1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu dư luận xã hội giáo trình nội bộ

224 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 7,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà xã hội học Habermas Habermas, 1962 đã cho rằng có không ít hơn 4 nghĩa hàm chứa trong từ "public": - Công chúng có khả năng tiếp cận thông tin, vấn đề - Công chúng có quan tâm tới vấ

Trang 1

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM 2018

GIÁO TRÌNH NỘI BỘ

NGHIÊN CỨU DƯ LUẬN XÃ HỘI

Chủ nhiệm đề tài: TS Dương Thị Thu Hương

HÀ NỘI, 2018

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

KHOA XÃ HỘI HỌC

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM, LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

1.1 Khái niệm dư luận xã hội 8

1.2 Lịch sử phát triển các hướng tiếp cận, nghiên cứu DLXH 26

CHƯƠNG 2: TÍNH CHẤT, CHỨC NĂNG DƯ LUẬN XÃ HỘI, QUÁ

2.1 Tính chất, thuộc tính của dư luận xã hội 39 2.2 Chức năng của dư luận xã hội 47 2.3 Quá trình hình thành dư luận xã hội 54

CHƯƠNG 3: MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG

3.1 Các khái niệm cơ bản 68 3.2 Mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và dư luận xã hội 70

4.1 Các phương pháp thu thập, nắm bắt dư luận xã hội: ưu nhược điểm

và ứng dụng của các phương pháp cụ thể 94 4.2 Phương pháp xã hội học nghiên cứu dư luận xã hội 106

5.1 Giai đoạn chuẩn bị 130 5.2 Giai đoạn tiến hành điều tra thu thập thông tin 154 5.3 Giai đoạn xử lý số liệu, viết báo cáo, xã hội hoá kết quả nghiên cứu: 155

CHƯƠNG 6: KỸ THUẬT CHỌN MẪU XÂY DỰNG CÔNG CỤ, BIẾN

SỐ, CHỈ BÁO, THANG ĐO VÀ CÁC KỸ THUẬT PHÂN TÍCH SỐ

LIỆU ĐIỀU TRA DƯ LUẬN XÃ HỘI

159

Trang 3

6.1 Kỹ thuật chọn mẫu trong điều tra dư luận xã hội 159 6.2 Kỹ thuật xác định và xây dựng biến số, chỉ báo, chỉ số, thang đo

trong nghiên cứu dư luận xã hội

171

6.3 Kỹ thuật xây dựng bảng hỏi - công cụ thu thập thông tin trong điều

tra dư luận xã hội

Trang 4

MỞ ĐẦU: GIỚI THIỆU MÔN HỌC

1 Tên môn học: Nghiên cứu Dư luận xã hội

kỹ thuật phân tích, trình bày dữ liệu, số liệu nghiên cứu cũng như ứng dụng cụ thể kết quả nghiên cứu DLXH trong quản lý xã hội

6 Yêu cầu:

- Về tri thức: Nắm được các kiến thức cơ bản Về kỹ năng: Nắm được các kỹ năng trình bày miệng, trình bày bằng phương tiện máy tính, máy chiếu, kỹ năng tự nghiên cứu

- Về thái độ: Tích cực, chủ động tham gia đóng góp vào bài giảng

7 Phân bố thời gian: học phần gồm tổng số 68 tiết – 3 đơn vị học trình (1,5

lý thuyết, 1,5 thực hành)

- Phần lý thuyết: 23 tiết

- Phần bài tập thực hành: 45 tiết

8 Giảng viên tham gia giảng dạy môn học:

TS Dương Thị Thu Hương

Trang 5

9 Điều kiện tiên quyết môn học: Sinh viên đã tham gia học các môn: Xã hội

học đại cương, Thiết kế nghiên cứu

10 Nội dung môn học:

- Nội dung chi tiết và phân bổ thời gian

LUẬN XÃ HỘI, QUÁ TRÌNH HÌNH

THÀNH DƯ LUẬN XÃ HỘI

3 MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN

THÔNG VÀ DƯ LUẬN XÃ HỘI,

ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XÃ HỘI

DƯ LUẬN XÃ HỘI 10 2 8

1.1 Giới thiệu các phương pháp nắm bắt

dư luận xã hội: ưu nhược điểm và ứng

dụng thu thập thông tin

1.2 Phương pháp xã hội học nghiên cứu

dư luận xã hội: các phương pháp cụ thể

sử dụng thu thập thông tin DLXH

Trang 6

2 QUY TRÌNH TỔ CHỨC NGHIÊN

CỨU DƯ LUẬN XÃ HỘI 10 2 8

2.1 Giai đoạn chuẩn bị 3 1 2

2.2 Giai đoạn tiến hành điều tra thu thập

thông tin

2.3 Giai đoạn xử lý số liệu, viết báo cáo,

xã hội hoá kết quả nghiên cứu:

3 KỸ THUẬT CHỌN MẪU XÂY

DỰNG CÔNG CỤ, BIẾN SỐ, CHỈ CHỈ

BÁO, THANG ĐO VÀ CÁC KỸ

THUẬT PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ĐIỀU

TRA DƯ LUẬN XÃ HỘI

3.1 Kỹ thuật chọn mẫu trong điều tra dư

luận xã hội

3.2 Kỹ thuật xác định và xây dựng biến

số, chỉ báo, chỉ số, thang đo trong nghiên

cứu dư luận xã hội

3.3 Kỹ thuật xây dựng bảng hỏi - công

cụ thu thập thông tin trong điều tra dư

4.1 Các kỹ thuật phân tích số liệu 5 1 4

4.2 Trình bày số liệu nghiên cứu DLXH 5 0 5

11 Phương pháp giảng dạy và học tập:

- Phương pháp giảng dạy: áp dụng phương pháp giảng dạy hiện đại, có sự hỗ trợ

của máy tính, máy chiếu

- Phương pháp học: tích cực, chủ động tham gia vào bài giảng và chuẩn bị bài tại nhà, làm việc cá nhân, tham gia làm việc nhóm lớn (5-6 bạn) và nhóm nhỏ (2-3 bạn)

Trang 7

14 Tài liệu tham khảo:

- Tài liệu bắt buộc:

1 Nguyễn Quý Thanh (2008), Xã hội học về Dư luận xã hội, NXB Đại học Quốc gia Hà

Nội, Hà nội

2 Lương Khắc Hiếu, 2014, Nghiên cứu và định hướng Dư luận xã hội, Nhà xuất bản lý

luận chính trị

- Tài liệu tham khảo:

3 Nguyễn Văn Dững, 2011, Báo chí và dư luận xã hội, NXB Lao động

4 Đỗ Thanh Hà, 2017, Một số vấn đề chung về công tác nghiên cứu dư luận xã hội, Tài

liệu tập huấn nghiệp vụ DLXH, Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội, Ban Tư tưởng văn hoá trung ương

5 Đỗ Văn Quân, 2016, Dư luận xã hội trong lãnh đạo, quản lý: Một số vấn đề lý luận và

thực tiễn

6 Vũ Hào Quang, 2017, Định hướng dư luận xã hội và truyền thông, Giáo trình nội bộ

sau đại học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Trang 8

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM, LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHIÊN CỨU DƯ LUẬN XÃ HỘI

Chương này sẽ cung cấp những kiến thức và hiểu biết cơ bản về khái niệm dư luận

xã hội cũng như lịch sử và quá tình hình thành phát triển nghiên cứu dư luận xã hội Về khái niệm dư luận xã hội, người học không chỉ được giới thiệu về khái niệm mà còn các vấn đề tranh luận đặt ra xung quanh khái niệm dư luận xã hội, các quan điểm của các ngành khoa học xã hội khác nhau Ngoài ra, việc phân tích cấu trúc xã hội của dư luận

xã hội cũng giúp người học hiểu rõ hơn nội hàm khái niệm dư luận xã hội Khái niệm dư luận xã hội còn được làm rõ hơn thông qua phân biệt và so sánh với khái niệm có liên quan như: tin đồn, giá trị, chuẩn mực

1.1 Khái niệm dư luận xã hội

1.1.1 Khái niệm

a Theo nghĩa từ:

Dư luận xã hội là một hiện tượng xã hội khá đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với

sự tồn tại của xã hội loài người Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi một nền văn hoá khác nhau hay ở những cộng đồng khác nhau, nhận thức của con người về dư luận xã hội thường khác nhau, phản ánh sự phức tạp, đa diện của hiện tượng này Tuy nhiên, nó lại là hiện tượng có tầm quan trọng xã hội, ảnh hưởng đến cá nhân, nhóm và cộng đồng Trong thời

kỳ nguyên thuỷ, khi nhà nước và pháp luật chưa xuất hiện, dư luận xã hội đóng vai trò kiểm soát hành vi xã hội, duy trì trật tự xã hội Trong xã hội hiện đại, ngay cả khi nhà nước và pháp luật xuất hiện, DLXH vẫn đóng góp vai trò quan trọng trong xã hội, cảnh báo, kiểm soát hành vi lệch chuẩn đối với cá nhân, hoàn thiện hệ thống xã hội theo những cách mà chính người dân mong muốn

Hiện nay có khá nhiều tranh luận ai là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này Có ý kiến cho rằng nhà hoạt động xã hội người Anh, J.Solsbery sử dụng lần đầu tiên vào năm

1159 Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng Rút xô mới là người sử dụng thuật ngữ này đầu tiên vào năm 1744

Thống kê vào năm 1965 của Harwood Childs cho biết có trên 48 định nghĩa khác nhau về dư luận xã hội Mặc dù có rất nhiều quan niệm khác nhau, khiến người học bối

Trang 9

trong lịch sử"1 Hiện nay chưa có một tác giả nào thống kê cập nhật lại nhưng có lẽ con

số không dừng ở 48 nữa, đồng thời đây vẫn là khái niệm rất được quan tâm ở lĩnh vực khoa học xã hội hiện nay, thu hút sự chú ý, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học khác nhau Ngay tại Việt Nam, thuật ngữ DLXH cũng được sử dụng rất phổ biến trên báo chí, truyền thông đại chúng hay trong rất nhiều các bộ môn khoa học xã hội: triết học, chính trị học,

xã hội học, tâm lý học, báo chí học, công tác tư tưởng, tuyên truyền

Dư luận xã hội xuất phát từ từ gốc tiếng Anh "public opinion" với "public" có nghĩa

là công cộng, công khai và "opinion" là ý kiến, quan điểm Do vậy, ở Việt Nam, có quan điểm cho rằng nên dùng thuật ngữ "công luận" thay cho "dư luận xã hội Ở cả tiếng Anh

và tiếng Việt, các từ này đều có mang đa nghĩa Nhà xã hội học Habermas (Habermas, 1962) đã cho rằng có không ít hơn 4 nghĩa hàm chứa trong từ "public":

- Công chúng có khả năng tiếp cận (thông tin, vấn đề)

- Công chúng có quan tâm tới vấn đề, sự kiện, hiện tượng

- Có tính nổi trội, đại diện, gây chú ý

- Có khả năng chia sẻ thông tin (đưa vấn đề ra công luận)

Ngoài ra, "opinion" hay là quan điểm, ý kiến đánh giá thường có thể thay đổi hay mang tính chủ quan, phụ thuộc vào hoàn cảnh, bối cảnh, khả năng nhận thức, các giá trị, chuẩn mực khác nhau Để bàn luận về đặc trưng của "ý kiến, quan điểm", Socrat (469 -

399 TCN) cho rằng "Ý kiến là cái gì đó nằm giữa sự mù quáng và tri thức", E.Kant (1724

- 1804) cho rằng "ý kiến nằm thấp hơn so với kiến thức và niềm tin" Như vậy, rõ ràng

thành phần chủ đạo của dư luận xã hội là các quan điểm, ý kiến, đánh giá chứ không phải

là chân lý, không phải là kết luận khoa học, do vậy nó có thể đúng hoặc sai, có thể phản ánh chân thực hoặc chưa chân thực bản chất vấn đề Đặt "ý kiến, quan điểm, đánh giá" của các cá nhân trong sự tương tác, va đập ý kiến của nhóm, cộng đồng, có thể những đặc trưng hợp lý sẽ được nhấn mạnh và nhận được sự ủng hộ, đồng tình Do vậy dư luận xã

1 Price, V (1992) Public opinion Newbury Park, CA: Sage, tr.1

Trang 10

hội có thể dễ đạt được sự hợp lý nói chung và nó còn tuỳ thuộc vào nhiều nhân tố xã hội tác động, môi trường văn hoá, chính trị, xã hội, trình độ dân trí

Như vậy, về nghĩa từ, dư luận xã hội có thể xem là các quan điểm, ý kiến của công chúng về vấn đề công chúng quan tâm, đồng thời công chúng có khả năng tiếp cận thông tin, chia sẻ và đưa vấn đề ra bàn bạc một cách công khai trước công luận

b Một số định nghĩa của các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam

Một số quan điểm trình bày khái niệm dư luận xã hội trên thế giới và Việt Nam được trích dẫn như sau:

Quan điểm của Mackinon (Mackinon, 1828): Dư luận xã hội là ý kiến của nhóm có

đủ thông tin DLXH có thể xem là trao đổi về bất kỳ chủ đề gì mà được người có nhiều thông tin nhất, trí tuệ nhất, đạo đức nhất trong cộng đồng ấp ủ Như vậy quan điểm này

có phần nghiêng về những ý kiến của những người được xem là "thông thái", người gác cổng thông tin của cộng đồng Một mặt, quan điểm đề cao việc dư luận chỉ xuất hiện chính xác và đầy đủ từ những người có thông tin chính xác và đầy đủ Tuy nhiên, nếu vận dụng không tốt và đặt trong bối cảnh hiện nay, quan điểm này nếu được áp dụng sẽ dễ dàng bỏ qua quan điểm, ý kiến của tầng lớp lao động nghèo, tầng lớp yếu thế và thiếu thông tin

Quan điểm của của Young (Young, 1923): DLXH hình thành theo cách hợp lý hoá,

là sự đánh giá của cộng đồng tự ý thức về một vấn đề có tầm quan trọng chung, thông qua thảo luận công cộng Như vậy quan điểm của Young đã chú trọng hơn đến tính cộng

đồng và sự thảo luận cộng đồng trong quá trình hình thành dư luận xã hội cũng như ưu tiên vấn đề có tầm quan trọng chung của cộng đồng

Cùng nhấn mạnh đến tính công chúng trong việc tham gia thảo luận, tranh luận công khai, Folsom (1931) làm rõ hơn: Khi có sự tham gia của công chúng hay của một nhóm thứ cấp bên cạnh một nhóm sơ cấp, nhóm giao tiếp trực diện, chúng ta có "dư luận xã hội" (Folsom, 1931)

Tiếp cận ở góc độ nghiên cứu xã hội học thực nghiệm, các tác giả Warner và Child đưa ra quan điểm gắn liền với một cuộc điều tra xã hội học về dư luận xã hội: Warner cho

Trang 11

trong điều kiện những cuộc phỏng vấn Trong khi đó, Childs thì cho rằng: DLXH là những

ý kiến cá nhân ở bất cứ nơi nào mà ta có thể tìm thấy chúng (Childs, 1965) Như vậy, dư luận xã hội dưới góc nhìn của một số nhà xã hội học được giới hạn trong khuôn khổ của một cuộc điều tra, trong đó có thể phải đảm bảo các tiêu chí của nó như: tính đại diện của

ý kiến trong cộng đồng, tính khách quan trong việc lấy ý kiến

Quan điểm của một số nhà nghiên cứu Việt Nam:

Quan điểm của tác giả Lương Khắc Hiếu và cộng sự trình bày trong cuốn "Nghiên

cứu và định hướng dư luận xã hội" (2014): "Dư luận xã hội là tập hợp ý kiến cá nhân,

biểu thị trạng thái ý thức của cộng đồng nào đó, là sự phán xét đánh giá của cộng đồng người ấy đối với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội có liên quan đến nhu cầu, lợi ích của họ trong một thời điểm nhất định." 2

Tác giả Nguyễn Quý Thanh trình bày trong cuốn sách "Xã hội học về Dư luận xã

hội": "DLXH là ý kiến có tính chất đánh giá về các vấn đề xã hội mà nhóm công chúng

cảm thấy có ý nghĩa với họ hoặc là vấn đề động chạm đến lợi ích chung và giá trị chung"3 Trong định nghĩa này, tác giả đã nhấn mạnh đến 3 đặc trưng cơ bản của DLXH:

- DLXH không phải là ý kiến chung chung mà có tính chất đánh giá

- Tác giả nhấn mạnh đến các nhóm công chúng: không phải là tập hợp các ý kiến cá nhân đơn lả mà quan tâm đến các nhóm công chúng có liên quan khác nhau về lợi ích trực tiếp hay gián tiếp

- Vấn đề mà DLXH quan tâm phải là vấn đề có tầm quan trọng xã hội, liên quan đến lợi ích của người dân, các nhóm công chúng

Quan điểm của tác giả Phạm Chiến Khu, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu dư luận xã hội, ban tư tưởng văn hoá trung ương đưa ra quan điểm về DLXH, trong đó chú trọng đến việc tồn tại các luồng DLXH xã hội về một vấn đề, sự kiện, hiện tượng:

2 Lương Khắc Hiếu, 2014, Nghiên cứu và định hướng Dư luận xã hội, Nhà xuất bản lý luận chính trị, trang 36

3 Nguyễn Quý Thanh, 2006, Xã hội học về dư luận xã hội Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 48

Trang 12

Dư luận xã hội là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự Tuy nhiên, cần phải lưu ý đến các nội hàm sau đây của định nghĩa này:

• Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau;

• Dư luận xã hội có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau;

• Luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến) hoặc hẹp (một

• Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự (động chạm đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người) mới có khả năng tạo

ra dư luận xã hội./

Các điểm chung trong quan điểm của các nhà nghiên cứu Việt nam khi bàn về khái niệm dư luận xã hội:

- Một là: DLXH là các ý kiến, đánh giá tồn tại dưới dạng phán xét Điều này có nghĩa

là nó không phải đơn thuần là nhận định thông thường mà bao hàm trong đó sự đánh giá: đúng/sai; tốt/xấu; tích cực/tiêu cực; ủng hộ đồng tình/ phản đối ở các mức độ khác nhau Bên cạnh hai thái cực của phán xét, cũng có thể tồn tại những nhóm ở giữa chưa có phán xét rõ ràng (không ủng hộ cũng không phản đối, không cho rằng tốt cũng không cho rằng xấu)

- Không phải mọi vấn đề xảy ra hàng ngày đều trở thành chủ đề phán xét, đánh giá của dư luận xã hội mà chỉ những vấn đề có tầm quan trọng, động chạm đến lợi ích, gây được sự chú ý, quan tâm đối với công chúng, có tầm quan trọng xã hội nhất định

- Dư luận xã hội không đơn giản là "dấu cộng" các ý kiến của các cá nhân, mà là ý

Trang 13

những ai? Nhiều hay ít? Để trả lời cho câu hỏi này, tác giả Lương Khắc Hiếu sử dụng thuật "tập hợp" các ý kiến, trong khi đó tác giả Phạm Chiến Khu phân chia chi tiết hơn, trong tập hợp các ý kiến đó có thể phân loại thành các luồng dư luận xã hội khác nhau: DLXH có thể bao gồm nhiều luồng, mỗi luồng là tập hợp các ý kiến giống nhau Một số tác giả, trong đó có tác giả Nguyễn Quý Thanh đề cập đến phán xét đánh giá của "nhóm xã hội" Đây là hướng tiếp cận khái niệm mang đậm đặc trưng

xã hội học: nhóm xã hội là tập hợp các cá nhân cùng chia sẻ mối quan tâm, lợi ích, các nhóm xã hội khác nhau có thể do khác biệt lợi ích khác nhau dẫn đến sẽ có những phán xét đánh giá khác nhau đối với cùng một sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội xảy ra, do vậy có thể có những luồng ý kiến khác nhau bắt nguồn từ sự khác biệt về lợi ích, khác biệt về các giá trị, văn hoá, trình độ, mối quan tâm

c Các tranh luận xung quanh khái niệm dư luận xã hội

Khi bàn về khái niệm dư luận xã hội, TS Phạm Chiến Khu có đặt ra một số câu hỏi mang tính chất tranh luận để làm rõ hơn khái niệm DLXH

- Có phải là ý kiến đa số mới được gọi là dư luận xã hội không?

- Trong thành tố cấu thành DLXH có yếu tố lý trí không hay đơn thuần là yếu tố cảm xúc?

- Dư luận xã hội có phải là chân lý và có khả năng phản ánh chân lý hay không?

- DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân có tính tự phát hay là một dạng ý thức tập thể có tổ chức

Tác giả đã đưa ra quan điểm lập luận đối với từng câu hỏi nói trên Về ý kiến đa

số và DLXH, tác giả cho rằng cả về mặt lý luận và thực tiễn đều không đủ cơ sở để cho rằng ý kiến của đa số mới được gọi là dư luận xã hội Về mặt lý luận, không có

cơ sở nào khẳng định dư luận đa số cần coi trọng hơn dư luận của thiểu số, và không phải ý kiến thiểu số luôn sai hay không hợp lý, và tại một thời điểm, ý kiến đó có thể

là của thiểu số nhưng trong tương lai, có thể trở thành đa số

Về câu hỏi DLXH có yếu tố ý chí không hay đơn thuần là yếu tố tình cảm Theo tác giả, DLXH bao gồm và là tổng hợp của nhận thức, tình cảm và ý chí Nó không đơn thuần là lời nói suông của công chúng mà hàm chứa nội lực sức mạnh to lớn

Trang 14

Một chủ trương, chính sách hay chương trình nào đó có được sự ủng hộ mạnh mẽ của chính quyền sẽ chuyển hoá thành phong trào thi đua sôi nổi, thực hiện thắng lợi được chủ trương đó Những vấn đề không hợp lòng dân, không nhận được sự ủng hộ, đồng tình, nếu không được lắng nghe, giải quyết có thể chuyển hoá thành những "phản ứng tập thể" hay hình thành tâm trạng xã hội không tích cực

Về khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải của DLXH, có phải DLXH bao giờ cũng đúng không? Tác giả cho rằng thực tế có 2 luồng ý kiến: một số cho rằng DLXH chịu ảnh hưởng nặng nề của các thành kiến, định kiến nên không có khả năng phản ánh chân lý, lẽ phải Ngược lại một số lại cực đoan "sùng bái" dư luận của đa số, họ nhất nhất làm theo ý kiến đa số vì nghĩ rằng ý kiến đa số bao giờ cũng đúng và thiểu số

bao giờ cũng sai Trên cơ sở hiểu biết về DLXH, tác giả cho rằng: "Dù có đúng đến

mấy thì dư luận xã hội vẫn có những hạn chế, không nên tuyệt đối hoá khả năng nhận thức của dư luận xã hội Dù có sai đến mấy, trong dư luận xã hội cũng có những hạt nhân hợp lý, không thể coi thường, bỏ qua Chân lý của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng, dư luận của thiểu số cũng sai Cái mới, lúc đầu, thường chỉ có một số người nhận thấy và do đó dễ bị đa số phản đối."

Một vấn đề có tính tranh luận khác: DLXH là tập hợp các ý kiến cá nhân, có tính

tự phát hay là một dạng thức ý kiến tập thể, có tính tổ chức? Tác giả cho rằng ý kiến chung của một tổ chức là chính kiến của tổ chức đó chứ không phải là DLXH Tác giả nghiên về đặc trưng cơ bản của DLXH: các luồng ý kiến được hình thành theo con đường tự phát, tự nhiên là đặc trưng của DLXH, tuy nhiên nó cũng không phải

là dấu cộng cơ học các ý kiến mà được hình thành thông qua quá trình trao đổi, va đập, thảo luận, cộng hưởng, tạo thành một chỉnh thể ý kiến bao hàm trong đó cả yếu

tố tinh thần, nhận thức, tình cảm, ý chí của các lực lượng xã hội nhất định

Các phân tích nhấn mạnh đến các điểm dễ gây hiểu khác nhau, thậm chí là tranh luận của tác giả Phạm Chiến Khu là một góc nhìn về DLXH, có thể không phải nhà nghiên cứu nào cũng đồng tình với tất cả các quan điểm trên nhưng qua phân tích của tác giả đã giúp hiểu sâu sắc hơn về nội hàm khái niệm dư luận xã hội, từ đó tiếp tục

Trang 15

phát triển các quan điểm tương ứng với các hướng tiếp cận khác nhau, đồng thời làm giàu thêm bởi thực tiễn sinh động

d Các tiếp cận nghiên cứu DLXH từ các khoa học khác nhau

DLXH là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học xã hội như: chính trị học, tâm lý học, xã hội học, truyền thông báo chí Tuy mỗi ngành khoa học sẽ quan tâm đến một số lĩnh vực trọng tâm nhất định như có thể vẫn tồn tại những điểm giao thoa ở một số ngành khoa học xã hội, hay liên ngành khoa học xã hội cùng quan tâm

Chính trị học hay khoa học chính trị quan tâm đến quyền lực chính trị, hệ thống

chính trị và hành vi chính trị, các lý thuyết và thực hành chính trị Do vậy, khi nghiên cứu DLXH, khoa học chính trị sẽ tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phân bổ quyền lực chính trị và hành vi chính trị, trong đó có yếu tố quan trọng là DLXH Ngoài ra, nó cũng nghiên cứu tác động của DLXH đến hành vi lựa chọn cử tri, tâm thế chính trị, định kiến chính trị, ràng buộc chính trị đối với DLXH

Tâm lý học xã hội cũng dành sự quan tâm đến nghiên cứu DLXH ở nhiều góc độ

Tâm lý học, theo quan điểm của nhà tâm lý học nổi tiếng Gordon Allport, là khoa học nghiên cứu các quá trình và hiện tượng tâm lý của các nhân, bao gồm: suy nghĩ, cảm xúc, hành vi bị ảnh hưởng bởi thực tại khách quan, thế giới trong tưởng tượng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Bên cạnh đó tâm lý xã hội, đặc biệt tâm lý đám đông ảnh hưởng đáng kể đến đến các hành vi, nhận thức, thái độ tập thể Tâm lý học nghiên cứu ảnh hưởng hay những áp lực của DLXH đến các quá trình tâm lý cá nhân: cô đơn, tách biệt, bị phân biệt đối xử, rối loạn tâm lý, buồn chán, có ý định hay cố gắng

tự tử

Báo chí và Truyền thông đại chúng: dành sự quan tâm lớn đến nghiên cứu DLXH,

đặc biệt là mối quan hệ hai chiều giữa báo chí, truyền thông đại chúng và DLXH Ví

dụ như nó nghiên cứu vai trò của TTĐC đối với quá trình hình thành DLXH, vai trò của báo chí và TTĐC trong việc duy trì dư luận cũng như làm giảm sức nóng, triệt tiêu dư luận, đổi chiều phán xét của dư luận Ngược lại DLXH cũng có vai trò nhất định đối với sự phát triển của bao chí và TTĐC Ở các nội dung nghiên cứu này có

Trang 16

nhiều nội dung cùng chia sẻ với đối tượng nghiên cứu của xã hội học truyền thông đại chúng

Xã hội học có rất nhiều các chuyên ngành chuyên biệt, trong đó bao gồm cả xã

hội học chính trị, xã hội học truyền thông đại chúng và thậm chí có riêng cả chuyên ngành nghiên cứu Xã hội học về DLXH Do vậy, đối với một số ngành khoa học khác như Xã hội học chính trị hay Xã hội học truyền thông đại chúng có sự giao thoa nhất định trong nghiên cứu DLXH với chuyên ngành xã hội học về DLXH

Theo trích dẫn từ quan điểm của tác giả Nguyễn Quý Thanh, xã hội học về DLXH

là một lĩnh vực của xã hội học, có đối tượng nghiên cứu tập trung vào: Nghiên cứu

cơ cấu, các quy luật, các kênh, các cơ chế hình thành và vận hành của DLXH dưới tác động của những quy luật xã hội chung cũng như của những đặc thù riêng ở mỗi

xã hội

Trên cơ sở xác định đối tượng nghiên cứu xã hội học DLXH nói trên, một số hệ vấn đề nghiên cứu của xã hội học về DLXH được tác giả Nguyễn Quý Thanh (2006) xác định như sau:

- Các điều kiện tăng cường vai trò của DLXH

- Xây dựng các lý thuyết về xã hội đại chúng và DLXH

- Phân tích bản chất, cấu trúc, chức năng của DLXH

- Nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng và DLXH

- Nghiên cứu tâm thế chính trị, ràng buộc chính trị và sự lựa chọn của cử tri

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các đặc điểm dân số xã hội đến sự hình thành dư luận xã hội: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, dân tộc, tôn giáo, nơi cư trú

- Nghiên cứu nội dung, biểu hiện, quy luật dư luận xã hội đối với vấn đề cụ thể: thất nghiệp, tệ nạn xã hội, tội phạm, thất nghiệp, bất bình đẳng

Cuốn giáo trình nghiên cứu Dư luận xã hội sẽ chú trọng đến nghiên cứu DLXH

từ góc độ tiếp cận Xã hội học, trong đó chú trọng đến tổng hợp khái niệm, quan điểm, nhận thức chung về DLXH Trên cơ sở nhận thức chung về DLXH, giáo trình cũng

Trang 17

đánh giá chính xác DLXH và phương pháp phân tích số liệu, trình bày kết quả nghiên cứu DLXH

1.1.2 Cấu trúc của dư luận xã hội

a Cấu trúc khái niệm dư luận xã hội phân tích theo chủ thể - đối tượng phản ánh

Đối với nhà nghiên cứu, việc phân tích rõ cấu trúc của DLXH theo các đặc trưng chủ thể, khách thể, đối tượng phản ánh, hình thức biểu hiện có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các nội dung phân tích, nghiên cứu

Về chủ thể của DLXH: như đã phân tích trong phần khái niệm, đó là những nhóm xã

hội mà lợi ích của họ có liên quan đến vấn đề, sự kiện, quá trình xã hội mà DLXH đang quan tâm, phản ánh Tuỳ vấn đề động chạm đến lợi ích của nhiều người hay ít người mà chủ thể có thể là nhóm lớn hay nhóm nhỏ Lợi ích ở đây cần được hiểu rộng, bao gồm cả lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài

Do liên quan đến lợi ích khác nhau, do vậy sẽ hình thành các chủ thể của các luồng

dư luận khác nhau, những chủ thể của các luồng dư luận này ngoài khác nhau về lợi ích,

họ có thể khác biệt về các đặc điểm nhân khẩu học, trình độ văn hoá, định hướng giá trị khác nhau Do vậy, nhà nghiên cứu cần có những phân tích cụ thể nhằm giải thích và phân tách sự khác biệt đối với những chủ thể của các luồng dư luận Các nghiên cứu cần hướng tới xác định chủ thể của các luồng dư luận, đồng thời đánh giá được đâu là dư luận của một nhóm, một công động, đâu là dư luận của đa số nhân dân

Khi xác định chủ thể DLXH, xem xét tới 3 điều kiện:

- Lợi ích của nhóm xã hội (chủ thể) có mối quan hệ với sự kiện, hiện tượng, quá trình

xã hội đang diễn ra

- Các thành viên trong nhóm phải tham dự vào quá trình trao đổi, thảo luận công khai, nắm bắt được vấn đề đang diễn ra, bày tỏ quan điểm, chứng kiến, phán xét của bản thân

- Nhóm xã hội đó phải có phương tiện hoặc tiếp cận được các diễn đàn thực hiện việc tìm kiếm, trao đổi, phổ biến thông tin về vấn đề quan tâm

Về đối tượng phản ánh: DLXH có đối tượng phản ánh khá rộng, tất cả các vấn đề, sự

kiện, quá trình xã hội, bao phủ mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, tôn giáo,

Trang 18

pháp luật, gia đình Tuy nhiên, các vấn đề, sự kiện, quá trình xã hội này phải đảm bảo các điều kiện:

- Có liên quan đến lợi ích của nhóm, cộng đồng hay toàn bộ xã hội, bao gồm lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài

- Có tầm quan trọng xã hội đối với một nhóm xã hội hay phổ biến hơn là một cộng đồng hay cả xã hội

Có những vấn đề xã hội chung, thu hút được nhiều nhóm, nhiều tầng lớp nhân dân tham gia bày tỏ quan điểm, đánh giá, phán xét Nhưng cũng có những vấn đề chỉ là mối quan tâm của nhóm xã hội này, cộng đồng xã hội này mà không trở thành mối quan tâm của cộng đồng xã hội khác Tuy nhiên, có những vấn đề có thể trở thành mối quan tâm của DLXH ở thời điểm trong quá khứ nhưng không là vấn đề quan tâm ở hiện tại hay ngược lại, hoặc có những vấn đề là mối quan tâm ở quốc gia này, nền văn hoá này nhưng chưa chắc đã là mối quan tâm ở nền văn hoá khác, quốc gia khác

Hình thức biểu hiện của DLXH: Dư luận xã hội được biểu hiện ra phổ biến và rõ ràng

nhất thông qua phán xét đánh giá Có 3 loại phán xét: phán xét mô tả, phán xét chế định (chuẩn mực), phán xét đánh giá, tuy nhiên hình thức biểu hiện của dư luận xã hội là phán xét đánh giá: thể hiện sự đồng tình/ủng hộ hay phản đối/phê phán, thể hiện cụ thể các mức độ đồng tình hay mức độ phê phán Trước một sự vật, hiện tượng, quá trình xã hội xảy ra có liên quan đến các nhóm xã hội, trên cơ sở tìm hiểu về vấn đề hoặc đã có sẵn nhận thức về vấn đề, họ bày tỏ thái độ, nhận thức và thái độ được biểu thị bằng phán xét đánh giá đối với vấn đề, sự kiện, hiện tượng Ngoài ra, DLXH không chỉ dừng lại ở phán xét, phát biểu ý kiến mà còn thể hiện bằng hành động cụ thể nhằm củng cố, hỗ trợ cho các phán xét của mình, ví dụ như: đình công, biểu tình

Cơ chế hình thành: Trao đổi thảo luận công khai là cơ sở, con đường hình thành

DLXH Thông qua quá trình trao đổi thảo luận công khai, các ý kiến, quan điểm, phán xét được va đập, so sánh, chia sẻ, các bên sẽ dần thấy được những điểm bất hợp lý cần loại bỏ cũng như những điểm hợp lý cần giữ lại, giữ được tính hợp lý của DLXH khi nó định hình Cơ chế trao đổi công khai để hình thành nên DLXH chính là yếu tố góp phần phân biệt rõ DLXH với tin đồn

Trang 19

b Cấu dư luận xã hội phân theo các yếu tố hợp thành: tình cảm, duy lý và ý chí

Dư luận xã hội được hình thành trên cơ sở tương tác xã hội: các ý kiến cá nhân được trình bày, được tranh luận và qua quá trình tương tác, tranh luận các luồng ý kiến sẽ dần định hình Ý kiến, phản hồi, phán xét đánh giá của cá nhân hay nhóm, cộng đồng được đưa ra trên cơ sở 3 yếu tố cấu thành: tình cảm, duy lý và ý chí Chính yếu tố cấu thành này cho thấy rõ bản chất phức tạp của DLXH, khả năng khó phản ánh chân lý cũng như bản chất "mâu thuẫn" của nó Đây cũng là yếu tố cần cân nhắc khi lựa chọn các thời điểm khác nhau nghiên cứu, thăm dò DLXH vì thời điểm khác nhau có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu thu thập được

- Yếu tố tình cảm một mặt nó có thể bị chi phối bởi niềm tin và nhận thức, nhưng mặt khác có thể không bị chi phối nhiều bởi niềm tin và nhận thức mà bị quyết định bởi yếu

tố lợi ích Do vậy yếu tố tình cảm trong các phán xét của DLXH là yếu tố có thể dẫn đến

sự "phi lý" trong các luồng DLXH theo như Hegel đã từng bàn về bản chất của DLXH

- Bên cạnh yếu tố cảm xúc, tình cảm thì DLXH còn hàm chứa yếu tố duy lý: Duy lý hay chính là sự tính toán hợp lý, có lý, nhận thức trên cơ sở lý trí của các các nhân hay nhóm xã hội đặt trong mối quan hệ với nhiều yếu tố: pháp luật, văn hoá, giá trị, đạo đức, nhận thức Yếu tố duy lý diễn ra đồng thời với tình cảm, cảm xúc, lý trí góp phần giới hạn được những phi lý hay sự đi quá xa của yếu tố cảm xúc Trong lúc mới khởi xướng, tạo lập vấn đề, các phán xét của các cá nhân có thể bị yếu tố cảm xúc lấn át, từ đó khiến DLXH nặng màu duy tình Tuy nhiên trong quá trình hình thành, tương tác các quan điểm, phán xét, yếu tố "duy lý" sẽ góp phần thuyết phục dần các bên, những lập luận có cơ sở khoa học, pháp luật sẽ cùng tham gia vào quá trình tương tác và giúp cá nhân cân bằng hợp lý giữa yếu tố duy lý và tình cảm Tuy nhiên cũng sẽ không tránh khỏi những tình huống yếu tố tình cảm nổi trội, gây tâm lý xúc động tập thể tạo những cộng hưởng lấn át

tư duy duy lý Đây là điều dễ xảy ra khi các chủ thể DLXH bị hút vào tâm lý đám đông, khi đó yếu tố cảm xúc thường lấn át yếu tố lý trí

- Yếu tố ý chí chính là quyết tâm hay cam kết hành động dựa trên trên tình cảm và duy lý Do vậy DLXH không chỉ là những lời nói suông mà nó có sức mạnh nhất định, ảnh hưởng đến từng cá nhân, cộng đồng và xã hội Ở những nhóm, những cộng đồng xã hội nào có khả năng tổ chức tốt lực lượng, biến những vấn đề động chạm đến lợi ích của

Trang 20

họ từ những phán xét đơn thuần thành sức mạnh hành động thì rất có thể họ có khả năng

tổ chức tốt lực lượng, lên kế hoạch, chiến lược để phổ biến quan điểm, ý kiến, lập luận, phán xét của nhóm cũng như có kế hoạch vận động, truyền thông, thuyết phục được các bên liên quan

1.1.3 Phân biệt dư luận xã hội với các khái niệm có liên quan

Một số khái niệm có mối quan hệ với DLXH hoặc có một số đặc điểm giống với DLXH như: tin đồn, giá trị, chuẩn mực Việc phân biệt, chỉ ra sự khác biệt nhằm giúp nhà nghiên cứu tránh nhầm lẫn, từ đó có những biện pháp quản lý phù hợp, đúng đắn trên cơ

sở hiểu biết rõ sự khác biệt này

a Tin đồn

* Định nghĩa, đặc điểm, phân loại, quy luật tin đồn

Tin đồn rất phổ biến và tồn tại ở hầu hết các xã hội, ngay cả trong bối cảnh công nghệ thông tin rất phát triển thì gần như tin đồn vẫn hiện hữu Việc quản lý tin đồn hiệu quả cần dựa trên hiểu biết về nhận biết rõ, đặc điểm cũng như con đường, cơ chế hình thành của nó

Định nghĩa tin đồn: Tin đồn đơn thuần là những thông tin về một vấn đề, hiện tượng

nào đó, lan truyền trong nhóm, cộng đồng bằng hình thức truyền miệng trực tiếp hoặc có

sự trợ giúp của các cách thức gián tiếp khác: tờ rơi, mạng xã hội, tin nhắn

Đặc điểm tin đồn:

- Tin đồn là một sản phẩm tâm lý xã hội, dễ bị chi phối bởi tâm lý đám đông, việc lan truyền nhanh hay chậm, mạnh hay yếu phụ thuộc khá nhiều vào trạng thái tâm lý xã hội, tâm lý nhóm, cá nhân trong quá trình truyền thông tin

- Tin đồn có thể không có thật hoặc xuất phát từ một sự kiện có thật nhưng bị làm méo mó đi, thêm bớt thông tin để ly kỳ, hấp dẫn và có thể truyền đi xa Với tin đồn xuất phát từ hiện tượng không có thật, chủ thể thường tưởng tượng ra và cố gắng tạo ra giống như là có thật, rồi tổ chức theo quy luật tâm lý nhất định nhằm thu hút sự quan tâm của công chúng

Trang 21

- Tin đồn không phải bao giờ cũng sai nhưng là thông tin không chính thức Tính hấp dẫn, đánh vào tâm lý cộng đồng cùng hình thức được nguỵ tạo giống như thật là các yếu

tố góp phần làm cho tin đồn được lan xa và lan rộng hơn

- Do được nguỵ tạo về hình thức, thêm thắt các yếu tố ly kỳ nên gây khó khăn cho công tác quản lý trong việc kiểm chứng mức độ chân thật của thông tin, khó xác minh nguồn gốc thông tin, điểm xuất phát ban đầu của tin đồn

- Tin đồn xuất hiện cả khi thiếu thông tin, khiến cộng đồng hay mỗi cá nhân dễ suy diễn thêm, hoặc kể cả khi thừa thông tin, quá nhiều thông tin

- Tin đồn thường gắn với động cơ, mục đích của người phát tin: trả thù cá nhân, công

ty, đối tác; gây hoang mang sợ hãi trong công chúng, gây lợi cho một cá nhân, tăng cường

uy tín cho cá nhân, tập thể nào đó

- Tin đồn thường xuất phát ở những nơi mạng lưới thông tin còn yếu kém, người dân

ít tiếp cận được với nhiều thông tin chính thức, dễ tin vào những thông tin được truyền miệng hay thông qua mạng lưới kín, nội bộ

- Tin đồng cũng xuất hiện phổ biến trong bối cảnh bùng nổ thông tin từ mạng xã hội, hàng ngày con người tiếp xúc với quá nhiều thông tin tràn lan và họ không có đủ năng lực, thời gian để kiểm chứng thông tin

Cường độ tin đồn và quản lý tin đồn:

Theo nhà tâm lý học Allport và Porstman thì công thức tính cường độ tin đồn như sau:

Cường độ tin đồn = Tính hấp dẫn + Tính không xác định

Như vậy tin đồn càng hấp dẫn, kèm theo với sự mơ hồ, bất định thì sẽ góp phần khiến chúng bay cao, bay xa hơn Công thức nói trên cũng giúp cho những nhà quản lý xã hội

có được phương pháp phù hợp để quản lý tin đồn: xác định nguồn tin, loại bỏ tính hấp dẫn đã được người đưa tin nhào nặn cường điệu thêm, đưa thông tin về đúng bản chất sự thật của nó

Phân loại tin đồn:

Trang 22

Tin đồn mong muốn: Là tin đồn hoàn toàn hư cấu, được nhào nặn theo sự tưởng tượng của chủ thể, có thể xuất phát từ cơ sở một vài hiện tượng nào đó có thật, nhưng sau đó hoàn toàn tưởng tượng các nội dung chính của hiện tượng, sự kiện theo hư cấu mong muốn của người đưa tin nhằm thoả mãn nhu cầu của chủ thể phao tin đồn Ví dụ như tin đồn bà lang, ông lang có thể chữa được bệnh ung thư

Tin đồn sợ hãi: Là tin đồn bắt nguồn từ một sự kiện, hiện tượng nào đó có thật, nhưng

đã khúc xạ bởi người đưa tin Ví dụ tin đồn về những ngôi nhà ma ở các địa phương: bắt nguồn từ những ngôi nhà bị bỏ hoang, sau đó được người kể thêm thắt thêm các yếu tố ly

kỳ, hấp dẫn

Tin đồn thù địch: Đối thủ trong kinh doanh hay mẫu thuẫn đưa ra những thông tin thất thiệt, gây tổn hại về vật chất, tinh thần cho cá nhân hoặc doanh nghiệp, gia đình

Quy luật tin đồn: Có 3 quy luật cơ bản có thể làm cơ sở để chủ thể tạo dựng tin đồn

theo mong muốn của họ:

- Quy luật đồng hoá: Làm cho sự kiện và các thông tin xung quanh sự kiện giống như thật

- Quy luật rút bớt chi tiết: Bỏ bớt những chi tiết phản ánh bản chất vấn đề, đưa thêm những tình tiết ly kỳ, hấp dẫn, huyền bí, có thể suy diễn theo đa nghĩa

- Quy luật cường điệu hoá: Thổi phồng, tô vẽ hiện thực khiến cho sự kiện, hiện tượng thay đổi về bản chất

* Phân biệt giữa dư luận xã hội và tin đồn:

- Do thu hút sự quan tâm của công chúng nên đều lan truyền nhanh và dễ biến dạng

Trang 23

- Cấu trúc của DLXH và tin đồn đều có yếu tố tinh thần, tình cảm ở trong đó nên dễ thu hút sự chú ý của công chúng Tuy nhiên, trong DLXH, yếu tố lý trí nổi lên hàng đầu, còn đối với tin đồn, thông tin thường được nhào nặn theo hướng thu hút cảm xúc của cá nhân, cộng đồng nhiều hơn

Điểm khác biệt: Mặc dù có một số điểm tương đối giống nhau, tuy nhiên DLXH và tin đồn có những đặc trưng khác biệt cơ bản về một số tiêu chí: Nguồn gốc, hình thức thể hiện, cơ chế hình thành và cơ chế lan truyền

1 Nguồn tốc Nguồn gốc thông tin thường

thể hiện bắt nguồn từ người khác: tôi nghe người ta nói, tôi thấy người nhà nói

Có nguồn gốc rõ ràng: phát ngôn, phán xét thường xuất phát từ cá nhân hay cộng đồng cụ thể: Ý kiến của tôi là; quan điểm của cộng đồng A là

2 Cơ chế hình

thành

Đề cao chính kiến cá nhân, truyền thông tin đơn thuần qua các kênh không chính thức và được các cá nhân tham gia vào cơ chế truyền tin truyền tin thêu dệt, thêm bớt cho ly kỳ hấp dẫn hơn

Thảo luận, trao đổi công khai trên các diễn đàn chính thức, phương tiện chính thức chính là đặc trưng quan trọng nhất của DLXH, đây cũng là đặc trưng dễ dàng phân biệt DLXH với tin đồn

3 Hình thức thể

hiện/bản chất

Chỉ là lời kể, thông tin đơn thuần về sự kiện, hiện trượng theo lối mô tả hiện tượng, quá trình xã hội

DLXH có hình thức biểu hiện đặc trưng là phán xét đánh giá: trong

đó thể hiện rõ thái độ, duy lý và ý chí Trong một số tình huống, nó

có thể chuyển biến sang hành động

4 Phương pháp

lan truyền

Truyền miệng, tờ rơi, tin nhắn, mạng xã hội, các con đường không chính thức

Cả con đường chính thức và không chính thức

Trang 24

Trong một số tình huống, nếu không có biện pháp quản lý phù hợp, DLXH sẽ trở thành tin đồn, đặc biệt đối với những vấn đề thiếu thông tin, đột ngột không có các nguồn thông tin chính thức đủ để có những phán xét khách quan, người dân sẽ dễ suy diễn vấn

đề theo chiều hướng suy nghĩ của họ Ở một mặt khác, tin đồn có thể trở thành DLXH khi nó được xác minh đầy đủ, loại bỏ hết những thông tin không đúng sự thật và vấn đề đưa ra công luận là vấn đề có tính thời sự, động chạm đến lợi ích của người dân

Hiểu biết sự khác biệt giữa tin đồn và DLXH, cũng như cơ chế biến đổi giữa tin đồn

và DLXH sẽ góp phần giúp các nhà quản lý đưa ra những biến pháp quản lý phù hợp và

có căn cứ khoa học

b Chuẩn mực xã hội

- Khái niệm:

Chuẩn mực là những quy tắc, khuôn mẫu đặt ra cho mỗi cá nhân trong một xã hội,

nó là sự cụ thể hoá về giá trị xã hội thông qua các khuôn mẫu hành vi yêu cầu đối với các

cá nhân hay nhóm xã hội Ví dụ như giá trị được đề cao ở xã hội Việt Nam: tôn sư trọng đạo, tôn trọng thầy cô giáo những người truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho học sinh Giá trị này được phổ biến trong xã hội thông qua rất nhiều các câu nói dân gian: "một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy"; "Không thầy đố mày làm nên" Giá trị này được cụ thể hoá qua các chuẩn mực, những quy định cụ thể: ví dụ giao tiếp giữa thầy và trò, xưng

hô, tương tác thầy và trò, phong cách ăn mặc, nói năng, ứng xử của thầy cô giáo Trên cơ

sở những chuẩn mực đó để công chúng đánh giá và phán xét về những hiện tượng, sự kiện lệch chuẩn trong mối quan hệ này Một số ví dụ như dư luận xã hội rất quan tâm đến những vấn đề xảy ra trong mối quan hệ giữa thầy cô giáo và học sinh thời gian gần đây: thầy cô có ứng xử bạo lực bằng lời nói hay hành vi với học sinh hay học sinh phản ứng

có tính chất bạo lực đối với thầy cô giáo trong môi trường học đường Đây là những vấn

đề không chấp nhận được, vi phạm các giá trị và khuôn mẫu ứng xử giữa thầy cô và học sinh

Trang 25

Chuẩn mực xã hội là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, nó phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một xã hội, đồng thời cũng có tính độc lập tương đối Do vậy, chuẩn mực xã hội có thể rơi vào tình trạng lạc hậu hơn so với các quan hệ kinh tế - xã hội hiện thời, hoặc cũng ở tình trạng tiến bộ hơn

- Mối quan hệ giữa chuẩn mực xã hội và dư luận xã hội:

* Dư luận xã hội đưa ra các phán xét, đánh giá trên cơ sở căn cứ của chuẩn mực xã hội

Dư luận xã hội là tổng hợp của tình cảm, duy lý và ý chí, biểu hiện cụ thể bằng các phán xét đánh giá Các phán xét đánh giá luôn đòi hỏi thể hiện được những mức độ của đánh giá, và chủ thể là cá nhân hay nhóm phải căn cứ trên những tiêu chí, căn cứ chung

để đưa ra những đánh giá Tiêu chí đó bao gồm quy định pháp luật, quy định, nội quy, quy chế và bên cạnh đó cũng không thể thiếu căn cứ xác định trên cơ sở chuẩn mực xã hội được thừa nhận bởi đông đảo người dân cùng chia sẻ những giá trị của nền văn hoá nói chung Chuẩn mực xã hội thường là thước đo song hành với các quy chuẩn pháp luật, quy định đối với các phán xét đánh giá Đối với một số sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội xảy ra phải đối mặt với DLXH không chỉ ở đánh giá về điều luật, quy định mà phải đối mặt với phán xét đánh giá trên cơ sở quy chuẩn pháp luật, ví dụ như phán xét về phụ

nữ có con trước khi kết hôn hay hiện tượng sống thử ở thanh niên trong thời gian trước đây

* Dư luận xã hội góp phần tạo ra chuẩn mực mới và dần loại bỏ những chuẩn mực lỗi thời

Chuẩn mực xã hội, mặc dù có tính ổn định và tương đối bền vững, tuy nhiên không phải là các giá trị bất biến Những điều kiện kinh tế, xã hội biến đổi sẽ dẫn theo những biến đổi Sự chuyển đổi là một quá trình, diễn ra từ từ, trải qua một quá trình chuyển đổi

Có thể đứng trước một vấn đề hay sự kiện xã hội, có những luồng dư luận trái chiều, sẽ

có những nhóm xã hội vẫn đánh giá theo những chuẩn mực truyền thống, nhưng cũng có thể xuất hiện những nhóm xã hội mới nhìn nhận trước được những điểm không hợp lý hay tính lỗi thời của chuẩn mực, thông thường họ là những người trẻ tuổi hơn và có xu hướng cởi mở hơn với những giá trị, chuẩn mực mới Có thể, ban đầu luồng dư luận khác biệt thường yếu ớt và không nổi trội, nhưng theo thời gian và cùng với sự biến đổi xã hội,

nó có thể nhận được sự ủng hộ của những thế hệ trẻ kế cận

Trang 26

Khi một chuẩn mực mới xuất hiện, chuẩn mực cũ sẽ biến đổi theo 2 xu hướng Nếu như nó đã quá lạc hậu, cũ kỹ, có tính bảo thủ và bị xã hội lên án thì nó sẽ dần biến mất Nhưng có một xu hướng khác, nếu như nó vẫn còn tính hợp lý với một bộ phận, một cộng đồng nhất định thì có thể nó vẫn tồn tại song hành trong xã hội

Ví dụ có khá nhiều các giá trị, chuẩn mực trong gia đình đã có xu hướng biến đổi theo thời gian Gia đình truyền thống coi trọng sự môn đăng hộ đối trong kết hôn, coi trọng sự phân vai rõ ràng: trong đó người phụ nữ được kỳ vọng sẽ ở nhà, làm việc gia đình, chăm con cái sau khi kết hôn, gia đình coi trọng sinh đẻ con cái, thể hiện ở quan điểm "đông con, lắm phúc, nhiều lộc"; "trời sinh voi, trời sinh cỏ" Khi chuyển sang xã hội hiện đại, một số giá trị căn bản và chuẩn mực căn bản trong gia đình đã có sự thay đổi theo hướng đa dạng hoá và phù hợp với từng hoàn cảnh Ngoài ra, giá trị con cái không còn nằm ở số lượng mà chuyển sang giá trị về mặt chất lượng, con cái là nguồn động lực tinh thần, thậm chí xuất hiện xu hướng mới: hôn nhân không con cái

Ngoài việc góp phần tạo ra những chuẩn mực mới, DLXH còn góp phần tích cực vào phổ biến những giá trị, chuẩn mực mới thông qua những phán xét đánh giá của các nhóm

xã hội được thể hiện thông qua nhiều kênh, nhiều diễn đàn khác nhau để đến với công chúng rộng rãi hơn

1.2 Lịch sử phát triển các hướng tiếp cận, nghiên cứu DLXH

1.2.1 Lịch sử các quan điểm, tiếp cận nghiên cứu dư luận xã hội trên thế giới

a Thời cổ đại, trung đại

Thời kỳ cổ đại, khái niệm hay quan điểm về DLXH chưa được trao đổi bàn bạc trực tiếp, mà đề cập đến gián tiếp trong các bàn luận về vấn đề quyền lực, vai trò và sức mạnh của người dân, cộng đồng Ví dụ như Aristotle, nhà triết học, bác học thời Hy Lạp cổ đại (384 - 322 TCN), ông được tôn vinh là "Cha đẻ của Khoa học chính trị" Khi đề cập đến

ý chí, quyền lực của nhà nước, ông đưa ra quan điểm rằng nó cần được xây dựng trên căn

cứ hợp với nguyện vọng nhân dân và xã hội: Quyền lực của nhà nước phải phục vụ toàn

xã hội, phải đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng xã hội Một tác giả khác, Polilus cho rằng, nền tảng đạo đức hay công bằng xã hội được xây dựng trên cơ sở lắng nghe ý kiến phản hồi về sự đồng tình hay không đồng tình của các nhóm xã hội đối với hiện thực xã hội hay các vấn đề xã hội Thomas d' Aquin, một trong những tu sỹ, linh mục người Ý, một

Trang 27

nhà nghiên cứu triết học và thần học, người rất có ảnh hưởng trong truyền thống chủ nghĩa kinh viện mặc dù đề cao vai trò của Chúa, nhưng song hành với sự đề cao đó là vai trò của nhân dân Ông cho rằng, quyền lực chính trị cao nhất thuộc về Chúa, tuy nhiên Chúa

có thể uỷ quyền lãnh đạo thông qua nhân dân Ngoài ra, quyền lực của nhàn ước cũng được thông qua nhân dân và nằm dưới sự lãnh đạo của nhà thờ

Giống như xã hội phương Tây, ý niệm về dư luận xã hội cũng chỉ được đề cập đến một cách gián tiếp trong các quan điểm của các nhà tư tưởng, học giả phương đông về

"lòng dân", "ý dân", "dân là gốc" Ví dụ như trong từ thời nhà Thương đã đề cập đến tư tưởng "Dân vi bang bản", hoặc Mạnh Tử có câu: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" Các tư tưởng này cho thấy những người đứng đầu đã sớm thấy tầm quan trọng của nhân dân, đặt vai trò nhân dân lên phía trước một bước so với người đứng đầu So sánh hình ảnh mối quan hệ vua tôi giống như thuyền với nước của Tuân Tử cũng đã làm

rõ hơn vai trò quan trọng của nhân dân, hợp lòng dân sẽ tạo thành sức mạnh phi thường,

và ngược lại nếu không hợp lòng dân sẽ là tiền đề cho các nguy cơ bất ổn: "Mối quan hệ giữa vua và tôi là mối quan hệ giữa thuyền và nước, nước có thể nâng thuyền cũng có thể lật thuyền" Nói ngắn gon về vấn đề này, Khổng Tử cho rằng: "dân vô tin bất lập" (Không tạo được niềm tin cho nhân dân thì chính quyền không đứng vững được)

Trong lịch sử giữ nước tại Việt Nam, các bậc tiền bối cũng đã nhiều lần đề cập đến vai trò quan trọng của người dân, các quyết sách cần được đặt lợi ích, ý chí của nhân dân lên hàng đầu Ví dụ như Trần Quốc Tuấn từng đưa ra triết lý: "Khoan thư sức dân để làm

kế sâu rễ bền gốc"; Nguyễn Trãi cũng đã đúc kết: "Đẩy thuyền cũng là dân mà lật thuyền cũng là dân" Ngoài ra dân gian Việt Nam từ xa xưa còn lưu truyền một câu nói để thể hiện sức mạnh của dư luận xã hội: "Lưỡi thế gian mạnh hơn giáo mác nhọn"

b Thời kỳ trung đại: Thế kỷ 17 - 18

W Tempee là người đã nhìn rõ vai trò của DLXH và xem nó như nguồn sức mạnh của quyền lực chính trị Trên cơ sở đó, ông là người đã khởi sướng tạo lập mạng lưới cộng tác viên để thu thập thông tin dư luận xã hội

Rútxô, một đại diện tiêu biểu của các nhà khai sáng đã thể hiện khá rõ quan điểm về DLXH và mục đích sử dụng DLXH trong công việc và hoạt động của chính phủ Ông

Trang 28

cho rằng, bản chất nổi bật của DLXH là "đánh giá xã hội", đồng thời vấn đề xã hội mà DLXH quan tâm cần đặt trọng tâm các đánh giá đó là: hoạt động của nghị viện hoặc chính phủ Quan điểm của ông được trình bày rõ ràng và mạch lạc trong tác phẩm: Công ước

xã hội với tư tưởng chủ đạo như sau: các luật lệ của nhà nước cần phù hợp với ý chí của nhân dân Quyền lực của nhà nước phải thể hiện phù hợp với các phán xét của nhân dân

Do vậy, ông đưa ra yêu cầu đối với các cuộc hội nghị nhân dân cần phải trả lời các vấn

cả những thành kiến và định kiến Dư luận xã hội được hình thành qua quá trình trao đổi,

do vậy nó tập hợp và giữ lại được những ý kiến chung, hay chính là "cái cốt tuỷ, cái chân

lý" như ông đúc kết Tuy nhiên DLXH không phải kết quả của minh chứng khoa học, do

vậy khó có thể là chân lý được Về mặt nội dung, ông cho rằng, nó mang tính chủ quan ,

nó không thể đồng nhất với kiến thức và khoa học Từ đó, ông thể hiện thái độ đối với

DLXH: "Dư luận xã hội đáng được kính trọng và khinh bỉ như nhau"

Trang 29

Quan điểm của Hê ghen đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong xã hội tư bản về DLXH Bên cạnh những đóng góp mới, một số quan điểm như coi DLXH là tập hợp các thành kiến và các sai lầm hay thái độ coi thường biểu hiện trực tiếp của DLXH trong quan điểm của ông đã trở thành giáo điều trong hàng loạt các học thuyết tư sản về DLXH của ông

c Thế kỷ 19: những năm 30 của thế kỷ 19 đến trước chiến tranh thế giới thứ 2:

Đây là thời kỳ gắn liền với dấu mốc ra đời của khoa học Xã hội học, những bậc tiền bối của xã hội học mặc dù không đề cập tập trung trong các quan điểm then chốt hoặc đưa ra các nghiên cứu riêng biệt nhưng đều ít nhiều đề cập đến DLXH như một vấn đề đáng quan tâm Ví dụ, A Comte không nghiên cứu hay đưa ra các quan điểm trực tiếp về DLXH mà quan tâm đến một số khía cạnh như: chủ thể DLXH, cách thức thể hiện và vai trò của DLXH M Weber khi đề cập chương trình nghiên cứu chính thức về xã hội học báo chí, tập trung nghiên cứu đặc điểm DLXH hay thái độ đối với thông tin

Boston Globe được cho rằng là một trong những tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về DLXH đầu tiên: trưng cầu ý kiến dự đoán kết quả bỏ phiếu Tiếp theo đó rất nhiều tờ báo đã tham gia các cuộc trưng cầu ý kiến về rất nhiều vấn đề xã hội khác nhau: thái độ của người dân về các vấn đề xã hội, chính sách xã hội

Đến đầu thế kỷ 20, đây là thời kỳ được xem là bùng nổ của các nghiên cứu thực nghiệm Rất nhiều cơ quan báo chí, các tổ chức cùng tham gia điều tra, thu thập dư luận

xã hội với rất nhiều các chủ đề đa dạng, phong phú khác nhau

d Thời kỳ từ năm 1920 đến chiến tranh thế giới thứ 2

Mốc thời gian những năm 1920 được xem là mốc quan trọng trong sự phát triển và

nở rộ những công trình nghiên cứu có giá trị về xã hội học về DLXH Tác phẩm "Phê

phán về dư luận xã hội" của Ferdinand Tonnies và Walter Lippmann với tác phẩm "Dư

luận xã hội" (Public Opinion) Nếu như Ferdinand Tonnies có nhiều đóng góp khi bàn về bản chất của DLXH, đặc biệt phân loại DLXH thì Walter Lippmann bàn nhiều đến cơ chế sàng lọc, định hướng DLXH, vai trò của DLXH trong xã hội hiện đại Cả hai ông đều cho thấy mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng (TTĐC) và dư luận xã hội: Tonnies cho rằng ý kiến của TTĐC không phải là DLXH, còn Walter Lippmann lại tập trung phân tích TTĐC có khả năng định hướng và sàng lọc thông tin trong quá trình định hướng DLXH

Trang 30

Ví dụ như trong tác phẩm của mình, Tonnies đã có nhiều đóng góp trong việc đưa ra phân tích khái niệm DLXH cũng như bàn về cách phân chia các loại dư luận xã hội Về khái niệm DLXH, ông nhấn mạnh đến kết quả hình thành, định hình sau các trao đổi, thảo luận, bàn bạc mới là DLXH chứ không phải các quan điểm khác nhau hay các luồng ý kiến khác nhau được trình bày trên phương tiện TTĐC Ông cũng cho rằng, những ý kiến trong điều tra DLXH thể hiện quan điểm, thái độ của các nhóm công chúng khác nhau cũng không được xem là DLXH chung mà chỉ những ý kiến được xác định bởi bản chất đồng thuận chung mới là DLXH Dựa trên những đặc trưng, tính chất, mức độ thống nhất,

ổn định và bền vững của DLXH, ông chia làm 3 loại sau: Rắn chắc (firm); lỏng (liquid); khí/bong bóng (bubble)

- Loại rắn chắc: đặc trưng bởi tính thống nhất, đồng thuận, nhất trí cao của người dân

và cộng đồng Một luồng DLXH rắn chắc là "sự nhận thức phổ biến và không thể đảo ngược được của công chúng như là người mang nó đại diện cho cả dân tộc, thậm chí cho

cả nhân loại" Nó hình thành trên cơ sở những giá trị và nguyên tắc rộng lớn, có giá trị phổ quát cho nhân loại Ví dụ như các giá trị mà con người luôn hướng đến, đấu tranh và ủng hộ: tự do, nhân ái, đồng thời phản đối những hành động dã man, phi nhân tính như: ghiết người, cướp của, bạo hành trẻ em, phụ nữ

- Dạng lỏng: là dạng DLXH cũng đạt được sự thống nhất xung quanh một vấn đề, một sự kiện nào đó, tuy nhiên cường độ không mạnh bằng loại rắn chắc, không tạo được sức hút như loại "rắn chắc"

- Loại khí: khác với 2 loại trên, đây là loại mà không đạt được độ thống nhất, không định dạng rõ ràng, lan toả trong không gian với cường độ cũng không mạnh mẽ, đặc biệt

có thể biến dạng dễ dàng khi chịu những tác động từ môi trường bên ngoài, ví dụ như thông tin được cung cấp bởi TTĐC, những sự kiện quan trọng hơn hay những vấn đề gây

tò mò hơn xảy ra và lập tức người ta không còn quan tâm nhiều đến vấn đề trước đó nữa Ngoài đóng góp của Ferdinand Tonnies và Walter Lippmann thì trong giai đoạn này còn có đóng góp nổi bật của Floyd Allport trong việc lập luận và bày tỏ quan điểm về DLXH Ông đề cập đến các vấn đề có tính nhầm lẫn trong quan niệm về DLXH, ví dụ như: sự phổ biến của DLXH, cá nhân hoá công chúng, hiểm nhầm dẫn đến sai lầm trong

Trang 31

việc sử dụng thuật ngữ công chúng, nhầm lẫn giữa DLXH và ý kiến bày tỏ công khai trước công chúng

Trong bối cảnh tiến hành thăm dò DLXH ngày một phổ biến từ các cơ quan báo đài, truyền thông đại chúng và công ty tư nhân, đánh dấu sự phát triển và nghiên cứu DLXH

có tính quy mô và chuyên nghiệp phải kể đến sự xuất hiện viện Gallup với các dịch vụ nghiên cứu DLXH rất đa dạng Nó cũng mở ra những hướng phát triển và ứng dụng mới của các nghiên cứu DLXH Thu thập thông tin và nghiên cứu về DLXH không chỉ phục

vụ các cuộc bầu cử, tham dò chính trị mà còn được vận dụng vào đa dạng các ứng dụng trong cuộc sống, kinh doanh, phát triển thị trường, quản lý

e Những đóng góp phát triển quan điểm về DLXH từ chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay

Quan điểm J Habermas (18/6/1929): ông là nhà xã hội học, triết học người Đức,

người có liên quan đến trường phái Frankfurt của Đức Ông là người phát triển khái niệm lĩnh vực công cộng (public spheres): lĩnh vực công cộng được ông xem như là vũ đài, nơi

mà công dân có thể thoải mái chia sẻ và tranh luận quan điểm của mình một cách tự do Quan điểm của ông như sau: tại vũ đài đó, thảo luận trở thành một hoạt động dân chủ thông qua "một lực lượng xây dựng sự đồng thuận và thống nhất không mang tính ép buộc, trong đó những người tham gia vượt qua được những cách nhìn thiên lệch, chủ quan ban đầu để có được một thoả thuận hợp lý"4

Ông cũng cho rằng, những người tham gia vào lĩnh vực chính trị sẽ chia sẻ những giả định chung về các cách thức thực hành giao tiếp hay cách thức truyền thông Bên cạnh chia sẻ giá trị và lý trí chung, ông cũng đưa ra những đặc trưng về "tự do" và "bình đẳng" cần thiết cho tình huống phát biểu lý tưởng xuất hiện trong một xã hội dân chủ:

- Các chủ thể có kiến thức (đủ trình độ), năng lực nhận thức đều được phép và khuyến khích tham dự vào thảo luận

4 Habermas, Jurgen "Discourse Ethnics: Notes on Philosophical Justification" Moral

Consciousness and Communicative Action Christian Lenhart and Shierry Weber Nicholson Cambridge: MIT Press, 1980

Trang 32

- Mọi người đều được phép và có quyền đưa ra nhận định về mọi vấn đề và đều được phép đưa mọi sự nhận định vào thảo luận Trong quá trình đưa ra quan điểm, nhận định, mọi người đều được phép bày tỏ thái độ, mong muốn và nhu cầu của mình

- Các thành viên tham gia vào "lĩnh vực công" và thể hiện các nhận định, quan điểm, bày tỏ thái độ trong quá trình thảo luận như ở các mục trên không chịu sự ngăn ngừa hay các ép buộc từ bên trong hay bên ngoài nào

Từ việc trình bày quan điểm về "lĩnh vực công", Habermas đã đưa ra ý tưởng về chủ thể của DLXH Theo ông, nó không thể là toàn bộ công chúng, toàn bộ nhân dân, mà được hình thành từ cơ chế các cá nhân tham gia chủ động, công khai vào các "lĩnh vực công", họ là những người tham gia vào các cuộc hội họp, cuộc mit - tinh tại các cửa hàng, trên các phương tiện truyền thông đại chúng Như vậy, theo quan điểm của ông thì lĩnh vực công cộng hay không gian công cộng tạo cơ hội cho cá nhân cũng như tôn trọng quyền cá nhân tham gia bày tỏ chứng kiến hay phát biểu Ngoài ra, nó cũng tạo cơ chế truyền thông mà qua đó tạo được "tình huống phát biểu lý tưởng", không bị các thể chế

ép buộc, do vậy sự đối thoại trong lĩnh vực công cộng tạo có thể tạo ra cơ chế thảo luận dân chủ và tự do hơn

Quan điểm của Luhmann (1927 - 1998): nhà xã hội học, triết học xã hội người Đức,

một trong những đại biểu theo trường phái nghiên cứu hệ thống xã hội Với hơn 70 cuốn sách và hơn 400 bài báo ở các lĩnh vực khác nhau của mình về đa dạng hoá các chủ đề, trong đó có truyền thông đại chúng và DLXH, ông là người có tiếng vang và ảnh hưởng khá lớn trong giới nghiên cứu xã hội học tại Mỹ và Đức Ngoài việc quan tâm đến chủ thể DLXH và bác bỏ quan điểm về chủ thể của DLXH, ông quan tâm tới mối quan hệ giữa DLXH và pháp luật Từ đó, ông quan tâm đến kết quả của DLXH: tính pháp lý của DLXH phụ thuộc vào quyết định được đưa ra về vấn đề, sự kiện nào đó Quyết định này lại căn cứ vào sự chú ý của xã hội đối với chủ đề, vấn đề có gây được sự quan tâm của công chúng Ông cho rằng, nếu vấn đề nào đó thu hút sự chú ý của người dân, chứng tỏ vấn đề đó đang không đạt được sự hài hoà trong hoạt động của hệ thống pháp luật Thực

tế, rất nhiều vấn đề không đạt được sự hài hoà và các nhóm khác nhau có ý kiến khác nhau về một chủ đề, giữa họ nảy sinh tranh luận về vấn đề trên cơ sở quan điểm và lý lẽ

Trang 33

Do đó ông cho rằng vấn đề có mối quan hệ với pháp luật vì đánh giá cần trên cơ sở pháp luật, và có lẽ, khi có tranh luận và chia nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau thì chứng tỏ vấn đề đang khác nhau về nhận thức và cơ sở pháp lý của nó cần được xem xét lại

Quan điểm thống kê - tâm lý của Noelle - Neumann (1916 - 2010): bà là một nhà

chính trị học người Đức Bà nghiên cứu đa dạng hoá rất nhiều các lĩnh vực: triết học, lịch

sử, báo chí, trong đó luận án tiến sỹ của bà tập trung vào nghiên cứu dư luận xã hội tại

Mỹ Vào năm 1947, bà cùng chồng là đồng sáng lập ra viện nghiên cứu DLXH tại Đức,

và đến năm 1964 bà trở thành giáo sư của một trường đại học tại Đức Một trong những

cuốn sách đáng chú ý của bà: "Vòng xoắn im lặng: Dư luận xã hội, làn da của chúng ta",

cuốn sách được giới thiệu với độc giả vào năm 1984 Trên cơ sở quan sát hiện thực về phản ứng của người dân về các chính sách của thủ tướng Tây Đức Konrad Adenauer (1949 - 1963), bà đã khái quát lên thành khung lý thuyết vòng xoắn im lặng nhằm giải thích tại sao một số cá nhân không tự tin thể hiện ý kiến công khai của họ do lo sợ ý kiến của bản thân thuộc vào nhóm thiểu số Nỗi sợ hãi bị cô lập khiến cho họ không dám đưa

ra quan điểm, chứng kiến của mình, họ thu mình lại và cô lập khỏi đám đông Khi nào cá nhân cảm giác mình có đồng minh, thuộc về nhóm lớn, hoặc được cảm giác bảo vệ mới dám bộc lộ quan điểm của mình

Trường phái Hovland và những nghiên cứu về tuyên truyền: trường phái tập trung

nghiên cứu về tuyên truyền các các công cụ sử dụng tuyên truyền Khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tuyên truyền, các tác giả đề cập đến các yếu tố trung gian

có khả năng ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác tuyên truyền Một số kết quả nghiên cứu đề cập đến các yếu tố như:

- Uy tín của nguồn tin có thể ảnh hưởng đến thái độ và thay đổi quan điểm của công chúng khi tiếp cận thông tin từ nguồn tin có uy tín

- Ngoài ra, vào năm 1953, hai tác giả là Janis và Feshbach tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thay đổi thái độ và hành vi thông qua các thí nghiệm Các ông tập trung đánh giá hiệu quả tuyên truyền từ 2 hướng tiếp cận: thông điệp tiếp cận có tính đe doạ/hù doạ hay tiếp cận tích cực, nhấn vào điểm mạnh, tiếp cận nào có tác động tích cực và hiệu quả đến thay đổi thái độ và hành vi Nếu như kết quả nghiên cứu của Janis và Feshbach cho rằng thông điệp nhấn mạnh đến yếu tố tích cực, điểm mạnh sẽ mang lại hiệu quả cao

Trang 34

hơn thì quan điểm của 2 tác giả khác, Levelthal và Niles (1964) lại cho rằng thông điệp tác động vào nỗi sợ hãi của công chúng đem lại hiệu quả cao hơn về sự thay đổi thái độ Bên cạnh các quan điểm, tư tưởng của các học giả, các trường phái nghiên cứu thì một viện nghiên cứu chuyên sâu về DLXH đã được thành lập vào năm 1935 do Goerge Gallup chủ trì Đây là viện nghiên cứu có quy mô nghiên cứu toàn cầu, đặt tại Mỹ Viện sau đó đã phát triển ra khoảng 30 văn phòng đại diện tại hơn 20 quốc gia khác nhau Một dấu mốc khá quan trọng đối với lịch sử nghiên cứu và phát triển DLXH tại Việt Nam: năm 1947, tại Paris, cuộc hội thảo có quy mô tập hợp các nhà nghiên cứu và thực hành chuyên ngành về DLXH đã được tổ chức nhằm chia sẻ kinh nghiệm và phương pháp nghiên cứu Năm 1948 hội nghiên cứu DLXH quốc tế được thành lập với sự tham gia của

30 quốc gia và 200 thành viên Năm 1962, trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội Đông Nam Á được thành lập tại Thái Lan Trên các tạp chí của Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Italia xuất hiện các chuyên mục đăng tải thông tin mới nhất về kết quả của các cuộc điều tra dư luận xã hội

Như vậy có thể thấy điểm nổi bật của giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay đó là DLXH không chỉ được chú ý phát triển ở một mặt lý thuyết hay nghiên cứu thực nghiệm như giai đoạn trước mà được các nhà nghiên cứu phát triển song hành và cân bằng Nhiều nghiên cứu có tính quy mô được thực hiện, nhiều mô hình lý thuyết được xây dựng và khái quát hoá từ các quy luật thực tiễn

1.2.2 Quan điểm Mác - xít về dư luận xã hội

Quan điểm của Marx khi đề cập đến bản chất của DLXH thể hiện khá rõ trong quan điểm

về chủ thể DLXH của ông: DLXH là DLXH của nhân dân Ông đã từng phát biểu: "Các đại biểu thường xuyên kêu gọi sự ủng hộ của dư luận nhân dân, sẽ mang lại cho nhân dân quyền phát ngôn ý kiến thực sự của mình"5 Marx cũng đề cập đến khá rõ mối quan hệ giữa DLXH và pháp luật Ông cho rằng, trong xã hội có giai cấp, thiết chế pháp luật có vai trò điều hoà lợi ích và các mối quan hệ trong xã hội, và song hành với pháp luật trong

điều tiết xã hội còn có đóng góp vai trò quan trọng của DLXH Ông cho rằng: "Dư luận

xã hội là kết quả của sự biến đổi ý thức xã hội thành sức mạnh xã hội thông qua các

Trang 35

luật lệ chung"6 Quan điểm này cho thấy pháp luật xã hội được hình thành, sửa đổi, cải tiến có đóng góp một phần của DLXH và một phần là kết quả của DLXH Tinh thần này cũng được phản ánh trong quan điểm, nhận định của Engel: để có được sự cải biến xã hội

thực tế "trước hết phải có sự cải biến trong DLXH"7 hoặc Lênin khẳng định: "để chiến thắng, cách mạng phải dựa vào sức mạnh vật chất và tinh thần của DLXH"8

V.I Lênin đã gắn vấn đề dư luận xã hội với sinh hoạt dân chủ và giáo dục quần chúng, cũng như vai trò của nó trong việc xây dựng xã hội nói chung Lênin cho rằng việc quản

lý của nhà nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của dư luận xã hội do đó cần thiết phải làm cho “dư luận xã hội có ý thức, có nhận thức” Như vậy, Lênin đã nêu lên tư tưởng định hướng dư luận xã hội ở chỗ phải chuẩn bị trước cho nhân dân một cách có ý thức về chính trị, tư tưởng và tâm lý, đảm bảo cho sự phát triển của dư luận xã hội phù hợp với yêu cầu của việc xây dựng xã hội chủ nghĩa

Liên Xô cũ cũng là cái nôi của rất nhiều các nhà nghiên cứu đi tiên phong trong các nghiên cứu DLXH theo trường phái Mác xít: Uledov, Korobeinikov, Grushin, Levada Những nghiên cứu về lý luận hay điều tra cơ bản về DLXH rất phát triển tại Nga trong những năm 80 của thế kỷ 20

Đúc kết lại một số luận điểm chính của tiếp cận Mác xít về DLXH như sau:

- Dư luận xã hội là một dạng đặc trưng của ý thức xã hội

- Dư luận xã hội thuộc thượng tầng kiến trúc, do đó bị chi phối bởi đặc điểm, tính chất của hạ tầng cơ sở trong xã hội đó Thế nhưng, nó độc lập tương đối so với cơ sở hạ tầng của xã hội và có thể là động lực tạo những những chuyển biến xã hội

- Sức mạnh vật chất của DLXH xuất phát từ vai trò quyết định của các tầng lớp nhân dân trong lịch sử Quần chúng nhân dân được xem là người sáng tạo ra lịch sử, do vậy tiếng nói của người dân được tăng cường thì sức mạnh và hiệu lực của DLXH cũng được củng

6 Karl Marx, F Enghel toàn tập, tập 16, tr.198 (bản tiếng Nga)

7 Karl Marx, F Enghel toàn tập, tập 38, tr.315 (bản tiếng Nga)

8 V.I.Lênin, Tuyển tập, tập 11, tr 364 (tiếng Nga)

Trang 36

So với thế giới, nghiên cứu chính thức về DLXH phát triển muộn hơn, tuy nhiên tư tưởng lấy dân làm gốc đã có từ rất sớm trong suốt chiều dài dựng nước giữ nước Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất chú trọng đến tiếng nói của nhân dân Người đánh giá cao vai trò

to lớn của quần chúng nhân dân trong việc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội Người

đã từng đề cập đến vai trò nòng cốt của nhân dân trong quá trình xây dựng đất nước như sau: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu Khó vạn lần dân liệu cũng xong" hay "Dân chúng đồng lòng việc gì cũng làm được, dân chúng không đồng lòng việc gì cũng không nên"

Hồ Chủ Tịch cũng cho rằng, trong công tác lãnh đạo quản lý, để thành công được, thường xuyên nghe tiếng nói của dân và thường xuyên giữ mối liên hệ với quần chúng, nhân dân Ngay từ giai đoạn đầu xây dựng đất nước, Chủ tịch đã cho rằng: "Nước ta là nước dân chủ", đồng thời Chủ tịch cũng đưa ra những đặc trưng của một nước dân chủ:

- Lợi ích đều vì dân

- Quyền hạn đều của dân

- Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân

- Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân

- Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra

- Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên

- Quyền hành và lực lượng đều thuộc nhân dân

Việc trao quyền làm chủ cho nhân dân và lấy dân làm gốc đã tạo nền tảng và cơ hội để DLXH có thể thể phát huy các chức năng xã hội của nó, đồng thời phát triển các nghiên cứu DLXH trong đời sống xã hội

Nắm bắt được tầm quan trọng của DLXH, từ năm 1982 Ban bí thư Trung ương Đảng đã

ra quyết định thành lập Viện Nghiên cứu DLXH Bài học "dân làm gốc" được nhấn mạnh lại trong Đại hội VI và coi đây là yếu tố quan trọng trong chính sách của Đảng

Từ năm 1990 trở đi, một số các sách, tài liệu quan tâm đến lý luận, thực tiễn về DLXH cũng đã được viết, tập hợp và dịch từ tiếng nước ngoài tại Việt Nam Ví dụ tuyển tập một

số bài dịch về DLXH của Trung tâm nghiên cứu DLXH vào năm 1989 được xem là tài

Trang 37

1999 và bổ sung thêm một số kết quả điều tra DLXH mà trung tâm tâm nghiên cứu đã thực hiện

Ngày 26/1/2008, đứng trước việc đáp ứng yêu cầu thực tiễn, viện Nghiên cứu dư luận xã hội thuộc ban Tuyên giáo Trung ương đã thành lập, với nhiệm vụ nắm bắt, phân tích, tổng hợp và phản ánh nhanh dư luận của các tầng lớp nhân dân trước những vấn đề, sự kiện trong nước và trên thế giới, đặc biệt là trước các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước Hàng tháng viện sẽ có những báo cáo nhanh về các vấn đề nổi bật trong tháng, đồng thời lên kế hoạch tiến hành các nghiên cứu DLXH về các vấn đề cơ bản và phức tạp hơn theo từng quý và từng năm nhằm có bức tranh hiểu biết sâu rộng hơn

về các vấn đề then chốt

Hiện nay, ngoài viện Nghiên cứu DLXH thuộc ban Tuyên giáo Trung ương, trung tâm nghiên cứu DLXH thuộc Viện Xã hội học cũng là một trong những nơi tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu về DLXH Bên cạnh đó, rất nhiều các viện nghiên cứu xã hội học thuộc các viện hay trường đại học đều quan tâm nghiên cứu và giảng dạy về DLXH, quản

lý và định hướng DLXH, ví dụ như Viện Xã hội học và phát triển thuộc Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, khoa Xã hội học trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, khoa xã hội học Học viện Báo chí và Tuyên truyền Ngoài ra, các nghiên cứu về DLXH

từ hướng nghiên cứu báo chí và truyền thông cũng được quan tâm, trong đó các giáo trình, sách chuyên khảo về truyền thông và báo chí cũng thường nhắc đến DLXH và quản lý DLXH như một hợp phần không thể thiếu

Nghiên cứu DLXH xã hội cũng như ứng dụng kết quả nghiên cứu DLXH vào công tác quản lý trong những năm gần đây được sử dụng tương đối phổ biến tại Việt Nam, đồng thời cũng xuất hiện rất nhiều các nhà nghiên cứu tham gia nghiên cứu chuyên sâu về DLXH, trong đó có các tên tuổi như: GS.TS Nguyễn Quý Thanh, PGS.TS Mai Quỳnh Nam, PGS.TS Lương Khắc Hiếu, PGS.TS Vũ Hào Quang, TS Phạm Chiến Khu Nghiên cứu DLXH tại Việt Nam hiện nay chủ yếu đi theo hai hướng:

- Nghiên cứu mang tính chất hàn lâm, được xây dựng trên cơ sở lý luận, nền tảng lý thuyết

cơ bản nhằm tăng cường hiểu biết và nhận thức các vấn đề mang tính quy luật, những hiện tượng mới nảy sinh

Trang 38

- Nghiên cứu mang tính thực nghiệm, ứng dụng: thường được ứng dụng trong công tác quản lý, trong công tác nắm bắt dư luận xã hội tại các địa phương về quản lý hành chính, chính sách pháp luật, chủ trương, đường lối của Đảng, nhà nước

Một số các nghiên cứu DLXH trong công tác lãnh đạo, quản lý được đề cập, bàn luận, nghiên cứu trong thời gian gần đây:

- Nghiên cứu về thực trạng nắm bắt, nhu cầu và khả năng sử dụng dư luận xã hội trong lãnh đạo, quản lý (dề cập và trích dẫn trong cuốn sách Dư luận xã hội trong lãnh đạo, quản lý; tác giả Đỗ Văn Quân, 2016)

- Điều tra dư luận xã hội - tiến hành bởi UBND tỉnh Đồng Nai: đánh giá:

• Đánh giá hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy và chính quyền địa phương trong năm 2007

• Thăm dò nhận thức của nhân dân về các sự kiện, sự việc xảy ra của tỉnh và của đất nước

• Đánh giá tác động của các phương tiện, công cụ và hoạt động tuyên truyền

• Tìm hiểu những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trước những vấn đề bức xúc xảy

ra trên địa bàn tỉnh

- Nghiên cứu vai trò của Dư luận xã hội trong phòng, chống tham nhũng (đề cập và trích dẫn trong cuốn sách Dư luận xã hội trong lãnh đạo, quản lý; tác giả Đỗ Văn Quân, 2016)

- Điều tra xã hội học về công tác quản lý và sử dụng đất đai, Văn phòng Quốc hội, 2006

- Nghiên cứu dư luận xã hội về hoạt động của Quốc hội”, Mai Quỳnh Nam (2005), “Xã hội học, (3), tr.16-23

Ngoài ra, nghiên cứu DLXH tại Việt Nam cũng được ứng dụng trong nhiều bối cảnh thực

tế khác như: Nghiên cứu thăm dò thị trường, phản hồi của công chúng đối với các chương trình truyền hình, sản phẩm tiêu dùng, dịch vụ xã hội

Trang 39

CHƯƠNG 2 TÍNH CHẤT, CHỨC NĂNG DƯ LUẬN XÃ HỘI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH DƯ LUẬN XÃ HỘI

Chương 2 tập trung giới thiệu tính chất, thuộc tính cơ bản của DLXH, vai trò, chức năng của DLXH cũng như quá trình hình thành DLXH Việc hiểu thêm các thuộc tính, đặc điểm, chức năng DLXH sẽ góp phần giúp học viên hiểu sâu và rộng hơn về DLXH, xây dựng được nền tảng kiến thức cơ bản về DLXH để chuẩn bị cho các ý tưởng nghiên cứu chuyên sâu về DLXH Ngoài ra, kiến thức về quá trình hình thành DLXH và các yếu tố

có ảnh hưởng đến quá trình hình thành DLXH, bao gồm cả các yếu tố thuộc chủ thể, khách thể, yếu tố môi trường văn hoá, xã hội cũng là nội dung cơ bản được nghiên cứu ở chương này, giúp người học định hình được khung phân tích nghiên cứu, quản lý DLXH

ở trong các chương tiếp theo

2.1 Tính chất, thuộc tính của dư luận xã hội

2.1.1 Tính chất dư luận xã hội

Dư luận xã hội là một hiện tượng đa dạng, phức tạp, tuy nhiên có chung một số đặc điểm, tính chất nhất định Nhận diện đặc điểm, tính chất của DLXH sẽ giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về nó, từ đó có các hướng tiếp cận quản lý hiệu quả và phù hợp hơn

a Tính lợi ích

Dư luận xã hội không quan tâm đến mọi vấn đề, sự kiện xã hội xảy ra trong đời sống xã hội, mà nó chỉ hình thành khi vấn đề, sự kiện có tầm quan trọng xã hội, đặc biệt động chạm đến lợi ích xã hội của các nhóm công chúng khác nhau Các phán xét đánh giá của các bên liên quan thường xuất phát từ các vấn đề có động chạm đến lợi ích của họ Khái niệm "lợi ích" cần được hiểu theo nghĩa rộng, nó không chỉ là lợi ích vật chất mà còn là lợi ích tinh thần, các giá trị nhân văn được lưu truyền và giá trị cốt lõi của các dân tộc, quốc gia Ngoài ra, lợi ích của các nhóm không chỉ là lợi ích trước mắt mà còn cả lợi ích lâu dài

- Lợi ích vật chất: thường gắn chặt với các vấn đề có liên quan chặt chẽ đến các hoạt động kinh tế, đời sống và sự ổn định đời sống của người dân Ví dụ như giá cả các mặt hàng thiết yếu (xăng, lương thực, điện, chất đốt ) hay các loại thuế: thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất, thuế kinh doanh, thuế tài sản

Trang 40

- Lợi ích tinh thần: Các vấn đề, sự kiện diễn ra động chạm hay có liên quan đến hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội, tình yêu quê hương, đất nước, chủ quyền lãnh thổ, các phong tục tập quán, tôn giáo, lễ nghĩ của cộng đồng hay của quốc gia

- Lợi ích trước mắt: Vấn đề ảnh hưởng sát sườn đến lợi ích hàng ngày của mỗi cá nhân trong cộng đồng hay nhiều nhóm xã hội khác nhau, ví dụ như: tiền lương, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, di dời nhà ở, di dời chợ (đối với người kinh doanh và người dân sống khu vực lân cận)

- Lợi ích lâu dài: Vấn đề bảo vệ môi trường, vấn đề an sinh xã hội, quy hoạch đô thị, chiến lược phát triển quốc gia

Tuy nhiên, có thể đối với nhiều vấn đề nảy sinh có liên quan đến lợi ích sát sườn của các nhóm dân hay cộng đồng dân cư nhưng không hình thành DLXH nếu như người dân không nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề và lợi ích cộng đồng cũng như cá nhân

bị xâm phạm Tự bản thân, lợi ích mới chỉ là điều kiện cần cho việc thúc đẩy tạo ra DLXH, điều kiện đủ chính là nhận thức của các nhóm xã hội về lợi ích của họ liên quan đến các vấn đề, sự kiện, hiện tượng, quá trình đang diễn ra Trong thực tế, bắt nguồn từ nhiều lý

do, các cộng đồng hay các nhóm xã hội không nhận thức rõ được lợi ích liên quan đến

họ, hoặc không cập nhật được thông tin liên quan đến họ, do vậy mặc dù có thể vấn đề liên quan sát sườn đến lợi ích của họ nhưng họ lại không lên tiếng vì không nhận thức đầy đủ hoặc không nắm được thông tin Nhận thức về lợi ích và mối quan hệ giữa các lợi ích là một quá trình, quá trình đó giúp con người giải quyết mối quan hệ vấn đề cá nhân

và vấn đề xã hội, hài hoà, cân nhắc giữa yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần, giữa lợi ích trực tiếp và lợi ích gián tiếp, giữa vấn đề có tính thời điểm và vấn đề mang tính lâu dài Đôi khi để giúp cộng đồng, người dân nhận thức được lợi ích của họ liên quan đến các vấn đề diễn ra rất cần sự tham gia của nhà báo, các chuyên gia, cán bộ nòng cốt địa phương trong việc phát hiện vấn đề, tổng hợp, phân tích vấn đề

Ngoài ra, đặc thù của quá trình hình thành DLXH là phải trải qua cơ chế trao đổi, thảo luận ý kiến Quá trình trao đổi, thảo luận ý kiến để dẫn đến DLXH chính là quá trình giúp các nhóm giải quyết mâu thuẫn lợi ích Trong quá trình trao đổi, để có đủ lý lẽ hợp lý thuyết phục các nhóm khác nhau về lợi ích của mình, đồng thời hiểu được lợi ích của các nhóm khác, góp phần giải quyết mâu thuẫn lợi ích giữa các bên liên quan Trong quá trình

Ngày đăng: 08/11/2022, 23:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm