1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình chính sách trong quản lý kinh tế xã hội

255 4 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 255
Dung lượng 5,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời nói đầu Để quản lý một đất nước cũng như quản lý một doanh nghiệp hoặc một tổ chức nào đó thành công; sau khi có đường lối, chủ trương, các mục tiêu định hướng đúng đắn trị đạo; vấn

Trang 1

`) THƯ VIỆN

GIAO

1998

10108705

Ve {0 TRÌNH h (ilf 3 TRNI TUỔI LY

Trang 2

TRUONG DAI HOC KINH TE quac DAN

KHOA KHOA HOC QUAN LY Chủ biên : GS PTS Đỗ Hoàng Toàn,

PTS Phan Kim Chiến, PTS Đoàn Thị Thu Hà

Giáo trình CHÍNH SấCH TRONG QUAN LY

HINH Tế - Xã HỘI

NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT

HÀ NỘI - 1998

Trang 3

Lời nói đầu

Để quản lý một đất nước cũng như quản lý một doanh nghiệp hoặc một tổ chức nào đó thành công; sau khi có đường lối, chủ trương, các mục tiêu định hướng

đúng đắn (trị đạo); vấn để tiếp theo là phải có một cơ

cấu bộ máy tổ chức hợp lý (trị thể); một đội ngũ cán bộ thực hiện tương xứng (trị tài); một hệ thống các chính

sách công cụ, phương pháp, cơ chế điều hành thích hợp

(trị thuật) và một khả năng nhậy bén để nắm bắt, khai thác và tạo lập thời cơ (trị phong) của các nhà lãnh đạo

Trong năm yếu tố kế trên (Š mặt trị bình); thì hai yếu

tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất, đó là trị đạo và trị

thuật Người xưa đã nói; được cả đạo lẫn thuật là đại

trị, được thuật nhưng hỏng đạo là tạm yên, hỏng cả đạo

lẫn thuật là rối loạn Như vậy đạo và thuật luôn đi liển

với nhau, nhưng thuật có vị trí năng động và mang

tính linh hoạt nhiều hơn Nhiều nước xã hội chủ nghĩa đông Âu sụp đổ, phần lớn do thuật trị nước yếu kém mặc dù bản chất chế độ xã hội là tốt đẹp (tức được đạo

nhưng hỏng thuật); trong khi đó nhiều nước tư bản chủ

nghĩa bản chất chế độ xã hội là bất công (hỏng đạo),

nhưng kỹ thuật và chính sách quản lý khôn khéo (được

thuật) nên vẫn tổn tại trong một khoảng thời gian khá

dài Việc xây dựng và thực thi các chính sách và công

Trang 4

cụ quản lý kinh tế -xã hội của các nước do dó có một ý

nghĩa hết sức lâu dài và thời sự Đây là một mảng kiến

thức rất cần thiết cho sinh viên các trường đại học kinh

tế

Giáo trình "Chắnh sách trong quản lý hừnh tế -

xã hột" của Đại học kinh tế quốc dân được đưa vào sử dụng từ năm học 1994/1995 với số tiết lên lớp 7đ tiết nhằm cung cấp cho người bọc các kiến thức cơ bản, tương đối có hệ thống về các vấn đề lý luận chung của

việc xây dựng và tổ chức thực thi các công cụ và các

chắnh sách kinh tế - xã hội của Nhà nước

Giáo trình được biên soạn theo chương trình môn

học đã được Hội đồng khoa học nhà trường xét duyệt và

do tập thể nhiều cán bộ giáo viên trong và ngoài khoa | Khoa hoc quan lý thực hiện:

1 Déng chủ biên: GS.PTS Đỗ Hoàng Toàn -

GVC.PTS Phan Kim Chiến và GVC.PTS Đoàn Thị Thu

2 Chương 1: GS.PTS Đỗ Hoàng Toàn biên soạn

3 Chương 2: PTS Mai Văn Bưu - PTS Lê Anh Vân

- PTS Lê Sĩ Dược - Bùi Đức Thọ biên soạn

4 Chương 3: PTS Đoàn Thu Hà - Trần Thuý Sửu - Nguyễn Thế Bình - Trần Chu Toàn - Đỗ Hải Hà biên soạn

đỏ Chương 4: PTS Phan Kim Chiến - PGS.PTS

Phạm Ngọc Côn - PTS Nguyễn Văn Duệ - Thạc sĩ Hồ Bắch Vân - Nguyễn Lệ Thúy biên soạn.

Trang 5

6 Chương ð: PTS Nguyễn Thị Ngọc Huyền - PTS

Phan Trọng Phức - PTS Nguyễn Chiến - Phạm Vũ

Do lần đầu xuất bản, giáo trình khó tránh khỏi có

các thiếu sót, khoa Khoa hoc quan lý rất mong nhận

được ý kiến của các bạn đọc để lần xuất bản sau được

hoàn thiện hơn

Trong quá trình biên soạn giáo trình, chúng tôi đã

sử dụng khá nhiều các tài liệu của các tác giả mà danh

mục được nêu ở cuối sách Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các tác giả đó

Cuối cùng chúng tôi xin cảm ơn sự chỉ đạo, quan

tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, thường trực hội đồng

khoa học, phòng quản lý đào tạo Đại học Kinh tế quốc dân và Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật mà nhờ đó cuốn sách đã được thực hiện và phát hành

Hà Nội, tháng 6/1997

Các tác giả

Trang 6

Chương Ï

TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ VÀ

CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ

_! CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1 Xã hội và quản lý xã hội

Xã hội theo cách hiểu chung nhất là một hệ thống các hoạt động và các quan hệ của con người, có đời sống

kinh tế và văn hóa chung, cùng cư trú trên một lãnh

thổ ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử

Xã hội ra đời dựa trên cơ sở phát triển của lực

lượng sản xuất xã hội; sự tích luỹ tri thức, công nghệ và

văn minh của con người; từ đó tạo ra của thừa; tạo ra

chế độ tư hữu; tạo ra giai cấp và tạo ra Nhà nước Còn

Nhà nước chính là cơ quan thống trị giai cấp của một (hoặc một nhóm) giai cấp này đối với một hoặc một số

giai cấp khác đồng thời cũng là quyền lực công đại diện

cho lợi ích chung của toàn xã hội

Nhà nước mang hai thuộc tính cơ bản: thuộc tính

giai cấp và thuộc tính xã hội

Các hoạt động xã hội bao gồm: 1) các hoạt động sản xuất của cải vật chất; 2) các hoạt động sản xuất của cải -

phi vật chất (tri thức, công nghệ, nghệ thuật, văn hoá,

tư tưởng, tỉnh thần, truyền thống dân tộc, bản lĩnh dân

7

Trang 7

tộc v.v ; 3) các hoạt động tái sinh sản nòi giống; 4) các

hoạt động quản lý ; 5) các hoạt động giao tiếp; 6) các

hoạt động đối ngoại và 7) các hoạt động an ninh quốc

phòng

Còn các quan hệ xã hội lại bao gồm các quan hệ vật

chất (trong quá trình sẵn xuất và tái sản xuất: sản xuất, lưu thông, phân phối, trao đổi, tiêu dùng của cải

vật chất mà cốt lõi là vấn đề lợi ích) và các quan hệ phi vật chất (văn hoá, tâm linh, chính trị, quyền lực v.v )

Về cơ bản, mọi xã hội đều có hai mục tiêu giống nhau là

giúp cho con người được tổn tại an toàn và giúp cho con người được phát triển lâu bền; dĩ nhiên trong các hoạt

động của xã hội và quan hệ mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp

và mỗi cá nhân trong xã hội đạt được những mục tiêu

và kết quả không đồng đều như nhau Nhưng mỗi chế

độ xã hội khác nhau lại mang những đặc trưng khác

nhau Đặc trưng này là dấu hiệu để phân biệt giữa xã

hội này với xã hội kia về mức độ và trình độ phát triển

đã đạt được khác nhau cũng như ý đổ sẽ phát triển

trong tương lai mà giai cấp thống trị và xu thế phát

triển chung của xã hội, của lịch sử tạo ra Chẳng hạn,

đặc trưng cơ bản của xã hội tư bản chính là chế độ sở hữu tư nhân tư bản, nhằm bảo vệ lợi ích cá nhân mỗi

con người trong khuôn khổ sở hữu của họ, không hạn chế giới hạn chênh lệch, bởi vậy nhà tư bản sẽ không

bao giờ chịu để lợi ích của mình dưới bất kỳ ai Đặc trưng cố hữu này được các nước tư bản chủ nghĩa luôn

luôn dùng làm chuẩn mực để khống chế, chi phối các quốc gia khác; áp đặt nếp nghĩ của xã hội họ cho mọi

chế độ xã hội khác

Để xã hội vận hành, hoạt động quản lý xã hội là một đòi hỏi tất yếu khách quan Quản Ìý xã hội theo

Trang 8

Đối tượng của việc quản lý xã hội chính là hoạt

động của cộng đồng các con người trong xã hội (kể cả các con người thuộc chủ thể quản lý xã hội) và các

nguồn tài nguyên của đất nước Còn khách thể quản lý

xã hội là các thế lực của các xã hội khác thông qua sự

hội nhập khu vực và thế giới (có thể đổng chiều, có thể

ngược chiều) Chủ thể quản lý xã hội bao gồm các thế lực của giai cấp thống trị xã hội và truyền thống, tập

quán của dân tộc; hai bộ phận của chủ thể quản lý này

luôn tổn tại song hành, nhưng mức độ tác động không

phải mạnh yếu như nhau và không phải luôn có vị thế

cố định trong tiến †“ình biến đổi lịch sử của mỗi quốc

gia Trong khuôn khổ quy định, giáo trình chủ yếu chỉ

đi sâu nghiên cứu vai trò của chủ thể quản lý kinh tế -

Để quản lý xã hội, Nhà nước phải sử dụng sức

mạnh quyền lực của mình và các truyền thống, tập

quán của dân tộc để biến đường lối (trị đạo) của mình

- thành hiện thực; thông qua việc hình thành một cấu trúc xã hội hợp lý (trị thổ); một cơ chế sử dụng nhân lực

hữu hiệu, đặc biệt là công tác cân bộ (trị tài); với các

phương pháp, hình thức, nghệ thuật quản lý thích hợp, nhất là việc sử dụng các công cụ, các chính sách, các

giải pháp quản lý (trị thuật); đồng thời Nhà nước còn cần phải biết tạo ra và tận dụng các thời cơ đột biến để

phát triển đất nước (trị phong)

Trang 9

Sơ đồ 1 Cấu trúc các nội dung mà Nhà nước phải thực hiện

để quản lý xã hội

Co ché nhan / quen’y

lực hữu hiệu - ¬

(trị tài) N Các nguồn

nhân lực khác

thác thời cơ Các giải

(tri phong) pháp quan

10

Trang 10

Theo kinh nghiệm lịch sử, trong 5 mat trị binh (tri

đạo trị thể, trị tài trị thuật, trị phong), yếu tế cố iõ¿ là trị đạo Đạo đúng (đạo nhận giá trị 1) thì mới có cở sở tạo ra các mặt trị bình khác đạt kết quả tốt Nếu đạo

hồng (đạo nhận giá trị 0), thì các mặt trị bình kia nếu

có đạt được kết quả tốt cũng chỉ là tạm thời mà thôi

Còn thuật là yếu tố cực kỳ quan trọng nhất thời có thể

giúp cho các nước đạt kết quả hoạt động tốt

Tình huống đại trị là cả õ mặt trị bình đều tốt Đây

là trường hợp ứng với véc tơ dòng:

Trang 11

Hong ca dao va thuat sẽ rối loạn, đỗ võ Đó là các

Tóm lại, vấn đề cực kỳ quan trọng của quản lý kinh

tế - xã hội là thuật (dựa trên nền tảng của một chủ trương đường lối đúng đắn; hợp đạo lý, hợp xu thế phát triển của các quy luật khách quan)

Thuật như đề cập ở sơ đổ 1, bao gồm các công cụ,

các chính sách và các giải pháp quản lý

2 Các công cụ quản lý kinh tế - xã hội

Để tiến hành các hoạt động kinh tế - xã hội; xã hội nói chung, Nhà nước nói riêng phải sử dụng các công cụ quản lý của mình với tư cách là môi trường, là vật truyền dẫn các tác động quản lý của chủ thể quản lý xã hội lên các đối tượng quản lý và khách thể quản lý Nếu

công cụ làm việc được gọi là các đô dùng để làm việc của

con người; thì các công cụ quản lý kinh tế - xã hội chính

là các phương tiện (hữu hình hoặc vô hình) mà Nhà

nước (hoặc rộng hơn là xã hội) dùng để tác động, điều

hành lên con người trong xã hội nhằm đạt tới các ý đồ,

Trang 12

mục tiêu mong muốn của mình Chính nhờ các công cụ quản lý với tư cách là vật truyền dẫn tác động mà Nhà nước chuyển tải được các ý định và ý chí tác động của

mình lên mỗi con người trên toàn bộ các vùng đất nước

và các khu vực phạm vi ảnh hưởng có thể bên ngoài Các công cụ quản lý hữu hình như:

2.1 Các công sở

Công sở là nơi làm việc của các cơ quan hành chính

Nhà nước, là nơi các công chức và nhân viên Nhà nước

thực thi nhiệm vụ của mình trong việc quản lý xã hội

2.2 Công uụ

Công vụ là dạng lao động xã hội của những người làm nhiệm vụ tại các công sở của Nhà nước Và người

thực hiện công cụ được gọi là công chức của Nhà nước,

họ được hưởng lương và phụ cấp theo công việc được

phân giao lấy từ ngân sách Nhà nước

'2.3 Công sản

Công sản là các nguồn vốn và các phương tiện vật

chất mà Nhà nước có thể sử dụng để điều hành xã hội

như: ngân sách, đất đai, và tài sản tự nhiên khác mà

Nhà nước nắm giữ, công khố, kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội, các doanh nghiệp của Nhà nước v.v

2.3.1- Ngân sách: theo điều 1 Luật ngân sách nước

ta, ngân sách là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm

quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để

bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà

18

Trang 13

nước Ngân sách là một công cụ quản lý cực kỳ quan trọng của Nhà nước

2.3.2 Đất đai: đất đai là tài nguyên vô cùng quý

giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất hàng dầu và là

thành phần quan trọng bậc nhất cho sự tổn tại của mọi

con người trong xã hội Điều 1 Luật đất đai do Quốc

hội nước ta thông qua tháng 7/1993 đã ghi rõ: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản

lý Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ

trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị,

xã hội (gọi chung là tổ chức), hộ gia đình và cá nhân sử

dụng ổn định lâu dài Nhà nước còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất, trong luật này gọi chung là người sử dụng đất Nhà nước cũng cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất Một trong những vấn đề bức xúc

trong quản lý kinh tế - xã hội chính là việc sử dụng

không hợp lý quỹ đất đai của đất nước, nảy sinh các tiêu cực, tham nhũng, bất công trong sử dụng đất mà

các nước luôn luôn phải đưa ra để giải quyết

Cùng với đất đai là các tài nguyên thiên nhiên quý giá khác (vùng biển, khoảng không, khoáng sản, môi

trường v.v ) mà việc quản lý kinh tế - xã hội không thể không đề cập tới Các nguồn công sản này được Nhà

nước thay mặt làm chủ sở hữu đưa vào khai thác, bảo

Trang 14

bảo hiểm các bất trắc xảy ra trong quá trình tổn tại và

phát triển của xã hội

2.3.4 Kết cấu hạ tầng binh tế - xã hội: là một hệ

thống cơ sở vật chất kỹ thuật được tổ chức thành các

công trình sự nghiệp (đường giao thông, mạng lưới bưu chính viễn thông, các phương tiện thông tin đại chúng, các kho tàng, bến cảng, các sân bay, các công trình kiến

trúc phục vụ lợi ích cộng đồng v.v ), các đơn vị bản

xuất và dịch vụ; có chức năng bảo đảm sự di chuyển các

luồng thông tin, vật chất nhằm phục vụ nhu cầu có

tính phổ biến của sản xuất và tiêu dùng cho xã hội ở một giai đoạn phát triển của xã hội

Một thực tế hiện nay ở nhiều quốc gia cho thấy do

trình độ yếu kém của kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

mà tốc độ.phát triển kinh tế không thể nâng cao được, tạo ra sự chênh lệch ghê gớm không đáng có giữa các khu vực các vùng của đất nước

2.3.5 Các doanh nghiệp Nhà nước: là các tổ chức

kinh doanh, do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu Đồng thời là một pháp

nhân kinh tế, hoạt động theo pháp luật và bình đẳng

Ở các nước tư bản, thông thường các doanh nghiệp nhà nước chủ yếu giải quyết các nhu cầu tiêữ dùng và sản xuất cho cộng đồng về những loaj sản phẩm mà

các thành phần kinh tế tư nhân tư bản không muốn làm hoặc không có khả năng thực hiện Còn ở các nước

xã hội chủ nghĩa, bên cạnh các ý nghĩa đó, các doanh nghiệp nhà nước còn là một bộ phận quan trọng của

15

Trang 15

kinh tế nhà nước; mà nhờ đó Nhà nước làm cho kinh tế Nhà nước giữ được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế

quốc dân; bảo đảm vững chắc cho việc duy trì và phát

triển các đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa

Bên cạnh các công cụ quản lý kinh tế - xã hội hữu

hình; Nhà nước (và xã hội) còn sử dụng các công cụ quản lý kinh tế - xã hội vô hình hoặc khó nhận diện

khác như: pháp luật, kế hoạch, các quyết định quản lý, văn hoá truyền thống dân tộc v.v Đây cũng là những

công cụ hết sức quan trọng mà nhà nước và xã hội

không thể không quan tâm

2.4 Pháp luật

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính

bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra, thực hiện và bảo vệ

nhằm thực hiện mục tiêu tổn tại và phát triển xã hội

theo các đặc trưng đã định; thể hiện ý chí của giai cấp

thống trị và cộng đồng xã hội

Trong tiến trình lịch sử phát triển, sự ra đời của

Nhà nước chậm hơn sự ra đời của xã hội vì Nhà nước chỉ được tạo lập ra từ xã hội có một trình độ phát triển

nhất định Con người ngay tự buổi ban đầu đã biết quy

tụ nhau lại thành bầy, nhóm để tổn tại với mục tiêu

bảo đảm an toàn và tiến hành các hoạt động sinh sống;

dần dần sự cộng đồng sinh tổn đớ tùng với sự phát

triển lực lượng sản xuất được tổ chức ngày một chặt chẽ

và tạo thành các xã hội với các hoạt động đa dạng và

phong phú trên nhiều lĩnh vực, với nhiều mối quan hệ phải xử lý đặc biệt khi có sự va chạm, xung đột về lợi

Trang 16

ích Các mối quan hệ này phải tuân theo các quy tắc xã hội nhất định gọi là các quy tắc xử sự chung

Trong xã hội cộng sản nguyên thuy, khi xã hội chưa phân chia thành giai cấp, chưa có sự đối lập về lợi

ích kinh tế giữa các tập đoàn người thì những quy tắc

xử sự chung ấy hình thành một cách tự phát, xuất phát

từ lợi ích chung của toàn xã hội; mà hình thức biểu hiện của nó là các phong tục tập quán; các quy tắt lễ nghi tôn giáo được thực hiện bằng sự tự giác của mỗi

- người trong xã hội và bằng uy tín của các thủ lĩnh, của

các lãnh tụ trong cộng đồng xã hội

Sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã, xã hội loài người phân chia thành giai cấp, xuất hiện sự

đối lập về lợi ích kinh tế giữa các nhóm, các tập đoàn

người, thì sự tranh đấu giữa họ với nhau ngày càng trở nên gay gắt Trong điều kiện đó, để giữ cho xã hội trong

.vòng kỷ cương nhất định, giai cấp thống trị nắm trong

tay những lực lượng sản xuất chủ yếu, những của cải chủ yếu, tìm cách tổ chức nên một thiết chế đặc biệt với những công cụ đặc biệt - thiết chế Nhà nước, và quy tắc -xử sự chung lúc này chính là pháp luật:

Pháp luật là một công cụ đặc trưng và quan trọng _nhất của Nhà nước trong quá trình quản lý xã hội

Điều 12, Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp

luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công

17

Trang 17

dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các

vi phạm Hiến pháp và pháp luật

Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật

2.5 Kế hoạch

Kế hoạch là tập hợp các mục tiêu, các nhiệm vụ và

các nguồn lực phải có để thực hiện các mục tiêu, các nhiệm vụ đặt ra Kế hoạch là bản tường trình chi tiết

của các chương trình, nói một cách khác, kế hoạch

chính là các chương trình được viết thành văn bản Vì vậy người ta thường dùng lẫn hai từ nay Điều khác biệt giữa kế hoạch và chương trình chỉ là ở chỗ: kế -hoạch và chương trình đều là việc quyết định trước khi hành động; nhưng kế hoạch chưa nêu rõ tiến trình

hành động theo trật tự nào, nó mang tính bao quát và

co giãn hơn Còn chương trình đã vạch rõ trình tự các công việc phải làm và mục tiêu thực hiện đã được

khẳng định rõ ràng cụ thể hơn

Chương trình là tổ hợp các mục tiêu, các chính sách, các thủ tục, các quy tắc, các nhiệm vu, các bước phải tiến hành, các nguồn lực cần sử dụng ` và các yếu tố cân thiết khác để thực hiện một ý đô lớn, một mục đích nhất định nào đó của Nhà nước Nó thường được gắn

liền với các ngân sách cần thiết Các chương trình có

thể là những chương trình lón và dài hạn như chương

trình dân số và kế hoạch hoá gia đình hay chương trình -_ trung hạn 3-3 năm nhằm đào tạo lại đội ngũ cán bộ

Trang 18

quản lý, hoặc cũng có thể là chương trình ngắn hạn có tính bộ phận như chương trình phủ xanh đổi trọc v.v

Một chương trình lớn thường bao gồm trong nó

nhiều chương trình bộ phận và nhỏ hơn và được giao

cho những bộ phận khác nhau thực hiện

Sau khi Nhà nước biết phải đi tới đâu, thì vấn để tiếp theo là Nhà nước phải xét xem có thể lựa chọn những biện pháp nào để đi tới chỗ đó Chính nhờ vào

các chương trình, mà Nhà nước có thể xem xét các biện

pháp thực hiện đề án của mình: và quyết định ra cách

hành động mà Nhà nước phải làm

Thông qua việc thành lập các chương trình ¡ mà › Nhà

nước thành lập được trình tự các vận động cần thiết để thực hiện các mục tiêu đặt ra Chương trình quy định

sự ưu tiên của các hoạt động, nhờ vậy mà Nhà nước có thể tập trung phần cơ bản các phương tiện của đất nước vào các khâu xung yếu, đẩy lùi lại sau các khâu thứ yếu vì, tuy không phải là vô ích, nhưng chúng sẽ làm mất quá nhiều thời gian và tiển bạc so với giá trị của

Không có chương trình, thì con người dễ có khuynh

hướng làm những điều có vẻ quan trọng trước mat dé

gạt bỏ mất những vấn để lớn, mà nếu không bắt tay

vào thực hiện chúng ngay từ đầu thì khó có thể thực

hiện xong

Một chương trình và kế hoạch được quy định tốt là

một công cụ vô giá giúp Nhà nước cân nhắc và đánh giá các khả nang hién dang có và dành các cố gắng tối đa

cho các vấn để quan trọng, kịp hành động trước khi

19

Trang 19

chúng trở thành cấp bách, chương trình cho phép Nhà nước phát hiện trước được các giải pháp cho các vấn đề

đó và phối hợp trong mục đích đó các tài nguyên, các khả năng và các cơ hội của đất nước

Việc thành lập các chương trình làm cho sự - phối hợp các công việc của nhiều phân hệ khác nhau trong đất nước được dễ dàng hơn Chương trình còn được dùng làm cơ sở cho việc kiểm tra các hoạt động

39.6 Các quyết định hành chính Nhà nước _ Các quyết định này là sản phẩm, trí tuệ của các nhà lãnh đạo và các công chức Nhà nước để điểu hành, quản lý xã hội; là sự thể hiện ý chí của Nhà nước bằng các mệnh lệnh mang tính đơn phương của: quyền hành pháp Nhà nước; nhờ đó tiến hành phát triển xã hội được thuận lợi Đây là trách: nhiệm tối thượng của Nhà nước tước xã hội ‘Cac quyết định đúng đem lại hiệu

quả, niềm tin, sự gắn bó dân tộc Các quyết định sai sẽ

là tổn thất, đổ vd, thậm chí sựp đổ của cả một: chế độ xã

2 + Văn hoá, truyền thống dan téc

Van hoa dân tộc theo cách hiểu thông thường là toàn bộ của cải vật chất và tỉnh thần do con người tạo

ra trong quá trình hoạt động xã hội và lịch sử thực tiễn của dân tộc Nó bao gồm cả văn hoá tỉnh thần (tri thức, tâm hồn, đạo lý, tính cách, lối sống, trình độ, thẩm mỹ,

ý thức pháp luật, tín ngưỡng, nghệ thuật khoa học, công nghệ, phong tục, thói quen, đạo đức: Y.V thể hiện cách sống, cách nghĩ và cach đối xử đối với người khác)

Trang 20

và văn hoá vật chất (các công trình kiến trúc, hệ thống

công sở, công viên, tượng đài, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các công trình xây dựng có giá trị khác v.v ) Văn hoá là chất keo giúp cho xã hội được gắn bó

“bền vững nhờ đó giúp cho đất nước có khả năng bảo tổn

và phát triển trước các thử thách của lịch sử Nhờ có văn hoá mà con người có thể chống trả thắng lợi trước mọi âm mưu xâm lược và nô dịch của ngoại bang; tiếp nhận và chuyển hoá được văn hoá của các dân tộc khác

để phát triển đất nước Văn hoá đóng vai trò vừa là nền tảng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là hệ điều

tiết của sự phát triển kinh tế - xã hội đối với mỗi quốc

gia Đặc biệt trước nguy cở nhằm đồng nhất hoá các giá

trị và tiêu chuẩn đạo đức của một số cường quốc thế

giới đối với nhân loại ngày nay; mà một số siêu cường đang có đã tâm và chiến lược thực hiện

3 Các chính sách kinh tế - xã hội

Chính sách quản lý nói chung, chính sách kinh tế -

xã hội nói riêng là tổng thể các quan điểm, các chuẩn

mực, các biện pháp, các thủ thuật mà chủ thể quản lý

(rong phạm vi quốc gia đó là Nhà nước) sử dụng nhằm

tác động lên đối tượng và khách thể quản lý để đạt đến

những mục tiêu trong số các mục tiêu chiến lược chung

của đất nước-một cách tốt nhất sau một thời gian đã

Các quan điểm là các căn cứ của kiến giải, là sức

nhận biết (trinh độ) của Nhà nước được sử dụng để nghiên cứu, giải quyết các vấn đề quản lý vừa bảo đảm

21

Trang 21

thực thi đường lối (trị đạo), vừa đạt được các mục tiêu phát triển cụ thể cho từng giai đoạm phát, triển một

“Các quan điểm chính là các nguyên tắc thể hiện bản chất của một chế độ xã hội được dùng để xem xét moi vấn đề đặt ra ‘trong’ tiến trình xây dựng đất nước, đánh mất nó Nhà nướ¿ sẽ bị tiêu diệt, xã hội sẽ biến chất Người xưa nói rất đúng: hành động không quan điểm là múa rối; liên kết hội nhập không quan điểm : là đầu cơ; nhượng bộ không quan điểm là đầu hàng; thủ đoạn không quan điểm là phá: hoại

Các quan điểm còn là kim chỉ nam chỉ đạo tất cả các hoạt động của các phân hệ (địa phương, ngành) Nó

là chuẩn mực để khi tiến hành lựa chọn các mục tiêu bộ phận người ta không được phép gây tổn.hại tới mục tiêu chung, lợi ích chung của cả đất nước

Thực tế chỉ rõ, để tiến hành quản lý xã hội, Nhà nước phải triển khai thực hiện rất nhiều mục tiêu khác

nhau nhằm giải quyết các vấn đề khác nhau theo các

trình tự ưu tiên khác nhau Như vừa phải lo phát triển

kinh tế, vừa phải chăm lo đến vấn đề an ninh quốc phòng Vừa phải giải quyết vấn đề lo vốn để phát triển các vùng dân tộc miền núi Vừa giải quyết vấn đề kinh

tế, vừa chăm Ìo sự nghiệp giáo dục và nâng cao dân trí V.V

Để thực hiện các mục tiêu khác nhau, nhưng lại

phải đạt đến một tương lai chung tốt nhất cho cả xã

hội; Nhà nước phải có quan điểm nhất quán tong quá

Trang 22

mm

trình thực hiện mục tiêu Quan điểm phát triển của đất

nước ta hiện nay là : 1) phát triển đất nước theo định

hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm vai trò lãnh đạo của

Đảng đối với xã hội, 2) phát triển nền kinh tế nhiều

thành phần, 3) tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá và

hiện đại hoá đất nước, 4) lấy giáo dục, đào bạo và khoa học, công nghệ là quốc sách hàng dau, 5) gắn đổi mới

kinh tế với đổi indi chính trị, 6) kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện các chính sách công

bằng xã hội

Các biện pháp quản lý là các phương pháp hành động được Nhà nước lựa chọn, sử dụng để tiến hành _ thực hiện các mục tiêu quản lý cụ thể Nếu các quan '

điểm mang tính tư tưởng, tính chỉ dao tam chiến

lược,thì các biện pháp nghiêng về tính điều hành cụ

thể, tính tác nghiệp Chẳng hạn đường lối sử dụng công

nghệ như là một đòn bẩy chủ yếu để phát triển đất

nước là một quan điểm; thì biện pháp quản lý có thể là

việc lựa chọn công nghệ thích hợp hay lựa chọn công

nghệ hiện đại; là quan hệ song phương hay đa phương

trong việc sử dụng công nghệ, là nguyên tắc và cách thức tiếp nhận và hội nhập công nghệ với khu vực và

quốc tế

_ Các thủ thuật quản lý là các biện pháp quản lý đặc thù được lựa chọn để thực hiện một nhiệm vụ, một mục

tiêu riêng biệt nhất định Nó chỉ có giá trị nhất thời và

trong những điều kiện cụ thể mà thôi

23

Trang 23

Sơ đồ 2 Nội dung của chính sách

Chính sách của mỗi nước, về thực chất, là một chủ

trương tương đối dài hạn của Nhà nước để sử dụng các công cụ quản lý nhằm hướng dẫn, khai thông con

đường phát triển của đất nước (của hệ thống) Chính

sách thường hướng vào việc xử lý những lĩnh vực bức

bách cần phải giải quyết trong: mỗi chặng đường, bảo đảm cho sự tổn tại và phát triển của hệ thống, chống trả các mũi nhọn cản phá của thế lực thù địch cố ý hoặc

vô tình gây ra cho hệ thống Cho nên mỗi chính sách

đều có thời hạn tồn tại nhất định của nó

Chính sách là sản phẩm chủ quan của các nhà lãnh đạo và hoạch định đất nước trong quá trình thực thi

quyền lực và ý đổ của mình; cho nên nó chỉ có thể

24

Trang 24

-thành công nếu nó phù hợp với điều kiện thực tế khách

quan diễn ra của hệ thống và khắc phục được những

tác động phản kháng nghịch chiều hoặc gây nhiễu khác

từ mọi phía đối với hệ thống

Một chính sách thường không tổn tại riêng rế mà

bao giờ cũng có sự: liên kết hoặc chỉ phối qua lại giữa các chính sách khác Để đưa ra và thực thi một chính

sách cần phải có các khoản chỉ phí (công sức, tiền của,

uy tín v.v ); do dé nó phải thu được những kết quả tương xứng (hiệu quả, hiệu lực, hậu quả) chính sách của Nhà nước thường có tác động trực tiếp hoặc gián

tiếp đến một diện rất rộng các tầng lớp dân cư trong xã

hội theo những mức độ khác nhau Nó có thể đưa lại những lợi ích khác nhau cho những tầng lớp dan’ cu khác nhau; do đó mức độ hưởng ứng đối với mỗi chính sách của Nhà nước trong mỗi tầng lớp dân cư khác

4 Vai trò của các công cụ và chính sách quản lý

4.1 Các công cụ và các chính sách quản lý là phương tiện đặc thù và không thể thiếu mà Nhà nước

sử dụng để quản lý kinh tế - xã hội

Quan sát, một con người, ta có thể thấy rõ tình cảnh của họ khi họ đã bị hỏng hết các giác quan (cụt cả

hai tay hai chân, mắt hỏng tai điếc, lưỡi mất cảm giác)

lại không có a1 giúp đỡ thì họ còn có khả năng làm được

gì để tổn tại Chính các giác quan và những con người

hoặc các thiết bị đã đóng vai trò vật truyền dẫn ý nghĩ

25

Trang 25

của con người ~ nó là phương tiện biến ý nghĩ của con người trỏ thành hiện thực Cũng tương tự như vậy, các,

công cụ, các chính sách, các giải pháp quản 'lý kinh tế -

xã hội đóng vai trò là các phương tiện của Nhà nước trong quá trình điều hành xã hội, nó là môi trường, là công cụ đruyển dẫn các tác động, quản lý của Nhà nước đến với mỗi con người trong xã hội Chang han, Nha nước dùng công sở, công cụ công chức để thể, hiện sự có mặt của mình trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia thực thi cac hoat dong quan ly xa hội Đó là sự đối thoại trực tiếp giữa công đân và Nhà nước, nơi xử lý các quan hệ

- bất bình thường và các thông lệ do: luật định ban hành (xử lý tranh chấp quyền lợi, kiện tụng; đăng ký kết hôn, khai sinh, khai tử, công chứng van ban hanh chinh V v )

4 9, Các công cụ và 'chính sách quản lý góp, > phan thong nhat tu tưởng và hành động của mọi con người trong xã hội

Các công cụ và chính sách quản lý gắn kết ý nghĩ

và hành động của công dân trong mỗi hướng hoạt động nhất định và trong toàn bộ định hướng phát triển chung của xã hội Chẳng hạn chính sách công nghiệp hoá và hiện đại hoá của một quốc gia, tất yếu dẫn tối

sự tập trung các nguồn lực đất nước; tất yếu sẽ có những giải pháp đặc thù quy tụ các nguồn nhân tài vật

lực để thực hiện Ví như việc nước ta thực hiện đường

điện xuyên đất nước và con đường Trường Sơn hiện đại nối liền các miền đất nước và gắn đất nước với các nước trong khu vực và thế giới; tất yếu là các giải pháp thu hút mọi nguồn vốn trong dân và ngoài nước; mọi hoạt

Trang 26

động về đào tạo cán bộ, chính sách phân vùng, chính sách cơ cấu kinh tế v.v đều phải xoay quanh trục công

nghiệp hoá và hiện đại hoá này

4.3 Các công cụ và chính sách quản lý góp phần

đẩy nhanh và có hiệu quả các tiến độ của các hoạt động `

thuộc mục tiêu mà các chính sách nhằm tới

Nói chung, các chính sách quản lý đều nhằm tập

trung sức chú ý của Nhà nước vào các mục tiêu trọng

điểm (mà chính sách để cập tới), nhờ đó mà các mục

tiêu này được đẩy nhanh hơn so với các mục tiêu không quan trọng bằng Ví như cùng với khoa học và công

nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu của đất nước ta;

thì tất yếu các mặt hoạt động thuộc các lĩnh vực khoa học công nghệ và giáo dục phải được phát triển nhanh

hơn, hiệu quả hơn do được Nhà nước chú ý hơn thông

qua việc dỗn các nguồn lực có thể cho các hoạt động này

4.4 Các công cụ và chính sách quản lý còn góp

phần thúc đẩy lẫn nhau để cùng phát triển

Việc ban hành chính sách quản lý, nói chung không phải là sự tính toán cắt rời, cô lập; mà nó phải được cân nhắc trên một tổng thể các mục tiêu nhất định mà ứng với nó là một loạt các chính sách thích

hợp Nói chung, mỗi giai đoạn phát triển nhất định, Nhà nước phải đưa ra một hệ thống các chính sách

khác nhau có những mỗi liên quan lệ thuộc chặt chẽ

vào nhau Sự thực thi một chính sách này có hiệu quả,

sẽ là tác nhân tích cực giúp cho việc thực hiện thành

công các chính sách có liên quan khác

27

Trang 27

II 'CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC CÔNG CỤ VÀ CHÍNH SÁCH

1.Các nhân tốvềthểchếxãhội

_1.1.: Thể chế xã hội (chính thể xã hộ)

Thể chế xã hội hay còn gọi là thể chế hành chính;

là hình thức tổ chức Nhà nước do Hiến pháp quy định

bao gầm cách thức thành lập các co’ quan NHà nước cùng mối quan hệ giữa các co quan này và mức độ tham gia của nhân dân vào: -việc tổ chức quyền lực Nhà nước trong qua’ trinh quan lý xã hội

_Thể chế xã hội quy định mục dich va dao lý: của mục đích mà Nhà nước muốn đạt tới Đó là sự thoả

mẫn các nhu cầu của xã hội và phương thức, tác phong

mà mọi con người, kế: cả những người có quyền lợi gắn

bó với Nhà nước cũng như mọi tầng lớp dân cư khác phải liên kết để mà hoạt động Chẳng hạn thể chế xã

hội nước ta theo Hiến pháp 1992 là xây dựng và thực

thi thành công chủ nghĩa xã hội (dân giàu, nước mạnh;

xã hội công bằng, văn minh; dựa trên bản chất chuyên _ chính vô sản, bảo vệ và phát triển hai hình thức sở hữu cơ-bản là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể)

'Thể chế xã hội thường mang tính vững bền trong

nội dung, vì các Nhà nước luôn vì nó mà đấu tranh, bảo

vệ và phát triển Đó là điểm phân biệt mang tính nguyên tắc giữa các chế độ xã hội Điều này giải thích

Vì sao các cường quốc thế giới luôn luôn muốn áp đặt thể chế của xã hội mình cho các quốc gia khác

Trang 28

Thể chế xã hội được thể hiện thông qua cơ cấu cụ

thể bao gầm việc sắp xếp các cơ quan hành chính, sự phân chia quyền lực và mối quan hệ giữa cac cd quan cùng quy chế vận hành của các cơ quan đó

Với tất cả những nội dung đã phân tích, thể chế xã hội có tác động to lớn đến các công cụ và chính sách

quản lý kinh tế xã hội Chính từ thể chế xã hội mà Nhà

nước đặt ra và thực hiện các chính sách quản lý cụ thể

cho mỗi giai đoạn phát triển nhất định của lịch su,

1.2 Định hướng chiến luge: phat trién dat nước `

1 3 1 Định hướng phát triển đất nước

Để phát triển đất nước, vấn để đầu tiên mà các Đảng cầm quyền (hoặc các thế lực chính trị cầm quyền) phải nêu ra được các định hướng đúng đấn cho sự phát triển, vạch ra một lộ trình mà đất nước phải tiến hành;

vì thế định hướng phát triển là chức năng quản lý cơ bản nhất của Nhà nước

Định hướng là một quá trình ấn định những nhiệm

vụ và mục tiêu lớn cùng các phương pháp tốt nhất để

thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu định hướng đã

đặt ra trong một khoảng thời gian dài của đất nước „

Định hướng, do đó, là một nhân tố có tác động chỉ phối to lón lên các chính sách quản lý ở nước ta định hướng của sự phát triển đất nước là đi lên chủ nghĩa xã

29

Trang 29

hội, chính định hướng này đã đặt ra cho Nhà nước ta hàng loạt chính sách mà nhiều quốc gia khác ít quan tâm tới, như chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách

đối với các gia đình thương binh liệt sĩ, chính sách công bằng xã hội v.v

1.2.2 Chiến lược phát triển đất nước ¬

Chiến lược này là sự cụ thể hoá một bước định

hướng phát triển đất nước trong những chặng đường

tương đối dài Chiến lược là các tư tưởng chủ đạo, các

mục tiêu, các trọng điểm ưu tiên và các giải pháp chủ

yếu nhằm thực hiện các tư tưởng, các mục tiêu và các

trọng điểm cần đạt của Nhà nước đã được vạch ra Chính từ chiến lược phát triển chung của đất nước, tách

ra sẽ là :các chiến lược bộ phận của sự phát triển và từ

đó ra đời các chính sách quản lý tưởng ứng

“Chang hạn chiến lược toàn cầu của Mỹ đã thúc đẩy nước Mỹ đưa ra các chính sách chiếc gậy và củ cà rốt, chiến lược vượt trên thế giới về công nghệ tin học v.V

đã kéo theo các chính sách khoa học và thu hút tiểm năng chất xám từ bên ngoài Chiến lược muốn trở

thành một quốc gia trụ cột của nhân loại đã đưa nước Trung Hoa ban hành hàng loạt các chính sách hiện đại

với tốc độ nóng và sốc Chiến lược duy trì thế cân bằng

điữa các cực đã đẩy đến chính sách hội nhập của các

Trang 30

2 Các nhân tố gây nhiễu và tác động tương hỗ

đến sự phát triển của xã hội

8.1 Các nhân tổ mồi trường uà các mốt quan

hệ đối ngoại

Cùng với xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế, giữa các quốc gia ngày nay đã hình thành nên những mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc vào nhau với những

mức độ khác nhau Có thể là mối quan hệ hợp tác mang tính kinh tế, tính chính trị hoặc tính quân sự, cũng có thể là những mối quan hệ trong đó nhen nhóm các mối

hận thù hoặc phủ định tiêu diệt nhau v.v : Tất cả

những điều đó buộc các quốc gia phải có các chính sách

thích hợp với nghĩa là các đối sách để đối phó và xử lý

- Các mưu mô toan tính cho những năm đầu của thế

kỷ 21 của nhiều quốc gia đã kéo theo những chính sách của hàng loạt các quốc gia khác Việc mong muốn

khống chế biển Đông ‘cha Trurig Quốc, buộc các nước ASBAN phải có các chính sách đối ngoại thích ứng Việc

hy vọng mở rộng biên giới Nato xuống phía Đông buộc

nước Ñga phải có chính sách quốc phòng và ngoại giao phù hợp để bảo vệ sự an toàn và ảnh hưởng khu vực

của mình Cuộc chạy đua khống chế khoảng không vũ

trụ, buộc các nước có các chính sách công nghệ thích hợp (về tin học, về khoa học vũ trụ) Việc mở rộng quy

mô dân số, việc tàn phá và huỷ hoại môi trường đã dẫn

tới việc buộc mọi quốc gia đều phải đưa ra các chính sách thích ứng về dân số và môi trường Y.V

31

Trang 31

Mỗi giới lãnh đạo của mỗi quốc gia đều phải có

trách nhiệm đưa đất nước và dân tộc mình tiến lên, trở thành những lực lượng quan trọng trong sự phát triển

chung của nhân loại, phát huy vai trò và ảnh hưởng

của mình đối với các nước khác Các mong muốn nói

trên là khách quan và hợp lý Nhưng đo tính ích kỷ cố hữu của con người, nhiều nước muốn nước mình phải

được giữ quyền chỉ phối to lớn hoặc quyết định đến vận

mệnh, xu hướng phát triển của các quốc-gia khác; đó là những toan tính thiển cận, bởi vì nó sẽ không bao giờ có

thể đạt được vĩnh viễn lâu đài trong thế giới ngày nay

Nhất thời, các cường quốc lớn và mạnh có thể chỉ phối, khống chế trên một phạm vi nào đó với các nước khác

Nhưng cùng với sự phát triển, biến đổi, và hoà nhập

của nhân loại; cùng với sự biến đổi của vũ trụ bao la đi

theo là các hiểm hoạ chung của loài người; tất yếu các ý

đồ ích ky ké trén khéng thé thuc hiện chót lọt Sự đối đầu, sự thoả hiệp, sự kết hợp, sự tách chia; mô dịch - chống nô dịch - nô dịch lại - chống nô dịch sẽ là một cái vòng luẩn quan khó có thể chấm dứt trong nhiều nam tới của lịch SỬ, nhân loại Chính từ cái vòng luần quần nói trên, việc hoạch định các chính sách của mỗi quốc gia đều không thể xem nhẹ các yếu tố chỉ phối này Đó là một thực tế rất quan trọng khi tính toán, thực thi các chính sách mà Nhà nước phải chú ý

9.9 Các nguy cơ, hiểm hoa can né tránh

"Sự biến đổi và tồn tại của xã hội có những quy luật khách quan chỉ phối; các quy luật này sẽ phát sinh tác dụng (tác lợi hoặc tác hại) khi các điều kiện của nó xuất

Trang 32

hiện đầy đủ Chẳng hạn đã là kinh tế thị trường, thì tất yếu phải có sự cạnh tranh để tồn tại và phát triển; tất yếu sẽ xuất hiện khoảng cách giàu nghèo (giữa các ' bội

phan dan cư, các địa phương, các cá nhân v.v ) Cac

quy luật phát sinh tác hại đến một quy mô đủ lớn sẽ

gây đảo lộn hoặc thậm chí đổ võ cả một chế độ xã hội

Các quy luật này diễn ra theo nhiều khuynh hướng;

thứ nhất, nó tạo.ra các bất công quá ngưỡng của xã hội;

thứ hai, nó tạo ra các tội phạm xã hội; thứ ba,:nó.dẫn

đến một xã hội ngưng trệ với những con người bạc nhược và mất hết ý chí (thd d, cuéng tin hoặc chán

chường, bế tắc, cam chiu v.v.:.) ¬— Các bất công xã hội chủ yếu do tệ quan liêu, tham

nhũng và tệ coi trọng đồng tiền, coi khinh đạo lý xã hội

Đó là sự tha hoá của bộ máy quản lý; sự hư hỏng quá

mức của đội ngũ viên chức và cán bộ điều hành, chi phối guồng máy cai trị đất nước Đây đương là một nhân tố cực kỳ nguy hại của nhiều quốc gia trên thế

giới, vì nó mà sẽ làm cho xã hội trì trệ, đình đốn; tạo

thêm nhiều bất công và tội phạm xã hội mới; tạo ra sự

hờ hững của quần chúng H trước sự phát triển của đất

Tội phạm xã hội, đó là những hành vi nguy hiểm -

bất thường, gây ra cho xã hội do những hành vi bất

lương của -kẻ phạm tội như cướp của, giết người, mại dâm, ma tuý, tàn phá môi trường v.v mà Nhà nước

không kiểm soát và khống chế được Nó là hậu quả trực

tiếp của các bất công xã hội ở trên; của sự quản lý bất

lực của Nhà nước và của sự vô trách nhiệm của các công dân trước các hành vi mang tính tội phạm của xã

33

Trang 33

hội; nó thể hiện một lối sống vô trách nhiệm của con

rigười theo kiểu mặc ai nấy lo "

Hiện tượng ngưng trệ xã hội là hiện tượng bế tắc

trong cuộc sống của số đông các con người; họ thấy cưộc

sống là: vô ý nghĩa, đạo lý, lẽ phải, công bằng xã hội là điều không thể có; họ mất lồng tin vào bản' thân và cuộc sống; đẫn tới các hành vi bạc nhược và phi ý chí:

tu sat tap’ thể, tôn thờ các giáo phái quái dị và nguy

hiểm, các hành vi quá khích (nghiện ngập ma tuý, đua

xe cao tốc, quần hôn, đồng tính luyến:ái, mê tín dị

đoan, tôn sùng quyền hành chính trị, tư tưởng phục ngoại hoặc bài ngoại quá khích v.v ) peg

3 Các nhân tố tạo động lực x và điều tiết su phat triển của xã hội

3.1 Động lực vận hành xã hội

Đây cũng là một nhân tố có tác động trực tiếp lên

các chính sách của mọi quốc gia Động lực vận hành xã

hội là các nguồn tạo ra các kích thích giúp cho xã hội

tổn tại và hoạt động Các kích thích có thể diễn ra theo

các chiều hướng khác nhau: tích cực và tiêu cực (tương ứng với các động lực tiến bộ hoặc động lực thoái hoá) Giống như một chiếc máy, muốn vận hành được nó phải

có động cơ là cái tạo ra lực kích động cho nó hoạt động Động cơ là nhân tố tác động, mang tính quyết định nhờ

đó làm cho máy vận hành, nhưng nó phải nhờ đến các nguồn nhiên liệu được nạp vào cho nó; động cơ chính là

cái dùng để biến các nguồn nhiên liệu thành lực mong muốn để máy chuyển động Chat lugng của động cơ ảnh

Trang 34

hưởng trực tiếp đến chất lượng của lực được tạo ra ve

độ lớn, về độ bền, về tính ổn định v.v )

Đối với mỗi xã hội, động lực vận hành xã hội chủ

yếu là cá nhân các con người và sự liên kết giữa họ

trong quá trình làm cho xã hội tổn tại và chuyển

động.Thông thường nó có thể tổn tại theo các chiều

hướng sau:

- - Dùng sức lao động thu cong; -

- Ding stic lao dong công nghệ hoá (cơ khí hoá, tự: động hoá, tin hoc hoá v.v

- Dùng sức lao động cá : thể, phân tán; -

- Dùng sức lao động tập trung, quy mô lồn;

- Dùng sức lao động với động cơ làm việc cá nhân;

- Dùng sức lao động với động cơ làm việc tập thể,

xã hội;

._.- Dùng sức lao động với động cơ làm việc vì tiền

bạc;

- Dùng sức lao động với động cd làm việc vì niềm

tin, dao ly, ly tưởng xã hội;

- Dùng sức lao động với động cơ làm việc vì lương tâm trách nhiệm, nghĩa vụ gia đình;

- Dùng sức lao động với động cơ tôn giáo;

- Dùng sức lao động với động cơ văn hóa, truyền thống dân tộc;

- Dùng sức lao động với động cơ nhân loại; :

j5:

Trang 35

- Dùng sức lảo động với | dong cơ ngau chứng, tuỷ

- ~ Dùng sức lao động với động cơ chính trị, ý thức hệ

Chính từ các động cơ làm việc khác nhau mà xu thế

và tốc độ phát triển của các quốc gia ở mỗi giai đoạn

nhất định thu được sẽ khác nhau Các chính sách quản

lý sẽ khơi thông các nguồn động lực, giúp:cho sự phát

triển đi theo các định hướng quy định Rõ ràng nếu một

xã hội chấp nhận kinh tế thị trường thì việc dùng sức lao động công nghệ hoá và động cơ làm việc theo lợi ích

cá nhân, tiền bạc v.v tất yếu được để cao; tất yếu tạo

ra sự chênh lệch ðiàu nghèo trong xã hội và các tiêu cực khác Cho nên Nhà nước phải lựa chọn kết hợp:chuẩn xác các động cơ có lợi cho sự phát triển để “hình: thành các chính sách và phương hướng tác động của các chính sách theo định hướng mong muốn của mình Tránh vì một số mục tiêu vật chất nhất thời mà bỏ quên mục tiêu bản chất và à đạo lý của đất nước -

_3.9 ‘Cac uấn đề cần sự điều tiết của + Nhà r nước

- Đây cũng là những nhân tố tác động to lớn đến việc ban hành và thực thi các chính sách quản lý của đất nước, nếu không được chú ý thích đáng sẽ gây các can trở, bế tắc của sự phát triển Chẳng hạn sự chênh lệch phát triển giữa thành thị và nông thôn; những bất

đồng về sắc tộc, tôn giáo, về giới, những bất công về

trình độ khoa học công nghệ của sự phát triển; những

trì trệ lạc hậu về kết cấu hạ tầng; những tranh chấp về

Trang 36

kinh tế của các địa phương; những tiêu cực trong sử

dụng lao động v.v

Tất cả những bất thường và mất cân đối kể trên

_ phải được lường trước trong sự phát triển đất nước và

phải có những chính sách đón đầu xử lý

4 Nhân tố vòng đời của các chính sách

Mỗi chính sách ra đời, phát huy tác dụng đều theo

những quy luật nhất định với những giới hạn nhất định.Thông thường lúc đầu chính sách ít được xã hội hưởng ứng: nhiều trở ngại níu kéo do tính mới lạ của

nó; do nó chỉ phối, san sẻ lợi ích của nhiều đối tượng; do những người thực thi chính sách chưa đủ hiểu biết,

chưa đủ kinh nghiệm (giai đoạn này gọi là giai đoạn

đưa chính sách vào thực hiện - giai đoạn 1) Tiếp theo,

chính sách, theo quán tính vận động của mình, nó phát

huy được hiệu quả theo mong muốn của các nhà hoạch

định (giai đoạn 2 - giai đoạn hiệu quả và hiệu lực) Sau

giai đoạn 2, chính sách trở nên quen thuộc với những người thực thi, khả năng tác động gần như không còn mấy, nhất là xã hội đã có những thay đổi, đòi hỏi việc

thực thi chính sách phải có những hình thức mới thích

hợp, nếu không sẽ trở nên lỗi thời (giai đoạn 3 giai

đoạn hiệu lực giảm) Sang giai đoạn 4, chính sách gần

như mất: hết hiệu lực, nó đã làm xong nhiệm vự của mình và cần phải được thay thế bởi một chính sách mới

— thích hợp.với điều kiện mới (giai đoạn 4 - giai đoạn lac

37

Trang 37

Sơ đồ 3 Vòng đời của một chính sách

† Hiêu lực và hiệu quả của chính sách

Điểm ngưỡng hiệu lực của chính sách

dài của vòng đời dài hơn, diễn biến phức tạp hơn mà ta cần lưu ý để xử lý cho thoả đáng

Trang 38

5 Phân loại chính sách

Để quản lý một xã hội, ở mỗi thời điểm Nhà nước

phải thực hiện hàng loạt các mục tiêu, do đó cũng phải

hình thành rất nhiều chính sách để thực hiện Các chính sách có thể chia thành cá¿ nhóm lớn: :

5 1 Các chính sách hình tế

Là các chính sách tác động lên các lĩnh vực hoạt

động kinh tế, phát triển và làm giàu cho đất nước; nó có

vị trí to lớn trong hệ thống các chính sách Chính sách kinh tế đến lượt mình lại chia ra thành nhiều chính

sách cụ thể hơn đi vào từng mặt, từng lĩnh vực kinh tế nhất định (trong nông nghiệp, trong công nghiệp, trong

xuất khẩu, trong nhập công nghệ cho khu chế xuất và

công nghệ cao, cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài

sách miền núi, chính sách tôn giáo, chính sách văn hóa

giáo dục, chính sách xóa đói giảm nghèo v.v )

5.3 Các chính sách còn lạt khác

' Là các chính sách giáp ranh giữa hai loại chính

sách nói trên, nhằm tác động lên các lĩnh vực tương

ứng của quản lý xã hội (chính sách an ninh quốc phòng, chính sách đối ngoại, chính sách môi trường .)

39

Trang 39

Việc phân loại chính sách còn có thể theo tầm quan trọng, theo độ dài thời gian thực hiện

III CÂU HỎI ON TAP VÀ BÀI TẬP

1 Quan lý xã hội là gi? Ai la người tiến hành việc quản lý này? Nhà nước muốn quản lý xã hội phải thực hiện các nội dung nào? Chính sách quản ý dong \ vai tro

gi i trong các nội dung này?

2 Công cụ quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước là

gì? Có những loại công cụ thường sử: dụng nào? Chúng

đóng vai trò gì trong hoạt động quản lý của Nhà nước?

_8 Chính sách quản lý là gì? Nó bao gồm các nội dung nao? Chinh sách đóng vai trò gì trong công tác quản, lý của Nhà nước? Lấy ví dụ thực tế mình hoạ?

4 Chính sách kinh tế xã hội của một quốc gia chịu tác động của các nhân tố nào? Nhân tố nào là quan trọng nhất? Vì sao? Cho vi du minh hoa?

§.:Céng: cuédc: déi mới của: đất nước ta từ tháng

3/1986 đến nay đạt được rất nhiều kết quả tốt đẹp, đó

là do.Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện thành công các

chính sách nào? Các chính sách này có còn tác dụng cho giai đoạn tối nữa hay không? Vì sao?

6 Các cường quốc trên thế giới giữ những vai tro quan trong chi phối tiến trình phát triển của thế giới những | năm vừa qua; đó là -do họ đã thực hiện những chính sách nào? Vì sao họ lại thành công được khi thực

hiện các chính sách đó? Cho ví dụ thực tế minh hoạ? -

Trang 40

Chương II |

CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH

_QUẢN LÝ

Xây dựng và thực thi chính sách quản lý của đất

nước là một quá trình lâu dài, phức tạp, có mở đầu, có

kết thúc; bao gồm một chuỗi liên hoàn các thao tác để

đồng thời đưa ra hàng loạt các chính sách phải thực

hiện:

- Phân tích tình thế đất nước; bao gồm việc xem

mình xét người để có đối sách thích hợp

- - Dự đoán các biến động có thể xảy ra trong tương

lai để mà đối phó, khai thác, tận dụng :

- Phân tích thực trạng đất nước; để xử lý các tình

thế và các diễn biến có thể xây ra trong tương lai

- Hình thành các tình thế chiến lược của sự phát triển

- Lựa chọn cây mục tiêu của sự phát triển

- Xây dựng các quan điểm chỉ đạo phát triển

- Đưa ra các.chính sách phát triển

- Tổ chức thực hiện chính sách

41

Ngày đăng: 08/11/2022, 22:44

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm