượng con người, phương tiện hoạt động… Trong đó, nguyên tắc, chế độ hoạt động bảo đảm cho một bộ máy vận hành theo một cơ chế hợp lý, hiệu quả là yếu tố quan trọng có tính quyết định Có xây dựng được cơ chế hoạt động hợp lý mới phát huy được sức mạnh, năng lực sáng tạo của mỗi thành viên; mới bảo đảm sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các bộ phận, tạo nên sức mạnh thống nhất của tổ chức Vì vậy, muốn phát huy sức mạnh của tổ chức, phải chăm lo xây dựng và hoàn thiện quy chế hoạt động của tổ chức, cụ thể hoá, thể chế hoá nguyên tắc, cơ

1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, t.24, tr.47

2 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1975, t.6, tr.162

Trang 29

chế hoạt động cho mọi tổ chức thành viên và cá nhân trực thuộc cùng thực hiện

Sức mạnh của tổ chức đảng nằm ở sự thống nhất cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, sự thống nhất cả về nhận thức, ý chí và hành động Xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức đảng là nhân tố bảo đảm cho sự thống nhất của đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, tạo điều kiện để biến sức mạnh chính trị, tư tưởng thành sức mạnh vật chất của Đảng

2.3 Quy chế hoạt động là văn bản có tính pháp lý góp phần giải quyết mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức và giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị

Khi tổ chức được thiết lập bao giờ cũng có điều lệ, tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức, các bộ phận trong tổ chức và các thành viên của tổ chức Để mỗi thành viên, mỗi bộ phận của tổ chức phát huy tốt vai trò của mình, tổ chức phải xây dựng quy chế hoạt động Quy chế quy định cụ thể

có tính pháp lý trách nhiệm, quyền hạn của các thành viên và các bộ phân của

tổ chức; cụ thể hoá mối quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận trong tổ chức và cách thức giải quyết các mối quan hệ đó cho phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của tổ chức, nhằm bảo đảm cho các thành viên tự điều chỉnh hành

vi của mình, giải quyết mối quan hệ với các thành viên khác trong tổ chức theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao phó Quy chế hoạt động không được xây dựng và thực hiện nghiêm túc sẽ dẫn tới sự lơi lỏng trách nhiệm, không làm đúng thẩm quyền, dân chủ không được phát huy, kỷ luật lỏng lẻo và do đó chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức sẽ bị suy giảm, thậm chí dẫn đến mâu thuẫn nội bộ, có thể dẫn đến tan rã tổ chức

Trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, Đảng vừa là một bộ phận của hệ thống chính trị, vừa lãnh đạo hệ thống đó, mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các tổ chức thành viên của hệ thống chính trị là một vấn đề quan trọng nhưng nhạy cảm, rất khó phân định rành mạch Kinh

Trang 30

nghiệm thực tiễn cho thấy, việc xây dựng và thực hiện đúng quy chế làm việc

là biện pháp rất hiệu quả để giải quyết đúng đắn mối quan hệ phức tạp đó, vừa giữ vững được sự lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy được vai trò trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị, giúp ngăn ngừa, khắc phục cả hiện tượng chồng chéo, “lấn sân”, bao biện làm thay và tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng

Như vậy, quy chế hoạt động có vai trò, tác dụng nhiều mặt đối với tổ

chức và việc xây dựng cũng như từng bước hoàn thiện quy chế hoạt động là vấn đề rất cần thiết của các tổ chức Đảng, Nhà nước và các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị

3 Yêu cầu khi xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức

Để quy chế hoạt động của tổ chức có tính khả thi và phát huy được tác dụng, mỗi tổ chức khi xây dựng và ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của tổ chức mình, cần thiết phải đáp ứng tốt những yêu cầu sau:

3.1 Quy chế hoạt động phải xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của tổ chức và phục vụ việc thực hiện thắng lợi chức năng, nhiệm vụ đó

Việc xây dựng quy chế hoạt động là quá trình cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ của tổ chức trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Vì vậy, xây dựng quy chế hoạt động phải từ chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mà xác định các quy định, chế độ cho phù hợp tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình

Các nội dung trong quy chế hoạt động của tổ chức phải lấy nhiệm vụ của tổ chức làm căn cứ, bảo đảm cho cả bộ máy, trong quá trình vận hành đều hướng vào thực hiện nhiệm vụ trung tâm Quy chế phải đề cao trách nhiệm và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành viên của tổ chức phát huy năng lực sáng tạo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Trang 31

Quy chế hoạt động của tổ chức không phải là khuôn mẫu cố định, bất biến, mà nó luôn cần được sửa đổi, bổ sung, phát triển theo yêu cầu nhiệm vụ

và những điều kiện, hoàn cảnh trong từng giai đoạn cách mạng

3.2 Quy chế hoạt động phải có tính pháp lý, đồng bộ và hệ thống

Quy chế hoạt động là văn bản ghi nhận cả thẩm quyền và trách nhiệm của tổ chức, các bộ phận và từng thành viên, có tính bắt buộc mỗi tổ chức và thành viên trực thuộc phải tôn trọng và chấp hành Đây chính là yêu cầu mang tính pháp lý của quy chế hoạt động của tổ chức

Tính pháp lý yêu cầu quy chế hoạt động của tổ chức phải không được trái mà phải phù hợp với các quy định của pháp luật, của cấp trên, điều lệ của

tổ chức Quy chế cần được xây dựng, ban hành theo một quy trình chặt chẽ, khoa học với thể thức chuẩn khi xây dựng, ban hành mỗi quy phạm

Tính pháp lý còn đòi hỏi quy chế hoạt động của tổ chức phải do cấp có thẩm quyền thông qua, trở thành văn bản mang tính pháp lý bắt buộc mọi thành viên của tổ chức phải tuân theo Đồng thời, khi phát sinh hành vi sai phạm, quy chế hoạt động sẽ là căn cứ để xem xét trách nhiệm của những tổ chức và cá nhân trực thuộc, liên quan

Quán triệt tính hệ thống, đồng bộ, quá trình xây dựng quy chế hoạt động của một tổ chức phải hướng vào giải đáp những câu hỏi sau: tổ chức mình đứng ở vị trí nào ? thực hiện chức năng, nhiệm vụ gì? để làm tròn chức năng, nhiệm vụ đó phải quan hệ với những tổ chức, cá nhân nào? Như vậy, trong xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức, các chủ thể cần nắm chắc quy định của pháp luật, quy định của Đảng và các tổ chức khác để tránh tính phiến diện hoặc không phù hợp với quy định riêng của các tổ chức liên quan

3.3 Quy chế hoạt động phải thống nhất tính kỷ cương với tính dân chủ, sáng tạo

Tổ chức muốn hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình một mặt phải duy trì nghiêm ngặt kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm tính thống nhất, nghiêm

Trang 32

túc trong mọi hoạt động hướng vào thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức, đồng thời phải phát huy năng lực sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của mỗi thành viên Việc coi nhẹ mặt này, đề cao mặt kia đều ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của tổ chức Vì vậy, quy chế hoạt động của tổ chức phải bảo đảm sự kết hợp giữa tính dân chủ, sáng tạo và tính kỷ luật chặt chẽ, nghiêm túc

Quá trình xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức phải thể hiện rõ chế

độ trách nhiệm của các thành viên, lề lối, nguyên tắc làm việc, nội dung hoạt động, biện pháp, thời gian thực hiện để mọi thành viên trong tổ chức có nghĩa vụ phải chấp hành nghiêm chỉnh quy chế hoạt động của tổ chức theo chức danh, nhiệm vụ được phân công Đồng thời, những quy định mang tính pháp lý đó phải tạo điều kiện thuận lợi để các thành viên phát huy tính chủ động và năng lực sáng tạo trong quá trình thực thi nhiệm vụ Nếu nội dung quy chế chỉ nhấn mạnh tính kỷ luật, hạn chế tính dân chủ thì không khơi dậy được tính năng động, sáng tạo của các thành viên trong tổ chức, có thể làm thui chột tài năng Ngược lại, nếu chỉ đề cao tính dân chủ sáng tạo, lơi lỏng kỷ cương sẽ dẫn tới vô chính phủ, không tập trung được sức mạnh và tổ chức không thể hoàn thành chức năng, nhiệm vụ với chất lượng cao

Sự thống nhất của tính kỷ luật với tính dân chủ, sáng tạo phải được thể hiện trong từng quy định, từng nội dung của tổ chức, từng chức trách của mỗi thành viên trong tổ chức

3.4 Quy chế hoạt động phải đảm bảo tính khả thi, hiệu quả

Quy chế hoạt động của tổ chức là để cho mọi người trong tổ chức đều

có thể thực hiện được nhằm đảm bảo cho tổ chức hoạt động có kết quả tốt nhất, vì vậy quy chế đó phải đảm bảo tính khả thi và hiệu quả Nếu quy chế đề

ra những quy định không cụ thể, không phù hợp với thực tế tổ chức, đơn vị và thẩm quyền được giao thì quy chế đó sẽ không thể đi vào cuộc sống, không có hiệu quả

Trang 33

Yêu cầu này đòi hỏi khi xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức phải luôn đảm bảo tính khoa học, khả thi, tức là phải xuất phát từ đặc điểm, tình hình khách quan, chủ quan của tổ chức, nhất là những điều kiện, khả năng thực tế của tổ chức mà định ra các chế độ, lề lối làm việc cho cụ thể, phù hợp, nhằm đạt hiệu quả tối ưu, bảo đảm cho tổ chức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình với chất lượng cao nhất trong điều kiện cho phép

Những yêu cầu trên tạo thành một chỉnh thể, định hướng chỉ đạo quá trình xây dựng và thực hiện quy chế hoạt động của một tổ chức, bảo đảm cho mỗi tổ chức phát huy vai trò sức mạnh của mình trong hoạt động thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Mọi biểu hiện coi thường, xem nhẹ hoặc chỉ nhấn mạnh một trong các yêu cầu đó đều là sai lầm, ảnh hưởng không tốt đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức

4 Các loại quy chế hoạt động của tổ chức trong hệ thống chính trị

Quy chế hoạt động của tổ chức được quy định bởi chức năng, nhiệm

vụ, đặc điểm của tổ chức đó, tùy thuộc vào cách phân loại có nhiều loại quy chế hoạt động khác nhau Nhìn chung có ba loại quy chế hoạt động chính như sau:

4.1 Quy chế hoạt động của cơ quan lãnh đạo của tổ chức

Trong tổ chức đảng có quy chế hoạt động của cấp uỷ, như: Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương; Quy chế làm việc của tỉnh uỷ, huyện uỷ… Trong cơ quan lãnh đạo của Nhà nước có quy chế làm việc của

Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy chế làm việc của Chính phủ, quy chế làm việc của uỷ ban nhân dân tỉnh, huyện, xã… Đây là loại quy chế hoạt động quan trọng nhất của cơ quan lãnh đạo tổ chức trong hệ thống chính trị Phần lớn các tổ chức trong hệ thống chính trị nước ta đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Cơ quan lãnh đạo, chấp hành quyền lực của các

tổ chức này giữa hai kỳ đại hội, kỳ bầu cử, kỳ họp định kỳ, được tổ chức uỷ quyền thực hiện ý chí, mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức Vì vậy, hoạt động của

Trang 34

các tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng hoạt động của các cơ quan lãnh đạo Trong khi đó, chất lượng hoạt động của các cơ quan lãnh đạo này lại tuỳ thuộc một phần quyết định ở tính khoa học, chặt chẽ của quy chế hoạt động

và việc duy trì thực hiện quy chế ấy trong thực tiễn

4.2 Quy chế của một hoạt động, một nhiệm vụ, một lĩnh vực công tác quan trọng của tổ chức

Để triển khai nhiệm vụ của tổ chức, mỗi tổ chức đều có nhiều mặt hoạt động, nhiều mặt công tác Mỗi mặt, mỗi lĩnh vực có những yêu cầu riêng, để đảm bảo thực hiện tốt, phải có những quy chế riêng cho từng hoạt động, từng mặt công tác đó Các tổ chức trong hệ thống chính trị đều có nhiều loại quy chế này, như: Quy chế tiến hành đại hội đảng ở các cấp, quy chế bầu cử, quy chế xây dựng và thực hiện nghị quyết, quy chế nhận xét, đánh giá cán bộ, quy chế đề bạt cán bộ, quy chế quản lý đảng viên, hay quy chế thi tuyển công chức, quy chế bảo mật… Loại quy chế hoạt động này bảo đảm cho một hoạt động, nhiệm vụ hay một loại công tác được tiến hành thống nhất, đạt hiệu quả cao, ngăn ngừa sự tuỳ tiện, tiêu cực

4.3 Quy chế hoạt động của các bộ phận chuyên môn trong một tổ chức

Phần lớn các tổ chức trong hệ thống chính trị đều có các cơ quan chuyên môn để phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý của tổ chức đó Trong cơ quan lãnh đạo của Đảng, đoàn thể có các ban tham mưu, trong cơ quan nhà nước cũng có nhiều cơ quan chuyên môn Xây dựng quy chế hoạt động của các cơ quan chuyên môn này nhằm bảo đảm cho các lĩnh vực công tác chuyên môn của tổ chức được thực hiện có nền nếp, đúng chức năng, nhiệm vụ, đạt chất lượng cao, phòng tránh sai sót, tiêu cực

Trang 35

II XÂY DỰNG NỘI DUNG QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC

Trong hoạt động của tổ chức có nhiều loại quy chế khác nhau, mỗi tổ chức có thể có nhiều loại quy chế hoạt động Mỗi loại quy chế có những nội dung đặc thù Trên cơ sở những luận giải trên, tất cả các tổ chức đảng, nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, từ Trung ương đến cơ sở đều cần xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức mình Quy chế hoạt động của một tổ chức trong hệ thống chính trị thường bao gồm các nội dung chính sau:

Một là, xác định trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan lãnh đạo, của

các bộ phận và của các thành viên trong tổ chức Chẳng hạn, quy chế hoạt động của ban chấp hành đảng bộ thường xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của ban chấp hành, ban thường vụ, thường trực cấp uỷ; phạm vi trách nhiệm

và quyền hạn của các uỷ viên ban chấp hành, của bí thư, các phó bí thư, các

uỷ viên thường vụ hoặc trong quy chế hoạt động của uỷ ban nhân dân thường quy định rõ: chế độ trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của uỷ ban, chủ tịch, các phó chủ tịch, uỷ viên ủy ban; chế độ, thẩm quyền ban hành văn bản của uỷ ban nhân dân, của chủ tịch uỷ ban nhân dân; chế độ tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của uỷ ban nhân dân…

Hai là, xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận, các thành viên trong

tổ chức với các tổ chức có liên quan Trong quy chế hoạt động của một cấp uỷ thường xác định mối quan hệ giữa ban thường vụ với ban chấp hành, giữa thường trực với ban thường vụ và ban chấp hành; giữa thường vụ, thường trực cấp ủy với hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân và thường trực uỷ ban nhân dân và quan hệ giữa ban chấp hành, ban thường vụ, thường trực cấp ủy với ban chấp hành các đoàn thể nhân dân hoặc trong quy chế hoạt động của uỷ ban nhân dân thường xác định rõ mối quan hệ giữa uỷ ban nhân dân với các

Trang 36

ban ngành cấp trên, quan hệ với thường trực, ban thường vụ cấp uỷ đảng cùng cấp và quan hệ với hội đồng nhân dân cùng cấp…

Ba là, quy chế hoạt động sẽ quy định về chế độ làm việc, phương pháp

công tác Quy chế của cấp uỷ đảng phải quy định cụ thể chế độ hội nghị và ra nghị quyết của cấp uỷ; chế độ kiểm tra, chế độ thông tin, báo cáo, chế độ tự phê bình và phê bình; hay chế độ tiếp dân, đi cơ sở Quy chế làm việc của uỷ ban nhân dân phải quy định rõ về chương trình công tác, phiên họp của uỷ ban nhân dân, cách thức giải quyết công việc của chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban, cách thức tổ chức họp của các cơ quan chuyên môn, thủ tục trình, ban hành văn bản, chế độ kiểm tra thi hành văn bản, chế độ tiếp khách, đi công tác, chế độ thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tổ chức tiếp dân, công tác thông tin, báo cáo…

Bốn là, quy chế có thể quy định thẩm quyền, trách nhiệm trong sử

dụng, khai thác cơ sở vật chất, kỹ thuật, các nguồn lực của tổ chức Tùy thuộc nhiệm vụ của tổ chức mà nội dung quy chế có thể cụ thể hóa việc sử dụng, khai thác các nguồn lực như: Sử dụng, khai thác, cung cấp thông tin; sử dụng trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác; huy động nguồn nhân lực từ các

bộ phận để thực hiện một nhiệm vụ của tổ chức

III QUY TRÌNH XÂY DỰNG QUY CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC

Quy chế hoạt động là văn bản mang tính pháp lý của một tổ chức Vì

vậy, quá trình xây dựng quy chế hoạt động của một tổ chức phải tuân theo một quy trình chặt chẽ để vừa bảo đảm phát huy dân chủ, kết tinh trí tuệ của tập thể, của các thành viên của tổ chức, vừa được cơ quan có thẩm quyền xem xét, thẩm định, phê chuẩn Quy trình ban hành quy chế hoạt động của một tổ chức cần tuân thủ theo các bước sau:

Bước 1: Công tác chuẩn bị

Trang 37

- Chuẩn bị về nhân lực: Tùy loại quy chế, cơ quan có thẩm quyền cần

xác định cá nhân, bộ phần nào sẽ giữ vai trò chủ trì trong việc xây dựng quy chế, bộ phận nào tham gia góp ý

- Chuẩn bị về nội dung: Cần sưu tầm, khảo sát những bản quy chế của

các tổ chức khác đã được ban hành trước đó, các quy định của pháp luật, quy định của Đảng và các đoàn thể liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của tổ chức; nghiên cứu, xem xét bản quy chế mẫu (nếu có) của cấp có thẩm quyền ban hành

- Chuẩn bị về điều kiện vật chất: Dự kiến những chi phí phát sinh, trang

thiết bị, phương tiện phục vụ cho quá trình xây dựng quy chế để có đề xuất, xây dựng dự toán kinh phí cho từng công việc

Bước 2: Soạn văn bản quy chế dự thảo

Khi xây dựng quy chế hoạt động của một tổ chức, trước hết, các tổ chức cần thành lập ban soạn thảo quy chế dưới sự lãnh đạo trực tiếp của tập thể lãnh đạo hoặc người lãnh đạo cao nhất của tổ chức Xây dựng quy chế hoạt động của ban chấp hành đảng bộ thì ban thường vụ, trực tiếp là thường trực cấp uỷ cùng cấp chủ trì trực tiếp lãnh đạo ban soạn thảo quy chế dự thảo Xây dựng quy chế hoạt động của uỷ ban nhân dân thì thường trực uỷ ban phải trực tiếp chỉ đạo ban soạn thảo quy chế

Ban xây dựng bản dự thảo quy chế phải gồm những người am hiểu chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, nắm vững Hiến pháp, pháp luật; nắm vững điều lệ, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của tổ chức; có tri thức, kinh nghiệm thực tiễn ở lĩnh vực quy chế đề cập

Trước khi soạn thảo, phải xác định rõ phạm vi điều chỉnh của quy chế

và thẩm quyền ban hành Cần xây dựng các nội dung cụ thể thành các điều khoản rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra Bản dự thảo quy chế hoạt động phải được tập thể ban chỉ đạo thông qua

Trang 38

Bước 3: Tổ chức thảo luận quy chế dự thảo, lấy ý kiến đóng góp của quần chúng, nhất là những đối tượng có liên quan

Bước này nhằm phát huy dân chủ, tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm của quần chúng, bảo đảm cho quy chế hoạt động đạt được tính khoa học, đồng bộ,

hệ thống và tính khả thi cao

Tiến hành bước này, bản dự thảo quy chế hoạt động cần được công bố cho tất cả các thành viên của tổ chức góp ý kiến, đồng thời phải gửi lấy ý kiến của các đối tượng có liên quan Ví dụ, dự thảo quy chế làm việc của ban chấp hành đảng bộ tỉnh trước hết phải được gửi tới các thành viên ban chấp hành đảng bộ tỉnh, đồng thời phải lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan tham mưu

Đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị, bước lấy ý kiến đóng góp rộng rãi này là không thể thiếu được Thực hiện tốt bước này sẽ tạo nên sự thống nhất giữa lãnh đạo với các đối tượng bị lãnh đạo, bảo đảm sự thống nhất giữa ý chí, quyết tâm với điều kiện, khả năng thực tế, giữa định hướng của lãnh đạo với lòng dân, từ đó sẽ tạo nên sự thống nhất, nghiêm túc, tự giác cao trong quá trình thực hiện quy chế

Bước 4: Cơ quan có thẩm quyền thông qua quy chế hoạt động

Sau khi thu thập ý kiến của các đối tượng, ban soạn thảo quy chế phải nghiên cứu, bổ sung, hoàn chỉnh bản dự thảo quy chế trước khi trình cơ quan

có thẩm quyền thông qua

Quy chế hoạt động của một tổ chức phải được phê duyệt và ban hành kèm theo một văn bản quy phạm đúng thẩm quyền Đây là yếu tố bảo đảm tính pháp lý của quy chế Tuỳ từng tổ chức, từng loại quy chế mà thẩm quyền thông qua và ra quyết định ban hành quy chế được xác định cụ thể Có loại quy chế do tập thể lãnh đạo của tổ chức thông qua và ra quyết định ban hành,

có loại phải trình lên cấp trên trực tiếp ra quyết định ban hành Quy chế làm việc của ban chấp hành, ban thường vụ và các cơ quan chuyên môn thuộc cấp

uỷ đảng thì do chính tập thể ban chấp hành thông qua và bí thư cấp uỷ ký, ban

Trang 39

hành Quy chế làm việc của uỷ ban nhân dân phải do uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp ra quyết định ban hành

Bước 5: Ban hành quy chế

Sau khi có quyết định ban hành, các tổ chức liên quan thuộc phạm vi điều chỉnh của quy chế phải tổ chức tuyên truyền, học tập nghiên cứu quán triệt, phổ biến, triển khai thực hiện quy chế hoạt động của tổ chức tới tất cả các thành viên và các đối tượng có liên quan cũng như báo cáo tới cơ quan cấp trên

Câu hỏi ôn tập

1 Hãy trình bày những yêu cầu khi xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức

2 Phân tích, làm rõ những nội dung của quy chế hoạt động của tổ chức

3 Hãy phân tích quy trình xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức Liên hệ thực tiễn tại địa phương, cơ quan, đơn vị

Chương 3

SINH HOẠT CHI BỘ, ĐẢNG BỘ

I TỔ CHỨC SINH HOẠT CHI BỘ, ĐẢNG BỘ

1 Vai trò, tác dụng và các loại hình sinh hoạt chi bộ, đảng bộ

1.1 Khái niệm

Theo Đại từ điển tiếng Việt, “sinh hoạt” là những hoạt động tập thể của

một tổ chức: sinh hoạt câu lạc bộ, sinh hoạt chi đoàn, sinh hoat tổ đảng; tiến hành những hoạt động tập thể; sinh hoạt văn nghệ tại câu lạc bộ1

1Nguyễn Như Ý (chủ biên): Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá - Thông tin, H.1998, tr.1446

Trang 40

Sách tra cứu các mục từ về tổ chức, cho rằng: “Sinh hoạt đảng là sự

gắn kết về trách nhiệm chính trị và tình đồng chí của người đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam Sinh hoạt đảng trực tiếp và thường xuyên nhất là ở các chi bộ, ở hội nghị đảng viên và hội nghị đại biểu đảng bộ các cấp giữa nhiệm kỳ, ở đại hội đảng viên và đại hội đại biểu đảng bộ thường kỳ hay bất thường ở các cấp, ở hội nghị thường kỳ hay bất thường của cấp uỷ các cấp”1

Từ những điều nêu trên, có thể rút ra định nghĩa: Sinh hoạt chi bộ, đảng

bộ là sinh hoạt đảng, đó là hoạt động tập thể của toàn thể đảng viên hoặc của đại biểu của đảng bộ để bàn bạc, thảo luận, quyết định các chủ trương, giải pháp thực hiện những công việc về xây dựng Đảng, xây dựng chi bộ, đảng bộ; thực hiện nhiệm vụ chính trị của chi bộ, đảng bộ và của địa phương hoặc thống nhất đề nghị cấp uỷ cấp trên về những nội dung đó, nhằm xây dựng chi

bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của chi bộ, đảng bộ và các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, góp phần xây dựng đảng bộ cấp trên và toàn Đảng vững mạnh, lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đảng bộ cấp trên và nhiệm vụ cách mạng

1.2 Các loại hình sinh hoạt chi bộ, đảng bộ

Sinh hoạt chi bộ, đảng bộ cũng có thể được gọi là họp chi bộ, đảng bộ, gồm ba loại: sinh hoạt chi bộ, đảng bộ thường lệ, bất thường; hội nghị chi bộ, đảng bộ định kỳ và giữa nhiệm kỳ; đại hội chi bộ, đảng bộ theo nhiệm kỳ và

có thể có đại hội bất thường khi cần thiết

Sinh hoạt chi bộ thường kỳ theo quy định của Điều lệ Đảng mỗi tháng một lần, sinh hoạt bất thường khi cần thiết hoặc sinh hoạt theo chuyên đề do chi bộ tổ chức ghép với sinh hoạt hằng tháng hoặc tổ chức thành cuộc sinh hoạt riêng Một số cuộc sinh hoạt chi bộ có thể gọi là hội nghị chi bộ, tuỳ theo tính chất, quy mô của cuộc sinh hoạt đó Đảng bộ cơ sở họp thường lệ mỗi

1 Sách tra cứu các cụm từ về tổ chức, Nxb CTQG, H.2004, tr 590-591

Ngày đăng: 08/11/2022, 23:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ƣơng: Quyết định ban hành quy chế bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử. Quyết định số số 68- QĐ/TW, ngày 04/7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định ban hành quy chế bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2007
2. Ban Chấp hành Trung ƣơng: Quyết định về việc ban hành quy chế bầu cử trong Đảng. Quyết định số 244- QĐ/TW, ngày 09/6/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc ban hành quy chế bầu cử trong Đảng
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Nhà XB: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2014
3. Ban Chấp hành Trung ƣơng: Quy định khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp . Quy định số 89- QĐ/TW, ngày 04/8/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2017
4. Ban Chấp hành Trung ƣơng: Quy định về luân chuyển cán bộ. Quy định số 98- QĐ/TW, ngày 07/10/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về luân chuyển cán bộ
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2017
5. Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng: Quy định thi hành Điều lệ Đảng. Quy định 29- QĐ/TW, ngày 25/7/2016 của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định thi hành Điều lệ Đảng
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Nhà XB: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2016
6. Ban Bí thƣ: Hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng. Hướng dẫn số 01-HD/BTCTW, ngày 20/9/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Nhà XB: Hướng dẫn số 01-HD/BTCTW
Năm: 2016
7. Ban Tổ chức Trung ƣơng Đảng: Tài liệu bồi dưỡng lý luận và nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ, H. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng lý luận và nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ƣơng Đảng
Năm: 2001
8. Ban Tổ chức Trung ƣơng Đảng: Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, t.1, t.2, Tạp chí Xây dựng Đảng, H.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương Đảng
Nhà XB: Tạp chí Xây dựng Đảng
Năm: 2004
9. Ban Tổ chức Trung ương Đảng: Nghiệp vụ công tác tổ chức- Tài liệu lưu hành nội bộ, H.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ công tác tổ chức
10. Ban Tổ chức Trung ƣơng Đảng: Hướng dẫn thực hiện về phân cấp quản lý cán bộ, quy chế bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử. Hướng dẫn số 09- HD/BTCTW, ngày 26/9/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện về phân cấp quản lý cán bộ, quy chế bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương Đảng
Năm: 2007
11. Ban Tổ chức Trung ƣơng Đảng: Hướng dẫn về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 42- NQ/TW, ngày Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 42- NQ/TW, ngày
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ƣơng Đảng
12. Ban Tổ chức Trung ƣơng Đảng: Hướng dẫn về công tác nhân sự cấp ủy tại đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Hướng dẫn số 26-HD/BTCTW, ngày 18/8/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn về công tác nhân sự cấp ủy tại đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
13. Ban Tổ chức Trung ƣơng Đảng: Hướng dẫn kiểm điểm tập thể, cá nhân, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên hằng nằm. Hướng dẫn số 27- HD/BTCTW, ngày 25/9/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn kiểm điểm tập thể, cá nhân, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên hằng nằm
14. Ban Tổ chức Trung ƣơng Đảng: Hướng dẫn sửa đổi một số nội dung về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý nêu tại Hướng dẫn số 15- HD/BTCTW, ngày 05/11/2012 của Ban Tổ chức Trung ương . Hướng dẫn số 06-HD/BTCTW, ngày 24/02/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn sửa đổi một số nội dung về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý nêu tại Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW, ngày 05/11/2012 của Ban Tổ chức Trung ương
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương Đảng
Nhà XB: Ban Tổ chức Trung ương Đảng
Năm: 2012; 2017
15. Bộ Chính trị: Kết luận về Về đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo . Kết luận số 24- KL/TW, ngày 05/6/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận về Về đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2012
16. Bộ Chính trị: Quyết định về việc ban hành quy chế đánh giá cán bộ, công chức. Quyết định số số 286- QĐ/TW, ngày 08/02/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về việc ban hành quy chế đánh giá cán bộ, công chức
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2010
17. Bộ Chính trị: Quyết định ban hành Quy định về phân cấp quản lý cán bộ. Quyết định số 67- QĐ/TW, ngày 04/7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định ban hành Quy định về phân cấp quản lý cán bộ
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2007
18. Bộ Chính trị: Quy định về phân cấp quản lý cán bộ (kèm theo Quyết định số 67- QĐ/TW, ngày 04/7/2007 của Bộ Chính trị) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về phân cấp quản lý cán bộ (kèm theo Quyết định số 67- QĐ/TW, ngày 04/7/2007 của Bộ Chính trị)
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2007
19. Bộ Chính trị: Quyết định của Bộ Chính trị về ban hành Quy chế giám sát trong Đảng. Quyết định số 68- QĐ/TW ngày 21/3/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Bộ Chính trị về ban hành Quy chế giám sát trong Đảng
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Bộ Chính trị
Năm: 2012
20. Bộ Chính trị: Quyết định về ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. Quyết định số 217- QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị khóa XI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định về ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Bộ Chính trị
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w