• TRẦN ĐẠI QUANGĐổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực bảo đảm an ninh, trật tự trong hội nhập quốc tế • NGUYỄN ĐÌNH LUÂN Vấn đề chiến tranh và hòa bình trong quá trình h
Trang 1TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2Ths Nguyễn Thị Hải Yến
Ths Nguyễn Thị Kim Oanh
CN Nguyễn Thị Lay Dơn
Địa chỉ: 36 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội
• NGUYỄN VIẾT THẢO
9 18 3
57
42 49 33
63
73
80
Trang 3• TRẦN ĐẠI QUANG
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với lĩnh vực bảo đảm an ninh, trật tự
trong hội nhập quốc tế
• NGUYỄN ĐÌNH LUÂN
Vấn đề chiến tranh và hòa bình trong quá
trình hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
• LÊ THẾ MẪU
Một số vấn đề về toàn cầu hóa trong lĩnh vực
quân sự, an ninh quốc phòng hiện nay
• NGUYỄN CẨM TÚ
Sự lãnh đạo của Đảng – nhân tố quyết định
thành công hội nhập kinh tế quốc tế trong
giai đoạn mới
• NGUYỄN MINH PHONG, NGUYỄN MINH TÂM
Một số vấn đề đặt ra về đổi mới kinh tế
trong bối cảnh hội nhập
• NGUYỄN ANH TUẤN
Xu thế phát triển kinh tế thế giới đến năm
2030 và những vấn đề đặt ra đối với hội
nhập quốc tế của Việt Nam
• NGÔ VĂN HÀ, NGUYỄN VĂN TRIỆU
Ba mươi năm hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam
• PHAN VĂN RÂN
Quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện đường
lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa,
hội nhập quốc tế
• TRẦN VĂN HẰNG
Những thành tựu đối ngoại của Quốc hội Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập
PHẦN III: TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC
TẾ TRÊN LĨNH VỰC BÁO CHÍ, VĂN HÓA VÀ
Phát triển văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế - thời cơ và thách thức
226 220
Trang 4Thập niên 80 của thế kỷ trước, toàn cầu hóa xuất hiện như một xu thế tất yếu của lịch
sử Nó được khơi nguồn ở các nước tư bản phương Tây và là sản phẩm của học thuyếtchủ nghĩa tự do mới, do Anh và Mỹ khởi xướng Chủ nghĩa tự do mới xem nhẹ vai tròquản lý của nhà nước trong kinh tế thị trường, nó chủ trương tự do hóa, tư nhân hóa vàphi điều tiết hóa triệt để nền kinh tế Cuộc cách mạng công nghệ thông tin là cơ hội chocác cường quốc tư bản thực hiện chiến lược “thống trị toàn cầu”, hiện thực hóa học thuyếtcủa chủ nghĩa tự do mới Từ đó khái niệm toàn cầu hóa được nhắc đến và trở thành xuthế vận động tất yếu của lịch sử
Quả thật, toàn cầu hóa cả lúc thịnh cũng như lúc suy đã và đang tác động sâu sắc đếncác nước, các khu vực khác nhau trên thế giới ở tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường Toàn cầu hóa, một mặt được quyết định bởi yếu
tố vật chất là thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, mặt khác khoahọc công nghệ lại là phương tiện cho một lực lượng xã hội có uy thế thực hiện mục đíchcủa mình Cho nên, tiến trình toàn cầu hóa luôn chứa đựng những cơ hội và thách thứcđối với các quốc gia Mặc dù vậy, một đáp số chung duy nhất cho sự tồn tại và phồn vinhcủa tất cả các quốc gia, dân tộc là phải gia nhập vào tiến trình toàn cầu hóa, mà yếu tốtrước tiên là tham gia cuộc cạnh tranh của thị trường toàn cầu
Hiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ vàhình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đanxen rất phức tạp, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế Các công ty xuyên quốc gia có vai tròngày càng lớn Quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càngsâu rộng Việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầuđối với các nền kinh tế Sự tùy thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp tác giữa cácnước ngày càng trở thành phổ biến
Khoảng thời gian gần 30 năm thực hiện sự nghiệp Đổi mới do Đảng Cộng sản ViệtNam khởi xướng và lãnh đạo, cũng là khoảng thời gian Đảng ta đã nhận thức rõ hơn vấn
đề toàn cầu hóa và đã tiến hành mở cửa, hội nhập từng bước ngày càng sâu rộng Dưới
sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã gắn vấn đề đổi mới với vấn đề toàn cầu hóa, hộinhập và phát triển bền vững như một chu trình, một chỉnh thể có quan hệ biện chứng,tương hỗ với nhau, sử dụng chúng như tổng hợp động lực của sự phát triển đất nước theohướng văn minh, hiện đại và xã hội chủ nghĩa Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốclần thứ IX, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi Khoa học
lời giới thiệu
Trang 5công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trongquá trình phát triển lực lượng sản xuất Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốnngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa hợp tác,vừa đấu tranh” Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Phát huy nội lực và sứcmạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại làyếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.Phải không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước đểchủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả”, “Trong hội nhập quốc tế,phải luôn chủ động thích ứng với những thay đổi của tình hình, bảo đảm hiệu quả và lợiích quốc gia” Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển với nhịp
độ nhanh và ngày càng bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa Việc nhận thức rõ hơn xuhướng của thời đại, những đặc điểm của nó, những thách thức và cơ hội để chọn phươngthức phát triển phù hợp với lôgích của lịch sử đương đại, tạo động lực phát triển đất nướcmột cách thích hợp, có hiệu quả là rất quan trọng
Từ nhiều năm nay, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã trở thành chủ đề của nhiều bàibáo khoa học, nhiều cuộc hội thảo và nhiều công trình nghiên cứu của những nhà khoahọc trong và ngoài nước quan tâm Để cung cấp thêm tư liệu để bạn đọc nghiên cứu vềvấn đề này, Ban Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã chỉ đạo Trung tâm Thôngtin khoa học tuyển chọn các bài viết đã công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành
của các nhà nghiên cứu, biên soạn và giới thiệu ấn phẩm Thông tin chuyên đề: “Toàn
cầu hóa và hội nhập quốc tế - thời cơ và thách thức đối với Việt Nam hiện nay”
Kết cấu của Thông tin chuyên đề gồm 3 phần:
Phần I: Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế - những vấn đề lý luận
Phần II: Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế trên lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế vàđối ngoại
Phần III: Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế trên lĩnh vực báo chí, văn hóa và giáo dụcMặc dù tập thể cán bộ trong ban biên tập tham gia sưu tầm, tuyển chọn đã hết sức cốgắng, song không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Ban Biên tập xin trân trọng
giới thiệu cuốn Thông tin chuyên đề số 3/2015 và mong nhận được ý kiến đóng góp
của bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn!
BAN BIÊN TẬP
Trang 6Cách đây gần 30 năm, Đảng ta đã
khởi xướng công cuộc đổi mới đất
nước về mọi mặt Cùng với quá
trình đổi mới trong nước, Việt Nam đã thực
hiện chính sách mở cửa với thế giới Khái
niệm “hội nhập kinh tế quốc tế” lần đầu
tiên được Đảng ta đề cập tại Đại hội VIII
(năm 1996) và đến Đại hội IX (năm 2001)
nó đã trở thành chủ trương chính thức Đại
hội XI (năm 2011) đã đánh dấu một bước
phát triển quan trọng trong tư duy đối ngoại
của Đảng ta Chủ trương hội nhập kinh tếquốc tế của các kỳ đại hội trước đã đượcchuyển thành chủ trương “chủ động và tíchcực hội nhập quốc tế”, tức là hội nhập trênnhiều lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế,chính trị, an ninh - quốc phòng, văn hóa -
xã hội )
Nếu hiểu hội nhập là gắn kết nước mìnhvới các tổ chức, thể chế quốc tế theo nhữngluật chơi chung thì Việt Nam đã bước vàocon đường hội nhập từ khá sớm: Năm 1977
Phần i toàn cầu hóa và hội nhậP quốc tế -
lý cần chú trọng những vấn đề gì? Nhằm góp phần giải đáp bài toán trên, tác giả bài viết đã chỉ ra bốn khối việc lớn đang đặt ra đối với các cơ quan lãnh đạo - quản lý và bốn cách tiếp cận cần được vận dụng trong lãnh đạo - quản lý thời toàn cầu hóa.
Trang 7tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế (khối
SEV), Liên hợp quốc, tiếp quản vị trí thành
viên Ngân hàng thế giới (WB), Qũy Tiền tệ
quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu
Á (ADB)… Trong thời kỳ đổi mới, Việt
Nam đã từng bước hội nhập với khu vực và
thế giới: Năm 1995 gia nhập ASEAN đồng
thời tham gia Khu vực Mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA); Năm 1996 tham gia Diễn
đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM); Năm 1998
gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á
- Thái Bình Dương (APEC); Năm 2006 gia
nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Năm 2015 là năm đánh dấu bước phát
triển mới trên con đường hội nhập quốc tế
của Việt Nam Trong năm nay, ASEAN, tổ
chức mà nước ta là một thành viên, sẽ trở
thành một cộng đồng gắn kết về chính trị,
liên kết về kinh tế và chia sẻ trách nhiệm
xã hội, dựa trên ba trụ cột vững chắc là
cộng đồng chính trị - an ninh, cộng đồng
kinh tế và cộng đồng văn hóa - xã hội
Cùng với đó, cũng trong năm nay, Việt
Nam đang đẩy mạnh đàm phán và tiến tới
ký kết hàng loạt các thỏa thuận thương mại
tự do (FTAs)
Để có thể trở thành “thành viên tích cực,
có trách nhiệm” như Đại hội XI đã nhấn
mạnh, tận dụng tối đa những lợi thế, cơ hội
của quá trình hội nhập quốc tế đem lại, ứng
phó có hiệu quả với những thách thức sẽ
nảy sinh thì một trong những điều kiệnquan trọng hàng đầu là con người vàphương thức lãnh đạo, quản lý thích hợp.Chính vì thế, trong các văn kiện, bên cạnhviệc nhấn mạnh yêu cầu đổi mới thể chế,Đảng ta luôn nhấn mạnh nhân tố con người.Nghị quyết số 07- NQ/TW ngày 27-11-
2001 của Bộ Chính trị xác định: “Có kếhoạch cụ thể đẩy mạnh công tác đào tạonguồn nhân lực vững vàng về chính trị,kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, tinhthông nghiệp vụ và ngoại ngữ, có tác phongcông nghiệp và tinh thần kỷ luật cao…”(1)
là một trong những nhiệm vụ cụ thể trongquá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Vậy trong lãnh đạo, quản lý cần chútrọng những vấn đề gì đề hội nhập quốc tếthành công? Từ quá trình hội nhập kinh tếquốc tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam,cũng như kinh nghiệm của các quốc giatrên thế giới, có thể rút ra một số điểm cầnchú trọng trong lãnh đạo - quản lý thời toàncầu hóa
Một là, cần có nhận thức thống nhất và chuẩn xác về khái niệm hội nhập quốc tế
và những phương châm chỉ đạo Nước ta
đã hội nhập quốc tế hàng chục năm songkhông ít người, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản
lý ở Trung ương và nhất là ở địa phươngvẫn chưa hiểu thật rõ các vấn đế mang tính
Trang 8cơ bản như: Hội nhập là gì? Vì sao phải hội
nhập? Các luật chơi ra sao? Làm thế nào để
hội nhập thành công? Hơn thế nữa vẫn còn
có những nhận thức, ý kiến, hành vi trái
chiều, thái độ thờ ơ, chập chững, nghi ngờ
vào quan điểm, chủ trương hội nhập
“Hội nhập là sự nghiệp của toàn dân”,
do đó những vấn đề cơ bản trên cần được
chuyển tải tới mọi tầng lớp nhân dân ở các
mức độ và hình thức khác nhau Hệ thống
chính trị cũng như các cơ sở đào tạo, bồi
dưỡng cần phổ cập rộng rãi các chủ trương,
quan điểm của Đảng thông qua các buổi
sinh hoạt chính trị, các bài giảng cũng như
thông qua các phương tiện thông tin, truyền
thông đại chúng Hơn thế nữa, không nên
chỉ dừng lại ở việc phổ cập những khái
niệm chung, các cơ quan quản lý nhà nước
cần kịp thời phổ biến những quy định,
những cam kết quốc tế, đồng thời hướng
dẫn một cách cụ thể, thiết thực cho các cơ
quan, doanh nghiệp và cả người dân
phương cách tận dụng thời cơ, ứng phó với
những thách thức của quá trình hội nhập
Song, trên thực tế, công tác này chưa được
chú trọng đúng mức Việc quán triệt thường
dừng lại ở mức chung chung, dàn trải, đánh
đồng với đối tượng tham gia hội nhập trực
tiếp và đối tượng gián tiếp Trong những
năm tới, khi hàng loạt cam kết hội nhập
mới ở mức cao hơn và phức tạp hơn được
đưa vào cuộc sống, nếu nước ta không kịpthời điều chỉnh những thiếu sót trên thìkhông chỉ không tận dụng được cơ hội mà
có thể sẽ còn phải đối mặt với những khókhăn
Hai là, trong bối cảnh nước ta đã, đang
và sẽ hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
thì sự hiểu biết thế giới là điều không thể
thiếu Hiểu biết những gì đang xảy ra trênthế giới sẽ giúp Việt Nam trong quá trìnhhội nhập có thể thích nghi, khai thác những
cơ hội, ứng phó với thách thức, tránh bịlệch pha, bị gạt ra ngoài cuộc chơi Trongviệc hoạch định và thực thi cơ chế - chínhsách hội nhập thì sự hiểu biết về văn hóacác dân tộc đóng một vai trò quan trọng.Nếu không có sự hiểu biết về văn hóa củacác dân tộc thì khó có thể giao tiếp, làm ăn,ứng xử thích hợp với các đối tác tham giasân chơi rộng lớn của hội nhập quốc tế Tuy nhiên, hiện nay, trong xây dựngchính sách - một chức năng chủ chốt củalãnh đạo, quản lý vẫn còn không ít biểuhiện thiếu hiểu biết thế giới; nhiều chiếnlược, quy hoạch không tính đến xu thế pháttriển của toàn cầu, đặc điểm của mỗi quốcgia - dân tộc, vì vậy đã không thành công,thậm chí thất bại Điều này không có nghĩa
là chúng ta phải sao chép nguyên xi những
gì diễn ra ở bên ngoài mà cần hiểu biếtchúng một cách thấu đáo, từ đó biết cách
Trang 9thích nghi, vận dụng khôn khéo vào điều
kiện cụ thể của Việt Nam
Ba là, hiểu rõ và vận dụng một cách
thông minh những luật chơi quốc tế, những
tổ chức và cam kết quốc tế mà Việt Nam
tham gia Như trên đã nói, hội nhập quốc
tế có nghĩa là gắn mình với thế giới theo
những luật chơi chung Do vậy, hiểu biết
thấu đáo các luật chơi quốc tế là một yêu
cầu rất quan trọng trong việc xây dựng, đổi
mới, hoàn thiện thể chế trong nước Điều
này sẽ giúp Việt Nam không bị “lệch pha”,
bị “thổi còi”, khiếu kiện, có thể vươn lên
ngang tầm thế giới, đồng thời biết cách bảo
vệ mình thông qua các quy định luật chơi
quốc tế không cấm
Trong quá trình hội nhập cần xử lý thỏa
đáng mối quan hệ giữa hai phạm trù tưởng
như mâu thuẫn nhau trong phương châm
“hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững độc
lập, tự chủ” Có thể lấy ví dụ trong đời
thường để hiểu đúng vấn đề này Theo luật
chơi chung toàn cầu về môn đá bóng thì các
cầu thủ (ngoại trừ thủ môn) chỉ được dùng
chân, dùng đầu để chơi bóng, tuyệt đối
không được dùng tay Đã xuống sân thì
không thể tự ý vi phạm luật chơi cơ bản đó;
việc thắng - thua sẽ tùy thuộc vào mỗi đội,
mỗi cầu thủ có trình độ cao - thấp thế nào,
có lối chơi đúng - sai ra sao Nói cách khác,
mọi chuyện tùy thuộc vào việc biết luật
-biết người - -biết mình
Bốn là, những kỹ năng hội nhập quốc tế
- đây là điều mà không ít người, cơ quan,nhất là các địa phương còn rất thiếu và yếu.Làm sao có thể hội nhập thành công nếukhông biết cách đàm phán, thỏa thuận?Làm sao có thể giao tiếp nếu không biếtngoại ngữ? Làm sao có thể làm vừa lòngđối tác nếu không biết luật lệ lễ tân? Những yếu kém về kỹ năng hội nhập đãđược đề cập nhiều song dường như những
nỗ lực, biện pháp bổ khuyết còn khá thiếuvắng Điều này đòi hỏi các cơ quan lãnhđạo - quản lý, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡngcần có những giải pháp cụ thể, thiết thực đểkhắc phục tình trạng trên, nhất là trong bốicảnh nước ta đang chủ động và tích cực hộinhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết đạihội XI
Bên cạnh bốn khối việc lớn đang đặt rađối với các cơ quan lãnh đạo - quản lý đãđược đề cập ở trên, lãnh đạo - quản lý trongtiến trình hội nhập cũng cần lưu ý đến một
số cách tiếp cận sau:
Một là, cách tiếp cận tổng thể “Hội
nhập quốc tế” nói chung có nghĩa là nước
ta hội nhập với khu vực và thế giới cả vềchính trị - an ninh lẫn kinh tế, văn hóa - xãhội, tạo thành một “bàn cờ” chung, trong
đó đường đi nước bước của mỗi quân cờđều liên quan mật thiết, tác động qua lại với
Trang 10các quân cờ khác Nếu trong lãnh đạo
-quản lý không hình thành được mối liên
kết, tạo nên sự tác động cộng hưởng liên
ngành, liên lĩnh vực thì hiệu quả hội nhập
sẽ hạn chế, thậm chí mâu thuẫn, triệt tiêu
nhau Trong quá trình hội nhập quốc tế cần
có kế hoạch tổng thể và sự vận dụng cơ
động, linh hoạt bởi các cam kết trong các
FTA rất khác nhau, thậm chí ngay trong
một FTA, cam kết về các mặt thuế quan,
phi thuế quan, mở cửa thị trường thường
thể hiện sự mặc cả, đánh đổi giữa các bên
tham gia Hơn thế nữa, hội nhập là cuộc
chơi nhiều bên với những lợi ích khác
nhau, chính sách khác nhau, thủ thuật khác
nhau, văn hóa khác nhau, nếu không có
cách tiếp cận tổng thể thì khó bề “cùng
thắng”
Nhân dân ta giành thắng lợi trong đấu
tranh cách mạng và trong các cuộc kháng
chiến cứu nước một phần quan trọng là nhờ
ở nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của
toàn dân, của các mặt trận Tương tự như
vậy, trong hội nhập quốc tế, nếu không tạo
dựng được sức mạnh tổng thể của các
ngành, các cấp thì khó bề thành công Nếu
“trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” thì thất
bại là điều khó tránh khỏi Do đó, trong
lãnh đạo - quản lý nhất thiết phải có cơ chế,
tổ chức bảo đảm nhân tố này
Hai là, cách tiếp cận chủ động Xuất
phát từ lợi ích quốc gia - dân tộc ta cần chủđộng chọn lựa sân chơi, bạn chơi, cách chơisao cho có lợi nhất trên cả ba phương diện:bảo vệ độc lập, chủ quyền; tạo dựng đượcmôi trường và quan hệ quốc tế có lợi nhấtcho yêu cầu phát triển và củng cố; nâng caođược vị thế của đất nước Hơn nữa, hộinhập là quá trình hợp tác đồng thời cũng làquá trình cạnh tranh, mỗi nước tham giađều có những chiến lược nhằm đạt đượcnhững cơ hội, lợi ích lớn nhất cho đất nướcmình Nếu Việt Nam thụ động, ngồi chờ,không tích cực, chủ động giành lấy cơ hộithì sự thua thiệt, vai trò mờ nhạt và vị tríthấp kém so với các quốc gia cùng tham giasân chơi hội nhập là điều khó tránh khỏi
Ba là, cách tiếp cận xem nội lực là nhân
tố quyết định Mục đích thực sự của hội
nhập là để phục vụ cho lợi ích của đất nước,phục vụ cho chính sách đối nội và đối ngoạicủa Việt Nam Do đó, các cam kết hội nhậpnhất thiết cần bám sát, phục vụ thiết thựccho các yêu cầu và nhiệm vụ đối nội là đốingoại của nước ta trong từng thời kỳ Ví dụ,hiện nay, yêu cầu đổi mới mô hình pháttriển là nhiệm vụ trọng tâm thì các cam kếthội nhập phải bám sát và phục vụ chonhiệm vụ trọng tâm đó Nói cách khác, khihoạch định chính sách cần tính đến nhân tốhội nhập, ngược lại khi hội nhập phải gắnkết với chính sách trong nước
Trang 11Nhìn từ góc độ khác có thể thấy, nếu sức
mạnh bên trong không đủ vững thì hội nhập
cũng khó thành công Sức mạnh ở đây bao
gồm cả sức mạnh cứng (sức mạnh vật chất)
lẫn sức mạnh mềm (sức mạnh tinh thần,
văn hóa) Điều này không chỉ liên quan tới
hội nhập kinh tế mà liên quan tới cả hội
nhập chính trị - an ninh và văn hóa - xã hội
Khi chuẩn bị gia nhập WTO Việt Nam
đã quan tâm đổi mới pháp luật, thể chế (thể
chế kinh tế) cho tương tích với quá trình
hội nhập toàn cầu, tuy nhiên sự chuẩn bị về
đổi mới mô hình phát triển và năng lực của
các doanh nghiệp cũng như việc nâng cao
khả năng cạnh tranh vẫn chưa đúng tầm
Thêm vào đó, ngay sau khi gia nhập WTO
nước ta lại phải đối mặt với cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ và suy thoái toàn
cầu nên những lợi ích thu được từ hội nhập
chưa thật tương xứng Đây cũng là bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình
hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới
Bốn là, cách tiếp cận có chọn lọc trọng
tâm, trọng điểm Hội nhập là quá trình rộng
lớn, toàn diện, liên quan tới tất cả các lĩnh
vực của đời sống, mọi ngành nghề, vùng
miền, tầng lớp dân cư, với nhiều đối tác
khác nhau Trên một bàn cờ rộng lớn như
vậy không thể không có cách tiếp cận chọn
lọc, xác định thứ tự ưu tiên về lĩnh vực,
ngành, miền, đối tác,… Nếu không có sự
chọn lọc thì trong chỉ đạo điều hành có thể
sẽ bị phân tán nguồn lực, thậm chí khôngtrúng với những cái cần, nơi cần, ngườicần
Tóm lại, lãnh đạo - quản lý trong thể chế
kinh tế thị trường đã khó, lãnh đạo - quản
lý trong điều kiện hội nhập khó hơn gấpbội Nước ta mới bước vào quá trình hộinhập quốc tế chưa lâu, vì vậy những khókhăn, lúng túng là điều khó tránh khỏi, nhất
là trong một thế giới đầy biến động nhưhiện nay Tuy nhiên, san gần 30 năm đổimới và hội nhập, Việt Nam đã có thể rút racho mình những bài học kinh nghiệm quýbáu Đây chính là cơ sở để Đảng và Nhànước ta đưa ra những chủ trương, chiếnlược, kế hoạch cụ thể để trong thời gian tớiViệt Nam có thể tận dụng được nhiều cơhội hơn và hạn chế tới mức tối đa cái giáphải trả của quá trình hội nhậpn
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Các nghị quyết của
Trung ương Đảng 2001-2004, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2004, tr.259.
Nguồn: Thông tin khoa học Lý luận chính trị.- 2015.- Số 4.- Tr.16 - 20.
Trang 12Toàn cầu hóa - căn cứ của hội nhập
quốc tế
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu
tả các thay đổi trong xã hội và trong nền
kinh tế thế giới do sự phát triển vượt bậc
của lực lượng sản xuất, cũng như các mối
liên kết ngày càng chặt chẽ và trao đổi ngày
càng mở rộng giữa các quốc gia, các tổ
chức và cá nhân trên quy mô toàn cầu Toàn
cầu hóa diễn ra trước hết và chủ yếu trên
lĩnh vực kinh tế, đặc biệt về thương mại do
trong thương mại, tác động qua lại và sự
phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia diễn
ra thường xuyên và rõ nét nhất
Tuy còn nhiều tranh cãi về nhận thức,
song nhiều học giả đã nhất trí cho rằng tính
đến nay toàn cầu hóa đã trải qua ba giai
đoạn phát triển Giai đoạn thứ nhất bắt đầu
vào Thế kỷ XV; Giai đoạn thứ hai bắt đầu
khoảng 400 năm trước Chúng ta đang sống
trong Giai đoạn thứ ba manh nha từ sau
chiến tranh thế giới lần thứ hai và phát triển
đậm nét từ những năm 1970 với những đặc
điểm sau: 1) cách mạng khoa học - công
nghệ bùng nổ với những thành tựu kỳ diệu,đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triểnnhanh và mạnh; 2) từ những năm cuối thế
kỷ XX xuất hiện nhiều vấn đề lớn toàn cầu,trở thành những vấn đề an ninh phi truyềnthống - như an ninh lương thực, biến đổikhí hậu, cạn kiệt tài nguyên, suy thoái môitrường… mà bất cứ một nước đơn lẻ nào,
dù mạnh đến đâu cũng không thể giải quyếtđược nếu không có sự gắn kết, hợp tác giữacác quốc gia
Do đó, toàn cầu hóa là một hiện tượngkhách quan, một xu thế lớn của thế giớihiện đại, tác động mạnh mẽ đến sự pháttriển cũng như quan hệ quốc tế của cácquốc gia, mang lại cả cơ hội lẫn thách thức,
cả tác động tích cực lẫn tác động tiêu cực.Chính sự phát triển của toàn cầu hóa đã đặtcác quốc gia, bất kể giàu hay nghèo, lớnhay nhỏ trước yêu cầu phải hội nhập quốc
tế để tranh thủ điều kiện cho phát triển Vìvậy, có thể nói toàn cầu hóa là căn cứ củahội nhập, và hội nhập là phương tiện để cácquốc gia giành cơ hội cho sự phát triển của
Trang 13chính mình và góp phần vào sự phát triển
của cộng đồng Có lẽ vì thế đầu năm 1999,
Diễn đàn kinh tế thế giới tại Davos đã
khẳng định toàn cầu hóa không chỉ là "xu
thế" mà đã là một "thực tế" trong đời sống
quốc tế
Không mấy ai hiểu đầy đủ khái niệm hội
nhập quốc tế Tranh luận vẫn tiếp diễn với
ba cách tiếp cận khác nhau: cách thứ nhất
theo chủ nghĩa liên bang, tức là xem hội
nhập là sản phẩm cuối cùng chứ không phải
là một quá trình, với quan tâm chủ yếu
dành cho thể chế; cách tiếp cận thứ hai thể
hiện ở sự liên kết giữa các quốc gia thông
qua phát triển các luồng giao lưu như
thương mại, thư tín, thông tin, du lịch, đào
tạo trong một cộng đồng an ninh hợp nhất
như Hoa Kỳ, hay cộng đồng an ninh đa
nguyên như Liên minh châu Âu (EU); và
cách tiếp cận thứ ba xem hội nhập dưới
góc độ là hành vi mở rộng và làm sâu sắc
quan hệ hợp tác giữa các chủ thể với nhau
Hội nhập quốc tế - cơ hội, đi kèm
thách thức
Hội nhập quốc tế diễn ra không chỉ trên
cấp độ toàn cầu, mà còn ở nhiều cấp độ
khác nhau, từ thấp đến cao dưới danh nghĩa
"liên kết" hoặc "nhất thể hóa" như liên kết
tiểu khu vực, liên kết khu vực, liên kết liên
khu vực, liên kết liên châu lục, liên kết trên
bình diện song phương hoặc đa phương
Hội nhập quốc tế thực chất là hợp tác
nhưng ở trình độ cao hơn, đáp ứng những
đòi hỏi chặt chẽ hơn như gắn kết với nhau,
chia sẻ với nhau lợi ích, nguồn lực, quyềnlực; tuân thủ các quy tắc chung, luật chơi
và chuẩn mực chung theo một quá trìnhphát triển liên tục từ thấp đến cao, vớinhững hình thức đa dạng, phong phú, phùhợp với điều kiện cụ thể của từng khu vựchoặc từng cơ chế hội nhập Hội nhập bắtđầu từ lĩnh vực kinh tế, từ đó mở rộng sangcác lĩnh vực khác của đời sống xã hội.Cũng có một số trường hợp hội nhập khôngbắt đầu từ kinh tế, mà bắt đầu từ chính trịhay văn hóa như trường hợp gia nhập LHQ,hay trường hợp Việt Nam gia nhậpASEAN, nhưng trong quá trình phát triển,kinh tế vẫn chiếm vị trí trọng tâm
Theo những quy tắc nêu trên, thời giansau chiến tranh thế giới thứ hai đã xuất hiệnmột loạt các tổ chức mang tính liên kết khuvực như: Cộng đồng kinh tế châu Âu (EC),Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội mậudịch tự do châu Âu (EFTA), Thị trườngchung Trung Mỹ (CACM), Cộng đồngCaribe và Thị trường chung CARICOM,Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ(NAFTA), tổ chức ASEAN Thực tế chothấy ngày nay không một quốc gia nào cóthể "đơn thương độc mã" trên con đườngphát triển Dù phải chấp hành những quytắc chung, thậm chí có lúc phải hy sinh một
số quyền lợi dân tộc nào đó…, nhưng khuvực nào, quốc gia nào biết tranh thủ nhữngmặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, tậndụng cơ hội, dám đương đầu kiên quyết vớithách thức, phát huy thế mạnh của mình
Trang 14trong tiến trình hội nhập thì sẽ phát triển
vượt bậc Những bước phát triển thần kỳ
của "bốn con hổ châu Á" (Hàn Quốc, Đài
Loan, Singapore, Hong Kong) là minh
chứng cụ thể cho thế giới thấy rằng, chẳng
có quốc gia nào trên hành tinh này là không
có triển vọng nếu biết khai thác tiến trình
hội nhập Cựu Tổng thư ký LHQ Kofi
Annan cũng nhận xét chính xác là, những
nước kém phát triển không thực thi hội
nhập là "kẻ thua cuộc", "bị bỏ rơi" trong thế
giới bất bình đẳng hôm nay
Qua thực tiễn diễn ra trên thế giới hội
nhập, cũng như toàn cầu hóa vừa có cơ hội,
vừa có thách thức, vừa có mặt tích cực, vừa
có mặt tiêu cực nên hội nhập quốc tế là một
quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa
tranh thủ, vừa cạnh tranh, vừa bác bỏ, vừa
đề xuất Tác động tích cực hay cơ hội của
hội nhập có thể tóm gọn trong những điểm
sau: tạo điều kiện mở rộng thị trường, phát
triển thương mại và các quan hệ kinh tế
khác, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển
kinh tế - xã hội; tạo động lực thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế tiến bộ hơn; cải
thiện môi trường đầu tư-kinh doanh, trên
cơ sở đó nâng cao năng lực cạnh tranh của
nền kinh tế, của sản phẩm và của doanh
nghiệp; tăng cường nguồn nhân lực;
chuyển giao công nghệ-kỹ thuật; tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp từng nước tiếp
cận thị trường quốc tế; các nhà hoạch định
chính sách nắm bắt tốt hơn tình hình và
giá trị văn hóa tiên tiến và các ưu việt củavăn minh nhân loại; duy trì hòa bình, ổnđịnh khu vực và quốc tế…
Thách thức diễn ra khá gay gắt: cạnhtranh gia tăng, nếu không có cách khắcphục thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn,thậm chí phá sản, nền kinh tế không pháttriển được, thậm chí giảm sút; sự phụ thuộcvào thị trường bên ngoài tăng lên, do đónền kinh tế dễ bị tổn thương trước nhữngbiến động của tình hình quốc tế; khoảngcách giàu nghèo mở rộng nếu phân phốikhông công bằng; đối với các nước đangphát triển và chậm phát triển, quyền lực nhànước có thể bị thách thức, bản sắc văn hóa
có thể bị xói mòn; chuyển dịch cơ cấu khókhăn ở những nơi tài nguyên cạn kiệt, môitrường bị hủy hoại
Các mặt tiêu cực hay bất lợi không tácđộng đến tất cả các lĩnh vực trong đời sốngcủa mỗi quốc gia, nhưng gây thiệt hại nhiềuhay ít cho chủ thể hội nhập tùy thuộc vàotiềm năng và khả năng đối phó của mỗinước và suy cho cùng, lợi ích thu được vẫnlớn hơn cái giá phải trả Điều này giải thíchtại sao hội nhập quốc tế lại là sự lựa chọncủa hầu hết các quốc gia Các chuyên giacho biết, chỉ tính đến năm 2011 đã có hơn
500 hiệp định về mậu dịch khu vực (RTA)được ký kết, hơn 100 liên minh thuế quanđược thiết lập Đặc biệt từ những năm cuối
1990 đến nay, xu hướng ký kết các hiệpđịnh đối tác chiến lược và hiệp định mậu
Trang 15(BFTA) phát triển mạnh do bế tắc của vòng
đàm phán Doha BFTA có ưu thế là đàm
phán không phức tạp lắm, nhanh chóng đạt
được kết quả và thực hiện cũng thuận lợi
hơn Xu thế này hiện đang chi phối toàn bộ
quan hệ quốc tế và làm thay đổi lớn cấu
trúc của hệ thống thế giới hiện nay
Thực tiễn cho thấy hội nhập quốc tế diễn
ra chủ yếu trên bốn lĩnh vực chính: hội
nhập kinh tế là trọng tâm, là đòn bẩy thúc
đẩy các lĩnh vực khác hội nhập; hội nhập
trên các lĩnh vực khác lại tạo điều kiện
thuận lợi thúc đẩy hội nhập kinh tế phát
triển và thành công; hội nhập chính trị bằng
cách tham gia các tổ chức chính trị sẵn có
như việc gia nhập LHQ, hay Việt Nam
tham gia ASEAN để hoạt động vì nghĩa vụ
quốc tế và nhằm nâng cao vai trò vị thế của
quốc gia ở khu vực và trên thế giới; hội
nhập an ninh-quốc phòng nhằm góp phần
củng cố hòa bình, ổn định cho nước mình
và cho khu vực; góp phần bảo vệ Tổ quốc
với nhiều hình thức đa dạng; và hội nhập
văn hóa-xã hội là hợp tác để chia sẻ giá trị,
giới thiệu bản sắc của đất nước và dân tộc
mình, tranh thủ những ưu việt của văn hóa
và văn minh nhân loại để làm giàu thêm
nền văn hóa của nước mình
Việt Nam với hội nhập quốc tế
Với tư cách là một thành viên của cộng
đồng các quốc gia, Việt Nam không thể
đứng ngoài tiến trình phát triển này, không
thể không hòa mình vào xu thế chung của
thế giới Tư tưởng hội nhập đến với Việt
Nam từ rất sớm Trong lời kêu gọi LHQ(12/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõchính sách đối ngoại của nước Việt NamDân chủ Cộng hòa (VNDCCH), trong đókhẳng định "đối với các nước dân chủ,VNDCCH sẵn sàng thực thi chính sách mởcửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực", cụ thể
là "dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tưcủa các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoàitrong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình;sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay vàđường xá giao thông cho việc buôn bán vàquá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi
tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnhđạo của LHQ" Tuyên bố của Chủ tịch HồChí Minh vẫn giữ nguyên giá trị trong điềukiện hiện nay Sau khi giành được thắng lợihoàn toàn, đất nước thống nhất, vượt quamột số năm khó khăn do khủng hoảng kinh
tế - xã hội, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI với chủ trương thực hiện đường lối đổimới đã mở đường cho quá trình hội nhậpquốc tế của nước ta tuy lúc đó chưa đề cậpđến khái niệm "hội nhập" Đại hội đã nhậnđịnh, "Cách mạng khoa học - kỹ thuật làđặc điểm nổi bật của thời đại", có vai tròngày càng quan trọng đối với quá trình pháttriển kinh tế, xây dựng đất nước trong cụcdiện mới của thế giới, và khẳng định, nếu
"đóng cửa hay khép kín nền kinh tế nội địa
sẽ là nguy cơ tụt hậu" Từ đó, Đại hội chủtrương "tranh thủ những điều kiện thuận lợimới hợp tác kinh tế và khoa học-kỹ thuật",tham gia rộng rãi vào sự phân công hợp tác
Trang 16trong Hội đồng tương trợ kinh tế, đồng thời
mở rộng quan hệ với các nước trên nguyên
tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng,
cùng có lợi
Có thể nói với nhận thức của Đảng ta về
tình hình mới và việc đề ra chủ trương này,
tư duy hội nhập quốc tế đã bắt đầu hình
thành Tư duy này được củng cố thêm bằng
quyết định của Đại hội Đảng lần thứ VII
"thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa
dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế,
Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước
trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa
bình, độc lập và phát triển", (sau này trong
quá trình phát triển chuyển thành "sẵn sàng
là bạn" và cuối cùng khẳng định "là bạn, là
đối tác tin cậy của các nước trong cộng
đồng thế giới") Đến Đại hội Đảng lần thứ
VIII, khái niệm "hội nhập" được chính thức
đề cập cùng với chủ trương "xây dựng một
nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và
thế giới" hợp tác nhiều mặt song phương
và đa phương với các nước, các tổ chức
quốc tế và khu vực Tăng cường hoạt động
ở LHQ, trong Cộng đồng các nước sử dụng
tiếng Pháp, các tổ chức tài chính tiền tệ
quốc tế và các tổ chức quốc tế khác"
Từ sau Đại hội VII, thực hiện các chủ
trương nêu trên song song với việc thiết lập
quan hệ ngoại giao với một loạt nước, ta
đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế, mở
đầu bằng hội nhập khu vực: gia nhập
ASEAN và ngay sau đó tham gia AFTA
đó hội nhập liên khu vực, liên châu lụcthông qua việc tham gia ASEM năm 1996với tư cách là một thành viên sáng lập vàtham gia APEC năm 1998 Đồng thời từđầu năm 1996, ta đã bắt đầu đàm phán với
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và sau
10 năm đàm phán căng thẳng, ngày01/01/2007 ta trở thành thành viên chính thứcthứ 150 của Tổ chức kinh tế toàn cầu này.Sau khi đã hội nhập ở hai cấp độ (khuvực và liên khu vực), Đại hội IX (2001) đề
ra chủ trương "phát huy cao độ nội lực,đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài,chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để pháttriển nhanh, có hiệu quả và bền vững" vàtháng 11/2011 Bộ Chính trị ra Nghị quyết07-NQ/TW "Về hội nhập kinh tế quốc tế".Với những thành công đạt được trong việctriển khai Nghị quyết 07-NQ/TW của BCT(khóa IX), Đại hội khóa X tiếp tục khẳngđịnh "chủ động và tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế", đồng thời "mở rộng hợp tácquốc tế trong các lĩnh vực khác", nhấnmạnh chủ động và tích cực hội nhập kinh
tế, còn đối với các lĩnh vực khác chỉ mớichủ trương mở rộng hợp tác
Trong thời gian này trên lĩnh vực đốingoại, ta đã thiết lập quan hệ đối tác chiếnlược với một số nước, đến nay quan hệ đốitác chiến lược và đối tác toàn diện đã đượcthiết lập với 14 nước bao gồm tất cả 5 nướcthành viên thường trực của Hội đồng Bảo
an LHQ
Trang 17nước ta với cộng đồng thế giới đã ngày
càng mở rộng, ta đã có quan hệ ngoại giao
với 181 nước trên thế giới, quan hệ kinh tế
thương mại với 230 nước và vùng lãnh thổ,
hội nhập kinh tế quốc tế đã đạt được những
thành tựu nổi bật Ta đã hội nhập kinh tế ở
cấp độ toàn cầu, hợp tác văn hóa - xã hội
đã được tăng cường, hợp tác an ninh quốc
phòng đã được xác lập và đạt được những
kết quả bước đầu đáng khích lệ, ta đã là
thành viên của hầu hết các tổ chức khu vực
và quốc tế quan trọng, trên cơ sở đó vị thế
quốc tế của nước ta đã được nâng cao trên
trường quốc tế, các nước đã thừa nhận ta là
một đối tác tin cậy, Đại hội đã đề ra chủ
trương "chủ động và tích cực hội nhập quốc
tế" Tháng 4/2013, Bộ Chính trị ra Nghị
quyết 22 về vấn đề này
Chủ trương chủ động và tích cực hội
nhập quốc tế đã được ghi trong Cương lĩnh
sửa đổi năm 2011 và trong Hiến pháp 1992
sửa đổi năm 2013
Như vậy là qua 18 năm kể từ khi gia
nhập ASEAN (1995) đến nay (2013), đi từ
hợp tác đến liên kết, hội nhập, từ hội nhập
khu vực, liên khu vực đến hội nhập kinh tế
toàn cầu, tiến hành từng bước vững chắc cả
trong việc đề ra chủ trương lẫn trong thực
tiễn hành động, Đảng ta mới đi đến quyết
định chủ động, tích cực hội nhập quốc tế,
đưa hội nhập của Việt Nam sang một giai
đoạn mới - hội nhập toàn diện, hội nhập
trên tất cả các lĩnh vực, trong đó hội nhập
kinh tế là trọng tâm, hội nhập các lĩnh vực
khác tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhậpkinh tế sâu hơn, hiệu quả hơn, góp phầntích cực và có hiệu quả phát triển kinh tế,xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt NamXHCN Điều này cho thấy tinh thần vừasáng tạo, vừa cân nhắc thận trọng, đi từngbước vững chắc trong đề xuất chủ trươngcũng như trong hành động thực tiễn thắmđượm bản sắc Việt Nam, đồng thời thể hiện
ý chí và quyết tâm chính trị của Đảng vàNhà nước trong chủ trương hội nhập quốc
tế Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, hộinhập là một quá trình phấn đấu kiên trì đểnước ta trở thành một bộ phận cấu thành có
vị trí, có vai trò xứng đáng trong cộng đồngquốc tế, vừa bảo đảm lợi ích quốc gia, dântộc trong các mối quan hệ đa diện, đa dạng
và đa tầng nấc với nhiều loại chủ thể khácnhau, vừa quan tâm đúng mức đến lợi íchcộng đồng Đó cũng là sự vận dụng sángtạo và thành công bài học "kết hợp sứcmạnh dân tộc với sức mạnh thời đại", bàihọc đã từng đưa dân tộc ta đến những chiếnthắng huy hoàng
Hội nhập quốc tế trong tình hình thế giớibiến động nhanh chóng, phức tạp, khólường, tuy thành tựu đạt được là rất quantrọng, nhưng ta còn nhiều mặt yếu kém cầnkhắc phục, nhất là tư duy hội nhập chưađược quán triệt đầy đủ, khả năng cạnh tranhtuy có ít nhiều tiến bộ nhưng còn yếu kém
Để phát huy thành tựu, khắc phục nhữngtồn tại yếu kém, thực hiện hội nhập có kếtquả, khác với thời kỳ trước đây khi ta hội
Trang 18nhập kinh tế quốc tế là chính, nay chuyển
sang hội nhập quốc tế toàn diện bao gồm
cả kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, an
ninh quốc phòng… với sự tham gia của
toàn dân và của cả hệ thống chính trị, cần
có một chiến lược tổng thể, dài hạn trên cơ
sở tổng hợp khả năng và yêu cầu của các
ngành và các địa phương, xác định lộ trình
và cấp độ hội nhập bởi vì trong quá trình
triển khai hội nhập, có ngành, có lĩnh vực
hay địa phương mới tham gia liên kết khu
vực, có ngành, có lĩnh vực đã đi ngay vào
hội nhập ở cấp độ toàn cầu Trên cơ sở có
chiến lược dài hơi, có lộ trình thích hợp, ta
mới thực hiện được phương châm chủ
động và tích cực như yêu cầu của Nghị
quyết 22-NQ/TW của BCT
Hội nhập quốc tế là con đường hai
chiều, giống như trong công nghệ thông tin
cần có sự tương thích giữa đầu trong và
đầu ngoài Hội nhập không phải là mục tiêu
cuối cùng, nó chỉ là phương tiện góp phần
quan trọng vào việc bảo đảm mục tiêu tối
hậu là lợi ích quốc gia, phát triển và bảo vệ
đất nước Do đó phải thực hiện đúng quan
điểm của Đảng và Nhà nước ta là "hội nhập
trên cơ sở phát huy tối đa nội lực" Do đó
trong hội nhập không phải chỉ nghĩ đến
việc ta hợp tác cái gì, với ai cho có lợi (tất
nhiên trong hội nhập phải tìm những điểm
giao thoa về lợi ích giữa ta và đối tác- đối
tác có thể ít, có thể nhiều- thì mới thỏa
đáng và mới có hiệu quả) mà điều rất quan
trọng là phải khắc phục những điểm yếucủa ta, làm cho ta mạnh lên Để củng cố vàphát huy tối đa nội lực, ta phải ra sức thựchiện ba khâu đột phá chiến lược đã đượcnêu tại Đại hội lần thứ XI của Đảng, tức làhoàn thiện thể chế kinh tế thị trường địnhhướng XHCN, phát triển nhanh nguồn nhânlực và xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ Đâycũng chính là một phần quan trọng trong đổimới tư duy, hình thành tư duy hội nhập
Ta hội nhập quốc tế trong điều kiện xâydựng và phát triển nền kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN, một vấn đề chưa cótiền lệ và khác với nhiều nước Nhưng đãhội nhập, ta phải thực hiện các cam kếtquốc tế, phải chấp hành các quy tắc đãđịnh, phải hoạt động trên một sân chơichung, do đó quá trình hội nhập là một quátrình điều chỉnh luật pháp trên cơ sở thỏahiệp, có trường hợp phải đấu tranh, để cóthể vừa theo quy tắc chung, vừa giữ đượcnguyên tắc của ta mà không gây thiệt hạicho ta; cũng có trường hợp không có cáchnào thỏa hiệp được khi quy tắc chung đingược lại nguyên tắc và lợi ích của ta, gâythiệt hại cho ta thì phải tính toán kỹ, cânnhắc, so sánh nếu cái lợi thu hoạch được ởcác mặt khác lớn hơn thiệt hại ta phải chịuthì ta có thể chấp nhận Hội nhập là một xuthế lớn (theo Diễn đàn Davos là một thựctế) khó có ai được lợi 100%, không bị thiệthại gì, chung cuộc làm sao cái lợi nhiềuhơn cái thiệt, lợi càng nhiều càng tốt vì hội
Trang 19nhập là một quá trình như trên đã nói vừa
hợp tác, vừa đấu tranh để kiên định lợi ích
quốc gia dân tộc Trong quá trình hội nhập,
ta không thể bị động, mà cần phải phát huy
sáng kiến, chủ động đề xuất ý kiến để điều
chỉnh một số quy tắc đã định trên cơ sở vừa
bảo đảm lợi ích của ta, vừa quan tâm, chiếu
cố đến lợi ích của Cộng đồng, của các đối
tác, các chủ thể hội nhập khác
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý
của Nhà nước, hội nhập quốc tế là hoạt
Do đó các chủ thể tham gia hội nhập phải
nắm vững đường lối đối ngoại của Đảng và
Nhà nước, vận dụng kiên định đường lối
đó trong quá trình hội nhập Đồng thời cần
nắm vững xu thế lớn, xu thế chủ đạo của
thời đại là "hòa bình, hợp tác và phát triển"
để yên tâm hội nhập, vì hội nhập quốc tế
phù hợp với xu thế đó của thời đại
Vài gợi ý về ngành Ngoại giao trong
hội nhập quốc tế
Trong các văn kiện cơ bản của Đảng và
Nhà nước như Cương lĩnh (sửa đổi năm
2011), Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm
2013), Nghị quyết của Đại hội Đảng, các
văn bản chỉ đạo của Trung ương Đảng,
BCT, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ…
khi đề cập đến đường lối đối ngoại hay
nhiệm vụ đối ngoại đều nhấn mạnh "chủđộng và tích cực hội nhập quốc tế", là một
bộ phận cấu thành quan trọng của đườnglối và nhiệm vụ đối ngoại nói chung
Do tính chất quan trọng của Hội nhậpquốc tế (toàn diện) nên BCT đã quyết địnhthành lập Ban chỉ đạo quốc gia về hội nhậpquốc tế do Thủ tướng đứng đầu nhằm chỉđạo, phối hợp hoạt động hội nhập quốc tế
từ trung ương đến địa phương
Từ trước tới nay, Bộ Ngoại giao là cơquan chính thực hiện đường lối đối ngoại
về mặt nhà nước với hai chức năng chủ
yếu: Thứ nhất, làm tham mưu cho Đảng và
Chính phủ, nghiên cứu, đề xuất các chủ
trương, chính sách đối ngoại; Thứ hai,
thống nhất quản lý hoạt động đối ngoại củacác Bộ, ngành và các địa phương (thực chất
là một số địa phương có ít nhiều hoạt độngđối ngoại) trong sự kết hợp chặt chẽ vớiBan đối ngoại TW Đảng và cơ quan chịutrách nhiệm về ngoại giao nhân dân; phốihợp và điều hòa, hướng dẫn, điều chỉnhhoạt động đối ngoại của các Bộ, ngành vàcác địa phương cho phù hợp với đường lốiđối ngoại chung Do hoạt động đối ngoạibao gồm cả đối ngoại chính trị, đối ngoạikinh tế và đối ngoại văn hóa trong khi phâncông chưa thật rõ ràng, nên thời gian quakhông ít trường hợp Bộ Ngoại giao phảilàm thay, nhất là về văn hóa - xã hội.Nay theo Quyết định 22-QĐ/TW củaBCT phải đẩy mạnh hội nhập quốc tế (toàn
Trang 20diện), Bộ Ngoại giao cần tập trung vào vấn
đề Hội nhập quốc tế với hai chức năng nêu
trên Cụ thể là về: Một là tham mưu về chủ
trương, phương hướng, lộ trình hội nhập
quốc tế để Ban chỉ đạo quốc gia hướng dẫn
các Bộ, ngành và các địa phương; Hai là
giúp Ban chỉ đạo theo dõi, thống nhất quản
lý, điều hòa và phối hợp hoạt động hội
nhập của các Bộ, ngành và các địa phương
Chức năng này so với trước đây mở rộng
hơn, nhiều hơn và phức tạp hơn
Ngoài ra, Bộ Ngoại giao có điều kiện
theo dõi và nắm bắt tình hình quốc tế kịp
thời nên có thể cung cấp thông tin cần thiết,
nhất là về biến động trong tình hình quốc
tế cho Ban Chỉ đạo và các chủ thể hội nhập
Chắc chắn sắp tới Ban chỉ đạo sẽ được
thành lập gồm lãnh đạo các bộ, ngành trực
tiếp liên quan Đồng thời, Ban chỉ đạo sẽ
có một bộ máy giúp việc, nhưng chắc
không đông và chỉ có thể làm một số việc
nhất định, không thể thực hiện chức năng
này như Bộ Ngoại giao
Gợi ý chức năng của Bộ Ngoại giao như
trên vì mấy lẽ: Thứ nhất, những chức năng
nêu trên Bộ Ngoại giao đã từng làm khi
thực hiện đường lối đối ngoại nói chung
Thứ hai, Bộ trưởng Ngoại giao là Phó thủ
tướng mà chức năng của Phó Thủ tướng là
giúp Thủ tướng về lĩnh vực được phân
công Rõ ràng trong trường hợp này, lĩnh
vực mà Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại
giao đảm nhiệm là đối ngoại Nay Thủ
tướng làm Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia vềhội nhập kinh tế quốc tế nên Phó Thủtướng phụ trách đối ngoại giúp Thủ tướng,Trưởng Ban chỉ đạo về hội nhập quốc tế làđiều tất yếu Rồi đây khi thành lập Ban chỉđạo quốc gia thì Phó Trưởng ban chắc chắnphải là Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoạigiao Bộ phải thực hiện chức năng của Bộtrưởng, trong trường hợp này là chức năngcủa Phó thủ tướng Thứ ba, từ đó, các cơquan đại diện ngoại giao ở các nước, dưới
sự điều hành và quản lý của Bộ ngoại giaocũng cần chuyển sang thực hiện hội nhậpquốc tế là nhiệm vụ chính Đại diện ngoạigiao ở một nước chịu trách nhiệm thúc đẩyphát triển quan hệ với nước sở tại, điều đókhông thay đổi, nhưng nay thực hiện điều
đó từ góc độ hội nhập quốc tế, qua đó cóthể tìm hiểu phương hướng, phương thức,chủ trương hội nhập quốc tế của nước sởtại, biện pháp tranh thủ cơ hội và khắc phụcthách thức trong hội nhập để cung cấp chotrong nước Đồng thời qua tiếp xúc, nghiêncứu nắm tình hình quốc tế có liên quan đếnhội nhập quốc tế để thông báo cho Bộr
Nguồn: ve-hoi-nhap-quoc-te/122/12682333.epi
Trang 21http://www.baomoi.com/Ban-Những năm gần đây, hội nhập
quốc tế đã trở thành ngôn từ khá
quen với hầu hết người Việt
Nam Tuy vậy, không phải ai cũng thực sự
hiểu khái niệm này; đặc biệt, hiểu nó một
cách đầy đủ và sâu sắc thì chẳng có mấy
người Giới học thuật và những nhà hoạch
định chính sách cũng còn hiểu rất khác
nhau và vẫn tiếp tục tranh luận về nhiều
khía cạnh của hội nhập quốc tế Trong bối
cảnh nước ta đang “tích cực, chủ động hội
nhập quốc tế” theo tinh thần Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ XI vừa qua, việc xác
định đúng ý nghĩa, bản chất, nội hàm, xu
hướng vận động cũng như hệ lụy của hội
nhập quốc tế là rất cần thiết và có ý nghĩa
quan trọng trong việc xây dựng chiến lược,
chính sách và các biện pháp cụ thể củanước ta trong quá trình hội nhập
Để đóng góp vào cuộc thảo luận nóitrên, bài viết này đề cập một số khía cạnh
về lý luận và thực tiễn của khái niệm hộinhập quốc tế, tập trung vào vấn đề địnhnghĩa và xác định bản chất, nội hàm, cáchình thức và tính chất của hội nhập quốctế; phân tích tính tất yếu và hệ lụy của hộinhập quốc tế như là một xu thế lớn của thếgiới hiện đại
Định nghĩa khái niệm hội nhập quốc tế
Thuật ngữ “hội nhập quốc tế” trongtiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng nướcngoài (tiếng Anh là “international integra-tion”, tiếng Pháp là “intégration interna-tionale”) Đây là một khái niệm được sử
hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia Ngày nay, hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia để phát triển.
Trang 22dụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị
học quốc tế và kinh tế quốc tế, ra đời từ
khoảng giữa thế kỷ trước ở châu Âu, trong
bối cảnh những người theo trường phái thể
chế chủ trương thúc đẩy sự hợp tác và liên
kết giữa các cựu thù (Đức-Pháp) nhằm tránh
nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông
qua việc xây dựng Cộng đồng châu Âu
Trên thực tế cho đến nay, có nhiều cách
hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm
“hội nhập quốc tế” Tựu chung, có ba cách
tiếp cận chủ yếu sau:
Cách tiếp cận thứ nhất, thuộc về trường
phái theo chủ nghĩa liên bang, cho rằng hội
nhập (integration) là một sản phẩm cuối
cùng hơn là một quá trình Sản phẩm đó là
sự hình thành một Nhà nước liên bang kiểu
như Hoa Kỳ hay Thụy Sỹ Để đánh giá sự
liên kết, những người theo trường phái này
quan tâm chủ yếu tới các khía cạnh luật
định và thể chế[1]
Cách tiếp cận thứ hai, với Karl W
Deutsch[2] là trụ cột, xem hội nhập trước
hết là sự liên kết các quốc gia thông qua
phát triển các luồng giao lưu như thương
mại, đầu tư, thư tín, thông tin, du lịch, di
trú, văn hóa… từ đó hình thành dần các
cộng đồng an ninh (security community)
Theo Deutsch, có hai loại cộng đồng an
ninh: loại cộng đồng an ninh hợp nhất như
kiểu Hoa Kỳ, và loại cộng đồng an ninh đa
nguyên như kiểu Tây Âu Như vậy, cách tiếp
cận thứ hai này xem xét hội nhập vừa là mộtquá trình vừa là một sản phẩm cuối cùng.Cách tiếp cận thứ ba xem xét hội nhậpdưới góc độ là hiện tượng/hành vi các nước
mở rộng và làm sâu sắc hóa quan hệ hợptác với nhau trên cơ sở phân công lao độngquốc tế có chủ đích, dựa vào lợi thế củamỗi nước và mục tiêu theo đuổi
Cách tiếp cận thứ nhất có nhiều hạn chế
vì nó không đặt hiện tượng hội nhập trongquá trình phát triển mà chỉ nhìn nhận hiệntượng này (chủ yếu về khía cạnh luật định
và thể chế) trong trạng thái tĩnh cuối cùnggắn với mô hình Nhà nước liên bang Cáchtiếp cận này khó áp dụng để phân tích vàgiải thích thực tiễn của quá trình hội nhậpdiễn ra với nhiều hình thức và mức độ khácnhau như hiện nay trên thế giới Khôngphải bất cứ sự hội nhập nào cũng dẫn đếnmột Nhà nước liên bang Cách tiếp cận thứhai có điểm mạnh là nhìn nhận hiện tượnghội nhập vừa trong quá trình tiến triển vừatrong trạng thái tĩnh cuối cùng, đồng thờiđưa ra được những nội dung khá cụ thể vàsát thực tiễn của quá trình hội nhập, gópphần phân tích và giải thích nhiều vấn đềcủa hiện tượng này Cách tiếp cận thứ batập trung vào hành vi của hiện tượng,không quan tâm xem xét góc độ thể chếcũng như kết quả cuối cùng của hội nhập,
do vậy, thiếu tính toàn diện và hạn chếtrong khả năng giải thích bản chất của quá
Trang 23trình hội nhập.
Ở Việt Nam, thuật ngữ ‘hội nhập kinh tế
quốc tế” bắt đầu được sử dụng từ khoảng
giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt
Nam gia nhập ASEAN, tham gia Khu vực
mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể
chế kinh tế quốc tế khác Những năm gần
đây, cụm từ “hội nhập quốc tế” (thậm chí
nói ngắn gọn là “hội nhập”) được sử dụng
ngày càng phổ biến hơn và với hàm nghĩa
rộng hơn hội nhập kinh tế quốc tế Có một
thực tiễn đáng lưu ý là trước khi thuật ngữ
“hội nhập kinh tế quốc tế” được đưa vào sử
dụng, trong tiếng Việt đã xuất hiện các cụm
từ “liên kết kinh tế quốc tế” và “nhất thể
hóa kinh tế quốc tế” Cả ba thuật ngữ này
thực ra được sử dụng để chỉ cùng một khái
niệm mà tiếng Anh gọi là “international
economic integration” Sự khác biệt giữa
chúng chủ yếu là cách dùng với hàm ý
chính trị và lịch sử khác nhau Thuật ngữ
“nhất thể hóa kinh tế quốc tế” được sử
dụng chủ yếu trong bối cảnh hợp tác giữa
các nước xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ
Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV) những
năm 1970-1980 Thuật ngữ “liên kết kinh
tế quốc tế” được sử dụng khá nhiều khi nói
về hiện tượng phát triển các quan hệ kinh
tế trên cơ sở tự do hóa mậu dịch giữa các
nước không phải là xã hội chủ nghĩa trong
những thập niên sau Chiến tranh thế giới
II, đặc biệt là trong khuôn khổ các tổ chức
kinh tế khu vực như Cộng đồng Kinh tếchâu Âu (EC), Liên minh châu Âu (EU),Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA),Thị trường chung Trung Mỹ (CACM),Cộng đồng Caribê và Thị trường chung(CARICOM), Khu vực Mậu dịch tự doBắc Mỹ (NAFTA), v.v Trong thực tiễn sửdụng ở Việt Nam hiện nay, các thuật ngữ
“liên kết quốc tế” và “hội nhập quốc tế” cóthể thay thế nhau và hầu như không có sựkhác biệt về ý nghĩa
Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn không cómột định nghĩa nào về khái niệm “hội nhậpquốc tế” giành được sự nhất trí hoàn toàntrong giới học thuật và cả giới làm chínhsách ở Việt Nam Từ các định nghĩa khác
nhau nổi lên hai cách hiểu chính Thứ nhất,
cách hiểu hẹp coi “hội nhập quốc tế” là sựtham gia vào các tổ chức quốc tế và khu
vực Thứ hai, cách hiểu rộng, coi “hội nhập
quốc tế” là sự mở cửa và tham gia vào mọimặt của đời sống quốc tế, đối lập với tìnhtrạng đóng cửa, cô lập hoặc ít giao lưuquốc tế Với tư duy theo cách này, không ítngười thậm chí đã đánh đồng hội nhập vớihợp tác quốc tế Cả hai cách hiểu trên vềkhái niệm “hội nhập quốc tế” đều khôngđầy đủ và thiếu chính xác
Từ lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng
ta cần xác định một cách tiếp cận phù hợpđối với khái niệm “hội nhập quốc tế” đểlàm nền tảng xây dựng chiến lược hội nhập
Trang 24quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn mới.
Chúng tôi cho rằng cách tiếp cận phù hợp
nhất là xem xét hội nhập như là một quá
trình xã hội có nội hàm toàn diện và thường
xuyên vận động hướng tới mục tiêu nhất
định Theo đó, hội nhập quốc tế được hiểu
như là quá trình các nước tiến hành các
hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với
nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục
tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm
quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ
các luật chơi chung trong khuôn khổ các
định chế hoặc tổ chức quốc tế Như vậy,
khác với hợp tác quốc tế (hành vi các chủ
thể quốc tế đáp ứng lợi ích hay nguyện
vọng của nhau, không chống đối nhau), hội
nhập quốc tế vượt lên trên sự hợp tác quốc
tế thông thường: nó đòi hỏi sự chia sẻ và
tính kỷ luật cao của các chủ thể tham gia.
Nhìn ở góc độ thể chế, quá trình hội nhập
hình thành nên và củng cố các định chế/tổ
chức quốc tế, thậm chí là các chủ thế mới
của quan hệ quốc tế Những chủ thể quốc
tế mới này có thể dưới dạng: (i) hoặc là một
tổ chức liên chính phủ (các thành viên vẫn
giữ chủ quyền quốc gia trong việc định
đoạt chính sách, chẳng hạn như tổ chức
Liên hiệp quốc, ASEAN…), (ii) hoặc là
một tổ chức siêu quốc gia (các thành viên
trao toàn bộ chủ quyền quốc gia cho một
cơ cấu siêu quốc gia, hình thái này có thể
giống như mô hình nhà nước liên bang,
chẳng hạn như Hoa Kỳ, Canada…), (iii)hoặc là một tổ chức lai ghép giữa hai hìnhthái trên (các thành viên trao một phần chủquyền quốc gia cho một cơ cấu siêu quốcgia và vẫn giữ một phần chủ quyền choriêng mình, chẳng hạn như trường hợp EUhiện nay)
Chủ thể của hội nhập quốc tế trước hết
là các quốc gia, chủ thể chính của quan hệquốc tế có đủ thẩm quyền và năng lực đàmphán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc
tế Bên cạnh chủ thể chính này, các chủ thểkhác cùng hợp thành lực lượng tổng hợptham gia vào quá trình hội nhập quốc tế
Nội hàm của hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từnglĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chínhtrị, an ninh-quốc phòng, văn hóa, giáo dục,
xã hội, v.v.), nhưng cũng có thể đồng thờidiễn ra trên nhiều lĩnh vực với tính chất(tức là mức độ gắn kết), phạm vi (gồm địa
lý, lĩnh vực/ngành) và hình thức (songphương, đa phương, khu vực, liên khu vực,toàn cầu) rất khác nhau
Hội nhập kinh tế quốc tế
Đây là quá trình gắn kết các nền kinh tếcủa từng nước với kinh tế khu vực và thếgiới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mởcửa nền kinh tế theo những hình thức khácnhau, từ đơn phương [3] đến song phương[4], tiểu khu vực/vùng [5], khu vực[6], liênkhu vực[7] và toàn cầu[8] Hội nhập kinh
Trang 25tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ Theo
một số nhà kinh tế, tiến trình hội nhập kinh
tế được chia thành năm mô hình cơ bản từ
thấp đến cao như sau[9]:
(i) Thỏa thuận thương mại ưu đãi
(PTA): Các nước thành viên dành cho nhau
các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm
thuế quan, nhưng còn hạn chế về phạm vi
(số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt
giảm thuế quan) và mức độ cắt giảm Hiệp
định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định
Thương mại Việt-Mỹ (2001), Hiệp định
GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể
của mô hình liên kết kinh tế ở giai đoạn
thấp nhất
(ii) Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các
thành viên phải thực hiện việc cắt giảm và
loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn
chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc
giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan)
trong thương mại hàng hóa nội khối, nhưng
vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập
đối với các nước ngoài khối Ví dụ: Khu
vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khu
vực mậu dịch tự do bắc Mỹ (NAFTA), Khu
vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
Những năm gần đây, phần lớn các hiệp
định FTA mới có phạm vi lĩnh vực điều tiết
rộng hơn nhiều Ngoài lĩnh vực hàng hóa,
các hiệp định này còn có những quy định
tự do hóa đối với nhiều lĩnh vực khác như
dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm
chính phủ… Ví dụ: Hiệp định FTA giữaASEAN với Úc-Niudilân (2009), Hiệpđịnh Đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP-đang đàm phán)
(iii) Liên minh thuế quan (CU): Các
thành viên ngoài việc cắt giảm và loại bỏthuế quan trong thương mại nội khối cònthống nhất thực hiện chính sách thuế quanchung đối với các nước bên ngoài khối Vídụ: Nhóm ANDEAN và Liên minh thuếquan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan
(iv) Thị trường chung (hay thị trường
duy nhất): Ngoài việc loại bỏ thuế quan vàhàng rào phi quan thuế trong thương mạinội khối và có chính sách thuế quan chungđối với ngoài khối, các thành viên còn phảixóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyểncủa các yếu tố sản xuất khác (vốn, laođộng…) để tạo thành một nền sản xuấtchung của cả khối Ví dụ: Liên minh châu
Âu đã trải qua giai đoạn xây dựng thị trườngduy nhất (Thị trường chung châu Âu) trướckhi trở thành một liên minh kinh tế
(v) Liên minh kinh tế - tiền tệ: Là mô
hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao nhấtdựa trên cơ sở một thị trường chung/duynhất cộng thêm với việc thực hiện chínhsách kinh tế và tiền tệ chung (một đồng tiềnchung, ngân hàng trung ương thống nhấtcủa khối) Ví dụ: EU hiện nay
Một nước có thể đồng thời tham gia vàonhiều tiến trình hội nhập với tính chất,
Trang 26phạm vi và hình thức khác nhau Tuy
nhiên, về cơ bản phải trải qua các bước hội
nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai
đoạn chỉ có thể diễn ra trong những điều
kiện đặc thù nhất định mà thôi (chẳng hạn
Cộng đồng Kinh tế châu Âu đã đồng thời
thực hiện xây dựng khu vực mậu dịch tự
do và liên minh thuế quan trong những
thập niên 60-70) Hội nhập kinh tế là nền
tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền
vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác,
đặc biệt là hội nhập về chính trị và nhìn
chung, được các nước ưu tiên thúc đẩy
giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát
triển trong bối cảnh toàn cầu hóa[10]
Hội nhập chính trị
Hội nhập về chính trị là quá trình các
nước tham gia vào các cơ chế quyền lực tập
thể (giữa hai hay nhiều nước) nhằm theo
đuổi những mục tiêu nhất định và hành xử
phù hợp với các luật chơi chung Hội nhập
chính trị thể hiện mức độ liên kết đặc biệt
giữa các nước, trong đó họ chia sẻ với nhau
về các giá trị cơ bản (tư tưởng chính trị, ý
thức hệ), mục tiêu, lợi ích, nguồn lực và
đặc biệt là quyền lực Một quốc gia có thể
tiến hành hội nhập chính trị quốc tế thông
qua ký hiệp ước với một hay một số quốc
gia khác trên cơ sở thiết lập các mối liên
kết quyền lực giữa họ (hiệp ước liên minh
hay đồng minh) hoặc tham gia vào các tổ
sự tương đồng về thể chế chính trị và độ tincậy hoàn toàn của các thành viên Về mặt
tổ chức quyền lực, các thành viên chỉ giữlại một số thẩm quyền nhất định ở cấp quốcgia và trao các quyền lực còn lại cho một
cơ cấu siêu quốc gia EU hiện nay là một
mô hình hội nhập chính trị cao
Thông thường hội nhập chính trị là bước
đi sau cùng trên cơ sở các nước liên quan
đã đạt đến trình độ hội nhập kinh tế và vănhóa-xã hội rất cao Sự hình thành Liênbang Hoa Kỳ, Liên bang Canađa trước đây
và EU hiện nay cơ bản theo phương thức
Trang 27này Tuy nhiên, trong những bối cảnh nhất
định, hội nhập trong lĩnh vực chính trị có
thể đi trước một bước để mở đường thúc
đẩy hội nhập trong các lĩnh vực khác
Trường hợp ASEAN thể hiện khá đặc biệt
sự kết hợp nhiều tiến trình hội nhập Trong
suốt hơn 2 thập kỷ đầu tồn tại, ASEAN chủ
yếu là một cơ chế hợp tác khu vực về chính
trị-ngoại giao nhằm đối phó với những
thách thức đối với an ninh quốc gia của các
thành viên Một số học giả nhìn nhận
ASEAN như là một định chế/chế độ quốc
tế (international regime) về chính trị-an
ninh ở khu vực Đông Nam Á[11] Nói một
cách khác, đây là dạng thức ban đầu của
hội nhập chính trị-an ninh Sau giai đoạn
khởi đầu chủ yếu bằng hội nhập sơ khai về
chính trị-an ninh, từ cuối thập niên 1970
trở đi, ASEAN mới bắt đầu triển khai hợp
tác về kinh tế và chỉ từ gần giữa thập niên
1990, ASEAN mới thực sự bắt đầu tiến
trình hội nhập kinh tế Hội nhập văn hóa-xã
hội phải đợi đến khi ASEAN thông qua
Hiến chương năm 2008 mới được triển khai
Hội nhập an ninh - quốc phòng
Hội nhập về an ninh-quốc phòng là sự
tham gia của quốc gia vào quá trình gắn kết
họ với các nước khác trong mục tiêu duy
trì hòa bình và an ninh Điều này đòi hỏi
các nước hội nhập phải tham gia vào các
thỏa thuận song phương hay đa phương về
an ninh-quốc phòng trên cơ sở các nguyên
tắc chia sẻ và liên kết: mục tiêu chung, đốitượng/kẻ thù chung, tiến hành các hoạt độngchung về đảm bảo an ninh-quốc phòng
Có nhiều kiểu liên kết an ninh-quốcphòng khác nhau, trong đó nổi lên nhữnghình thức chủ yếu được nhiều nước sửdụng như sau:
- Hiệp ước phòng thủ chung: Đây là
hình thức khá phổ biến trong thời kỳ Chiếntranh lạnh khi mà thế giới được cơ bản chiathành hai hệ thống (gọi là hệ thống hai cực)giữa một bên là các nước xã hội chủ nghĩa
do Liên Xô lãnh đạo và bên kia là các nước
tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu Hàngloạt tổ chức phòng thủ chung đã được haiphe lập ra để thực hiện các mục tiêu chínhtrị và an ninh-quốc phòng, chẳng hạn như
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương(NATO)[12], Tổ chức Hiệp ước Trung tâm(CENTO)[13], Tổ chức Hiệp ước ĐôngNam Á (SEATO)[14], Hiệp ước Liên minhÔ-xtrây-li-a-Niu Di-lân-Mỹ (ANZUS)[15],
Tổ chức Hiệp ước Vác-xa-va[16] Nguyêntắc của các tổ chức phòng thủ chung là: (i)các nước tham gia phải có chung kẻ thùbên ngoài, khi một nước nào đó tấn côngmột thành viên của khối thì nước đó đượccoi là kẻ thù của cả khối và tất cả các thànhviên cùng hành động chống lại kẻ thù đó;(ii) các thành viên có chính sách phòng thủchung; (iii) các thành viên cùng đóng góp lựclượng vũ trang tham gia vào lực lượng chung
Trang 28của khối đặt dưới một bộ chỉ huy chung.
Đây là phương thức liên kết quân sự rất
cao, đòi hỏi các thành viên phải đồng về ý
thức hệ và cùng chia sẻ cao về quan điểm,
chính sách an ninh-quốc phòng, chiến lược
quân sự và có trình độ phát triển kỹ thuật
quân sự cũng như năng lực tác chiến không
quá chênh lệch Phương thức liên kết này
cũng đòi hỏi các thành viên phải chấp nhận
chịu sự hạn chế về chủ quyền quốc gia và
trao một phần thẩm quyền quốc gia cho
một cơ chế chung siêu quốc gia
- Hiệp ước liên minh quân sự song
phương: Đây là hình thức cổ điển rất phổ
biến trong lịch sử quan hệ quốc tế xưa và
nay Phần lớn, nếu như không nói là hầu
hết, các nước đều có hiệp ước liên minh với
một hoặc một số nước khác, trong đó có
quy định về trợ giúp quân sự trong những
tình huống cần thiết Mỹ có hiệp ước liên
minh quân sự song phương với Nhật, Hàn
Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Thái Lan
và Phi-lip-pin Việt Nam cũng đã có Hiệp
ước liên minh với Liên Xô cũ, Lào và
Cam-pu-chia
- Các dàn xếp an ninh tập thể: Đây là
hình thức liên kết an ninh dựa trên nguyên
tắc các thành viên cam kết không tấn công
nhau, nếu có một thành viên vi phạm, sẽ
dùng sức mạnh hợp tác của cả khối để ngăn
chặn và giúp giải quyết xung đột Hội Quốc
Liên và sau này là Liên Hợp Quốc, Liên
đoàn Ả-rập, Tổ chức thống nhất châu Mỹ(OAS), Tổ chức thống nhất châu Phi (AU),Cộng đồng chính trị-an ninh mà ASEANđang xây dựng là những mô hình cụ thểcủa phương thức liên kết an ninh tập thể
- Các dàn xếp về an ninh hợp tác là
phương thức liên kết an ninh-quốc phònglỏng lẻo hơn cả, dựa trên nguyên tắc lấyhợp tác trên các lĩnh vực, từ dễ đến khó,với các hình thức đa dạng như đối thoại,xây dựng lòng tin, ngoại giao phòngngừa… để xây dựng thói quen hợp tác và
sự phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, từ đó cóthể hạn chế khả năng xảy ra xung đột giữacác thành viên ASEAN và một loạt cơ chếkhu vực liên quan như Hội nghị sau Hộinghị Bộ trưởng Ngoại giao (PMC), Diễnđàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộtrưởng quốc phòng ASEAN (ADMM), Hộinghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mởrộng (ADMM+), Hội nghị cấp cao Đông Á(EAS)… là những mô hình cụ thể về dạngthức liên kết này
Nhìn chung, hội nhập trong lĩnh vực anninh-quốc phòng là tiến trình khó khăn hơn
cả, vì nó liên quan trực tiếp tới những vấn đềnhạy cảm nhất- cốt lõi tồn tại của quốc gia,
đó là hòa bình, độc lập và chủ quyền
Hội nhập về văn hóa - xã hội
Hội nhập về văn hóa - xã hội là quá trình
mở cửa, trao đổi văn hóa với các nướckhác; chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần
Trang 29với thế giới; tiếp thu các giá trị văn hóa tiến
bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu nền
văn hóa dân tộc; tham gia vào các tổ chức
hợp tác và phát triển văn hóa - giáo dục và
xã hội khu vực và hợp tác chặt chẽ với các
nước thành viên hướng tới xây dựng một
cộng đồng văn hóa - xã hội rộng lớn hơn
trên phạm vi khu vực và toàn cầu (ví dụ,
tham gia Cộng đồng văn hóa - xã hội
ASEAN, UNESCO…); ký kết và thực hiện
các hiệp định song phương về hợp tác
-phát triển văn hóa - giáo dục - xã hội với
các nước
Hội nhập văn hóa - xã hội có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc làm sâu sắc quá trình
hội nhập, thực sự gắn kết các nước với
nhau bằng chất keo bền vững hơn cả Quá
trình này giúp các dân tộc ở các quốc gia
khác nhau ngày càng gần gũi và chia sẻ với
nhau nhiều hơn về các giá trị, phương thức
tư duy và hành động; tạo ra sự hài hòa và
thống nhất ngày càng cao hơn giữa các
chính sách xã hội của các nước thành viên;
đồng thời tạo điều kiện để người dân mỗi
nước được thụ hưởng tốt hơn các giá trị
văn hóa của nhân loại, các phúc lợi xã hội
đa dạng; đặc biệt, hình thành và củng cố
tình cảm gắn bó thuộc về một cộng đồng
chung rộng lớn hơn quốc gia của riêng
mình (ý thức công dân khu vực/toàn cầu)
Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu
lớn của thời đại ngày nay
Hội nhập quốc tế là một quá trình tấtyếu, do bản chất xã hội của lao động vàquan hệ giữa con người Các cá nhân muốntồn tại và phát triển phải có quan hệ và liênkết với nhau tạo thành cộng đồng Nhiềucộng đồng liên kết với nhau tạo thành xãhội và các quốc gia - dân tộc Các quốc gialại liên kết với nhau tạo thành những thựcthể quốc tế lớn hơn và hình thành hệ thốngthế giới
Sự ra đời và phát triển của kinh tế thịtrường đòi hỏi phải mở rộng các thị trườngquốc gia, hình thành thị trường khu vực vàquốc tế thống nhất Đây là động lực chủyếu thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung
Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai,đặc biệt là từ khi chấm dứt Chiến tranhlạnh, cùng với sự phát triển mạnh mẽ củalực lượng sản xuất thế giới nhờ hàng loạttiến bộ nhanh chóng về khoa học-côngnghệ, xu thế hòa bình - hợp tác, nỗ lực tự
do hóa - mở cửa của các nước đã thúc đẩyquá trình hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnhvực, đặc biệt là trong kinh tế, phát triển rấtnhanh và trở thành một xu thế lớn của quan
hệ quốc tế hiện đại Quá trình này diễn ratrên nhiều cấp độ: song phương, đaphương, tiểu vùng, khu vực, liên khu vực
và toàn cầu Mức độ hội nhập cũng ngàymột sâu sắc hơn, bao quát toàn diện hơn.Hầu hết mọi nước trên thế giới đã và đang
Trang 30tích cực tham gia vào quá trình này.
Trên cấp độ toàn cầu, ngay sau Chiến
tranh thế giới lần thứ hai, Liên Hợp Quốc
và hàng loạt các tổ chức chuyên môn của
Liên Hợp Quốc, trong đó gồm nhiều thiết
chế thuộc hệ thống Bretton Woods (đặc
biệt là Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàng
Thế giới), ra đời với số lượng thành viên
gia nhập ngày một nhiều hơn, bao quát hầu
hết các nước trên thế giới Đây là một tổ
chức hợp tác toàn diện, bao quát hầu hết
mọi lĩnh vực và có quy mô toàn cầu Trong
một số lĩnh vực, Liên Hợp Quốc đã có sự
phát triển vượt lên trên sự hợp tác thông
thường và có thể nói đã đạt đến trình độ
ban đầu của hội nhập (lĩnh vực chính trị
-an ninh, lĩnh vực nhân quyền, lĩnh vực tài
chính) Trong lĩnh vực thương mại, tiến
trình hội nhập toàn cầu được thúc đẩy với
việc ra đời của một định chế đa phương đặc
biệt quan trọng, đó Hiệp định chung về
Thương mại và Thuế quan (GATT), sau đó
được nối tiếp bằng Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) kể từ năm 1995 Hiện nay,
153 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tham gia
với tư cách thành viên chính thức của Tổ
chức này, khoảng 30 quốc gia khác đang
trong quá trình đàm phán gia nhập Trong
hơn một thập kỷ qua, WTO đã phát triển
mạnh mẽ hệ thống “luật chơi” về thương
mại quốc tế, bao quát hầu hết các lĩnh vực
của quan hệ kinh tế giữa các thành viên
như hàng hóa, dịch vụ, nông nghiệp, kiểmdịch động thực vật, dệt may, hàng rào kỹthuật, đầu tư, sở hữu trí tuệ, chống bán phágiá, trợ cấp và các biện pháp đối kháng, cácbiện pháp tự vệ, xác định giá trị tính thuếhải quan, giám định hàng hóa, quy tắc xuất
xứ, quy tắc và thủ tục giải quyết tranhchấp… Các quy định cơ bản của WTO trởthành nền tảng của tất cả các thỏa thuậnkinh tế khu vực hay song phương trên thếgiới hiện nay Vòng đàm phán Đô-ha, bắtđầu từ hơn mười năm trước, đang tiếp tục
mở rộng và củng cố các quy định của WTOtheo hướng tự do hóa hơn nữa
Ở cấp độ khu vực, quá trình hội nhậpphát triển rất nhanh trong những thập niên
1960 và 1970, đặc biệt “nở rộ” từ thập niên
1990 trở lại đây Hàng loạt tổ chức/thể chếkhu vực đã ra đời ở khắp các châu lục Hầunhư không một khu vực nào trên thế giớihiện nay không có các tổ chức/thể chế khuvực của riêng mình Các tổ chức/thể chếkhu vực về chính trị - an ninh và đặc biệt
là kinh tế, chiếm nhiều nhất Chỉ riêngtrong lĩnh vực kinh tế, tính đến giữa tháng5/2011 có 489 hiệp định về mậu dịch khuvực (RTAs) giữa các thành viên của WTO
đã được thông báo cho Ban Thư ký WTO,trong đó 90% là các thỏa thuận mậu dịch
tự do (FTAs) và 10% là các liên minh thuếquan (CU)[17] Bên cạnh đó, có tới hàngtrăm RTAs đang trong quá trình đàm phán
Trang 31hoặc chuẩn bị đàm phán Nhiều tổ chức/thể
chế liên kết kinh tế liên khu vực được hình
thành, ví dụ như APEC, ASEM, ASEAN
với các đối tác ngoài khu vực chẳng hạn
như Mỹ và EU (dưới dạng các PCA và
FTA), EU với một số tổ chức/thể chế hoặc
quốc gia ở các khu vực khác, v.v…
Bên cạnh các cấp độ toàn cầu và khu
vực, quá trình hội nhập giữa các nước còn
được điều tiết bởi các hiệp định liên kết
song phương, dưới dạng hiệp ước liên
minh (chính trị, an ninh, quốc phòng), hiệp
định đối tác toàn diện, hiệp định đối tác
chiến lược, hiệp định kinh tế-thương mại
(BFTA, BCU…) Từ cuối thập niên 1990
trở lại đây, xu hướng ký kết các hiệp định
đối tác chiến lược và hiệp định mậu dịch
tự do (BFTA) phát triển đặc biệt mạnh mẽ
Hầu hết các nước đều đã ký hoặc đang
trong quá trình đàm phán các BFTA Thậm
chí, có nước hiện đã ký hoặc đàm phán tới
hàng chục hiệp định BFTA (Xinh-ga-po,
Thái Lan, Nhật, Ô-xtrây-li-a…) Điều này
được lý giải chủ yếu bởi bế tắc của vòng
đàm phán Đôha và những ưu thế của BFTA
so với các hiệp định đa phương (dễ đàm
phán và nhanh đạt được hơn; việc thực hiện
cũng thuận lợi hơn)
Về phạm vi lĩnh vực và mức độ hội
nhập, xem xét các thỏa thuận liên kết khu
vực và song phương trong thời gian gần
đây, có thể thấy rất rõ rằng các lĩnh vực hội
nhập ngày càng được mở rộng hơn Bêncạnh xu hướng đẩy mạnh hội nhập kinh tế,các nước cũng quan tâm thúc đẩy hội nhậptrong các lĩnh vực khác, đặc biệt là chínhtrị - an ninh và văn hóa - xã hội Tiến trìnhhội nhập toàn diện trong EU đã đạt đếnmức cao, biến tổ chức này trở thành mộtthực thể gần giống như một nhà nước liênbang ASEAN cũng đang tiến hành mởrộng và làm sâu sắc tiến trình hội nhập khuvực một cách toàn diện hơn thông qua xâydựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụcột Cộng đồng Chính trị - An ninh, Cộngđồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa - Xãhội Hàng loạt các hiệp định đối tác toàndiện hay đối tác chiến lược song phươngđược ký kết gần đây bao quát khá toàn diệncác lĩnh vực hợp tác và liên kết giữa cácbên Nếu chỉ xét riêng về mặt kinh tế, thìcác thỏa thuận gần đây, chẳng hạn nhưHiệp định Mậu dịch tự do ASEAN – Ô-xtrây-li-a –Niu Di-lân, Hiệp định Mậu dịch
tự do Mỹ - Xinh-ga-po, Hiệp định Mậudịch tự do Hàn Quốc – Xinh-ga-po, Hiệpđịnh Mậu dịch tự do Nhật – Xinh-ga-po,chứa đựng hầu hết các lĩnh vực và do vậyvượt xa so với các hiệp định FTA truyềnthống Nhìn chung, các hiệp định FTA mớitoàn diện hơn và bao hàm cả những lĩnhvực “nhạy cảm” (ví dụ như mua sắm chínhphủ, cạnh tranh, lao động, môi trường,hàng rào kỹ thuật) thường không được đề
Trang 32cập trong hầu hết các hiệp định FTA ký
trước đây Bên cạnh đó, các hiệp định FTA
mới đưa ra các quy định về tự do hóa triệt
để hơn, thể hiện mức độ hội nhập cao hơn
Ví dụ, trong lĩnh vực hàng hóa, cắt giảm
thuế quan mạnh hơn và sớm đưa về 0%, hạn
chế tối đa số lượng các sản phẩm loại trừ
Rõ ràng, hội nhập quốc tế đã trở thành
một xu thế lớn và một đặc trưng quan trọng
của thế giới hiện nay Không ít người
khẳng định rằng chúng ta đang sống trong
thời đại toàn cầu hóa Nói một cách khác,
thời đại hội nhập toàn cầu Xu thế này chi
phối toàn bộ quan hệ quốc tế và làm thay
đổi to lớn cấu trúc của hệ thống thế giới
cũng như bản thân các chủ thể và mối quan
hệ giữa chúng
Lợi ích và bất lợi của hội nhập quốc tế
Khẳng định hội nhập quốc tế là một xu
thế tất yếu lớn của thế giới cũng đồng thời
chỉ ra con đường phát triển không thể nào
khác đối với các nước trong thời đại toàn
cầu hóa là tham gia hội nhập quốc tế Sự
lựa chọn tất yếu này còn được quyết định
bởi rất nhiều lợi ích mà hội nhập quốc tế
tạo ra cho các nước Dưới đây, xin nêu
những lợi ích chủ yếu của hội nhập quốc tế
mà các nước có thể tận dụng được:
Thứ nhất, quá trình hội nhập giúp mở
rộng thị trường để thúc đẩy thương mại và
các quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc
đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội
Thứ hai, hội nhập cũng tạo động lực
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cảithiện môi trường đầu tư kinh doanh, từ đónâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranhcủa nền kinh tế, của các sản phẩm và doanhnghiệp; đồng thời, làm tăng khả năng thuhút đầu tư vào nền kinh tế
Thứ ba, hội nhập giúp nâng cao trình độ
của nguồn nhân lực và nền khoa học côngnghệ quốc gia, nhờ hợp tác giáo dục - đàotạo và nghiên cứu khoa học với các nước
và tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu
tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giaocông nghệ từ các nước tiên tiến
Thứ tư, hội nhập làm tăng cơ hội cho các
doanh nghiệp trong nước tiếp cận thịtrường quốc tế, nguồn tín dụng và các đốitác quốc tế
Thứ năm, hội nhập tạo cơ hội để các cá
nhân được thụ hưởng các sản phẩm hànghóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu
mã và chất lượng với giá cạnh tranh; đượctiếp cận và giao lưu nhiều hơn với thế giớibên ngoài, từ đó có cơ hội phát triển và tìmkiếm việc làm cả ở trong lẫn ngoài nước
Thứ sáu, hội nhập tạo điều kiện để các
nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt hơntình hình và xu thế phát triển của thế giới,
từ đó có thể đề ra chính sách phát triển phùhợp cho đất nước và không bị lề hóa
Thứ bảy, hội nhập giúp bổ sung những
giá trị và tiến bộ của văn hóa, văn minh của
Trang 33thế giới, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc
đẩy tiến bộ xã hội
Thứ tám, hội nhập tạo động lực và điều
kiện để cải cách toàn diện hướng tới xây
dựng một xã hội mở, dân chủ hơn, và một
nhà nước pháp quyền
Thứ chín, hội nhập tạo điều kiện để mỗi
nước tìm cho mình một vị trí thích hợp
trong trật tự quốc tế, giúp tăng cường uy tín
và vị thế quốc tế, cũng như khả năng duy trì
an ninh, hòa bình và ổn định để phát triển
Thứ mười, hội nhập giúp duy trì hòa
bình và ổn định khu vực và quốc tế để các
nước tập trung cho phát triển; đồng thời mở
ra khả năng phối hợp các nỗ lực và nguồn
lực của các nước để giải quyết những vấn đề
quan tâm chung của khu vực và thế giới
Tuy nhiên, hội nhập không chỉ đưa lại
những lợi ích, trái lại, nó cũng đặt các nước
trước nhiều bất lợi và thách thức, trong đó
đặc biệt là:
Thứ nhất, hội nhập làm gia tăng cạnh
tranh gay gắt khiến nhiều doanh nghiệp và
ngành kinh tế gặp khó khăn, thậm chí là
phá sản, từ đó gây nhiều hậu quả về mặt
kinh tế-xã hội
Thứ hai, hội nhập làm tăng sự phụ thuộc
của nền kinh tế quốc gia vào thị trường bên
ngoài và, do vậy, khiến nền kinh tế dễ bị
tổn thương trước những biến động của thị
trường quốc tế
Thứ ba, hội nhập không phân phối công
bằng lơi ích và rủi ro cho các nước và cácnhóm khác nhau trong xã hội, do vậy cónguy cơ làm tăng khoảng cách giàu - nghèo
Thứ bốn, trong quá trình hội nhập, các
nước đang phát triển phải đối mặt với nguy
cơ chuyển dịch cơ cấu kinh tế tự nhiên bấtlợi, do thiên hướng tập trung vào các ngàng
sử dụng nhiều tài nguyên, nhiều sức laođộng, nhưng có giá trị gia tăng thấp Dovậy, họ dễ có thể trở thành bãi rác thải côngnghiệp và công nghệ thấp, bị cạn kiệtnguồn tài nguyên thiên nhiên và hủy hoạimôi trường
Thứ năm, hội nhập có thể tạo ra một số
thách thức đối với quyền lực Nhà nước(theo quan niện truyền thống về độc lập, chủquyền) và phức tạp đối với việc duy trì anninh và ổn định ở các nước đang phát triển
Thứ sáu, hội nhập có thể làm gia tăng
nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa truyềnthống bị xói mòn trước sự “xâm lăng” củavăn hóa nước ngoài
Thứ bảy, hội nhập có thể đặt các nước
trước nguy cơ gia tăng của tình trạngkhủng bố quốc tế, buôn lậu, tội phạmxuyên quốc gia, dịch bệnh, nhập cư bất hợppháp…
Như vậy, hội nhập đồng thời đưa lại cảlợi ích lẫn bất lợi đối với các nước Tuynhiên, không phải cứ hội nhập là đươngnhiên hưởng đầy đủ tất cả các lợi ích vàgánh mọi bất lợi như đã nêu trên Các lợi
Trang 34ích và bất lợi nhìn chung ở dạng tiềm năng
và đối với mỗi nước một khác, do các nước
không giống nhau về điều kiện, hoàn cảnh,
trình độ phát triển… Việc khai thác được
lợi ích đến đâu và hạn chế các bất lợi, thách
thức thế nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
trong đó đặc biệt quan trọng là năng lực
của mỗi nước, trước hết là chiến lược/chính
sách, biện pháp hội nhập và việc tổ chức
thực hiện Thực tế, nhiều nước đã khai thác
rất tốt các cơ hội và lợi ích của hội nhập để
đạt được tăng trưởng và phát triển kinh
tế-xã hội cao, ổn định trong nhiều năm liên
tục, nhanh chóng vươn lên hàng các nước
công nghiệp mới và tạo dựng được vị thế
quốc tế đáng nể, đồng thời xử lý khá thành
công các bất lợi và thách thức của quá trình
hội nhập, đó là trường hợp Hàn Quốc, Đài
Loan (Trung Quốc), Hồng Kông,
Xinh-ga-po, Trung Quốc, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô,
Bra-xin… Một số nước tuy vẫn gặt hái
được nhiều lợi ích từ hội nhập, song xử lý
chưa tốt mặt trái của quá trình này, nên phải
đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn,
có thể kể tới trường hợp Thái Lan,
Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Hy Lạp, Bồ
Đào Nha, Tây Ban Nha… Mặc dù vậy, suy
cho cùng lợi ích mà hầu hết các nước đã
thu được trên thực tế từ quá trình hội nhập
vẫn lớn hơn cái giá mà họ phải trả cho
những tác động tiêu cực xét trên phương
diện tăng trưởng và phát triển kinh tế Điều
này giải thích tại sao hội nhập quốc tế trởthành lựa chọn chính sách của hầu hết cácnước trên thế giới hiện nayr
Tài liệu tham khảo:
Acharya Amitav, “Regionalism and Regime rity in the Third World: Comparing the Origins of
Secu-ASEAN and the GCC” trong Brian L Job (ed.), The
In-security Dilemma: National Security of Third World States, Boulder, Lynne Rienner, 1992.
Acharya Amitav, “The Association of Southeast Asian Nations: Security Community or Defense Com- munity?”, Pacific Affairs, vol 64, no 2, summer 1991.
Balassa Bela, The Theory of Economic Integration,
Richard D Irwin Inc., Homewood, Illinois, 1961.
Bộ Ngoại giao, Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu
thế toàn cầu hóa: Vấn đề và giải pháp, Nhà Xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.
Buzan Barry, “The Southeast Asian Security
Com-plex”, Contemporary Southeast Asia, tập 10, số 1, tháng
7/1988.
Carl J Friedrich, Trends of Federalism in Theory
and Practice, New York, Praeger, 1968.
Couloumbis Theodore A & James H Wolfe,
Intro-duction to International Relations: Power & Justice,
Englewood Cliffs, New Jersey, Prentice-Hall, 1986;
Deutsch Karl W & all, Political Community and the
North Atlantic Area, Princeton, N.J., Princeton
Univer-sity Press, 1957;
Deutsch Karl W & all, France, Germany, and the
Western Alliance: A Study of Elite Attitudes on European Integration and World Politics, New York, Scribner’s,
1967.
Jacob Philip E & Toscano (ed.), The Integration of
Political Communities, Philadelphia, Lippincott, 1964;
Học viện Ngoại giao, Lý luận quan hệ quốc tế, Hà
Nội, 2008.
Phạm Quốc Trụ, Chủ nghĩa khu vực như là một
chiến lược an ninh quốc gia: Chế độ an ninh hợp tác của ASEAN 1967-1996 ( tiếng Pháp), Luận văn tiến sỹ,
Đại học Laval, Québec, (Canada), 1996.
Trang 35Phạm Quốc Trụ, “Thực trạng hội nhập kinh tế quốc
tế của Việt Nam những năm qua và triển vọng những
năm tới”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế số 1 (80) tháng
3/2010.
Chú thích:
1 Xem Theodore A Couloumbis & James H.
Wolfe, Introduction to International Relations: Power
& Justice, Englewood Cliffs, New Jersey, Prentice-Hall,
1986; Carl J Friedrich, Trends of Federalism in Theory
and Practice, New York, Praeger, 1968.
2 Xem Karl W Deutsch & all, Political Community
and the North Atlantic Area, Princeton, N.J., Princeton
University Press, 1957; Karl W Deutsch & all, France,
Germany, and the Western Alliance: A Study of Elite
At-titudes on European Integration and World Politics,
New York, Scribner’s, 1967.
3 Các nước có thể chủ động tiến hành một cách đơn
phương và tự nguyện những biện pháp nhằm tự do hóa
và mở cửa nền kinh tế quốc gia, chẳng hạn như bỏ bớt
những quy định gây cản trở đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh, tự giảm hàng rào thuế quan và phi thuế
quan đối với hàng hóa xuất – nhập khẩu.
4 Là hình thức hội nhập kinh tế giữa hai nước dựa
trên thỏa thuận song phương.
5 Là hình thức hội nhập trên cơ sở một số vùng của
hai hay một số nước khác nhau gần gũi về không gian
địa lý thực hiện một số liên kết kinh tế hay kết nối cơ sở
hạ tầng nhằm phát huy sự bổ trợ lẫn nhau về nguồn lực
của các vùng này để phát triển kinh tế Ví dụ: Tam giác
phát triển SIJORI (Gồm Xinh-ga-po, Tỉnh Riau của
In-đô-nê-xi-a và Bang Johor của Ma-lai-xi-a), Tam giác
phát triển Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia liên kết miền
Tây Nguyên của Việt Nam với một số tỉnh giáp ranh của
Lào và Cam-pu-chia v.v
6 Là hình thức hội nhập giữa các nước trong cùng
một khu vực địa lý: Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA), Liên minh châu Âu (EU), Khu vực Mậu dịch
tự do Bắc Mỹ (NAFTA),v.v
7 Là hình thức hội nhập giữa các nước thuộc hai
khu vực địa lý khác nhau, ví dụ: ASEM (Hợp tác Á-Âu),
Khu vực Mậu dịch tự do EU-ASEAN.
8 Hội nhập trong khuôn khổ WTO là hình thức hội
nhập kinh tế - thương mại toàn cầu.
9 Xem Bela Balassa, The Theory of Economic
Inte-gration, Richard D Irwin Inc., Homewood, Illinois, 1961.
10 Xem Bộ Ngoại giao, Việt Nam hội nhập kinh tế
trong xu thế toàn cầu hóa: Vấn đề và giải pháp, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.
11 Xem Phạm Quốc Trụ, Chủ nghĩa khu vực như là
một chiến lược an ninh quốc gia: Chế độ an ninh hợp tác của ASEAN 1957-1996 ( tiếng Pháp), Luận văn tiến
sỹ, Đại học Laval, Québec, (Canada), 1996; Jacob Philip
E & Toscano (ed.), The Integration of Political
Com-munities, Philadelphia, Lippincott, 1964; Buzan Barry,
“The Southeast Asian Security Complex”,
Contempo-rary Southeast Asia, tập 10, số 1, tháng 7/1988; Amitav
Acharya, “Regionalism and Regime Security in the Third World: Comparing the Origins of ASEAN and the
GCC” trong Brian L Job (ed.), The Insecurity Dilemma:
National Security of Third World States, Boulder, Lynne
Rienner, 1992.
12 Thành lập năm 1949 với thành viên gồm hầu hết các nước Tây – Bắc Âu và Ca-na-đa Sau Chiến tranh lạnh, một loạt nước, đặc biệt là các nước Đông Âu, gia nhập, nâng tổng số thành viên của NATO lên thành 28 nước
13 Thành lập năm 1955, bao gồm các nước thành viên Anh, Mỹ, I-ran, I-rắc, Pa-ki-xtan và Thổ Nhĩ Kỳ, giải tán năm 1979.
14 Ký năm 1954, bao gồm Mỹ, Anh, Pháp,
Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, xtan, Thái Lan, Phi-lip-pin và Việt Nam, giải tán năm 1977.
Pa-ki-15 Thành lập năm 1951, hiện nay vẫn đang hoạt động.
16 Thành lập năm 1955 với thành viên gồm hầu hết các nước Đông Âu và Liên Xô cũ; giải tán năm 1991 sau khi Liên Xô tan rã.
17.Tham khảo tại website www.wto.org/english/tratop_e/region_e/region_e.htm, truy cập ngày 23/5/2011.
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Quốc 2011.- Số 2(85).- Tr 77-100.
Trang 36tế.-Hội nhập và quan niệm của các nước
Về ngữ nghĩa, "hội nhập" có nguồn gốc
từ “liên kết” (integration) với nghĩa chung
nhất là hành động hoặc quá trình gắn kết
các phần tử riêng rẽ với nhau; hợp chungcác bộ phận vào một chỉnh thể (nhất thể,hợp nhất) và kết hợp các thành tố khácnhau lại (tụ hội, tụ nhóm)
BÀN THêM về kHáI NIệM vÀ NộI HÀM
“HộI NHậP QUỐC Tế” CỦA vIệT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN MớI
?TS ĐặNg ĐìNH Quý
Học viện Ngoại giao việt Nam
Tóm tắt
Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng (năm 2011) thông qua chủ trương “tích cực
và chủ động hội nhập quốc tế”, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy đối ngoại của Đảng ta.
Từ "Hội nhập" được chính thức nêu ra từ năm 1996 trong Văn kiện Đại hội VIII, phần Định hướng mở rộng kinh tế đối ngoại (1) Đến Đại hội IX, “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” trở thành một chủ trương đối ngoại lớn của Đảng ta(2) Đại hội X tái khẳng định chủ trương này với bước phát triển cao hơn về phương châm triển khai và trở thành
"chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế"(3).
Việc thực hiện chủ trương trên đây đã đem lại nhiều thành tựu quan trọng Trong quá trình thực hiện, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng đã được cụ thể hóa thành các chính sách, biện pháp Tuy nhiên, cho đến nay, trong các văn kiện chính thức của
Đảng ta, chưa có định nghĩa rõ về khái niệm hội nhập quốc tế, nội hàm của hội nhập
trong từng lĩnh vực Trong giới nghiên cứu và hoạch định chính sách ở nước ta cũng
còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này
Bài viết sau đây điểm qua quá trình phát triển và nhận thức về hội nhập quốc tế trên thế giới và quá trình đổi mới tư duy về hội nhập quốc tế ở Việt Nam từ khi Đổi mới đến nay, trên cơ sở đó, bàn thêm về khái niệm và nội hàm hội nhập quốc tế phù hợp với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Trang 37Xét theo nghĩa đó, có thể thấy, từ sau
Chiến tranh thế giới lần thứ hai, quá trình
hội nhập quốc tế đã phát triển nhanh chóng
trên nhiều lĩnh vực, diễn ra trên nhiều cấp
độ: song phương, tiểu vùng, khu vực, liên
khu vực và toàn cầu, thu hút hầu hết các
nước trên thế giới Mức độ hội nhập cũng
ngày một sâu sắc và toàn diện hơn
Ở cấp độ toàn cầu, sau Chiến tranh thế
giới lần thứ hai, Liên Hợp Quốc và các tổ
chức chuyên môn của Liên Hợp Quốc đã
ra đời với số lượng thành viên bao gồm hầu
hết các nước trên thế giới Tiến trình hội
nhập về kinh tế, thương mại cũng dần dần
được thúc đẩy với việc ra đời của Hiệp
định chung về Thương mại và Thuế quan
(GATT), sau đó được nối tiếp bằng Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO) kể từ
năm 1995 Đến nay, WTO đã phát triển hệ
thống “luật chơi” bao quát hầu hết các lĩnh
vực của quan hệ kinh tế giữa các thành viên
và trở thành nền tảng của các thỏa thuận
kinh tế khu vực khác trên thế giới
Ở cấp độ khu vực, quá trình hội nhập bắt
đầu từ những thập niên 1950 và đặc biệt
bùng nổ từ thập niên 1990 trở lại đây Hàng
loạt tổ chức khu vực đã ra đời trong nhiều
lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế Tính đến tháng
5/2012, có 511 Thỏa thuận mậu dịch khu
vực (RTAs) đã được thông báo cho
WTO(4) Bên cạnh đó, hàng trăm RTAs
đang trong quá trình đàm phán Đặc biệt,
tiến trình hội nhập toàn diện trong EU đãđạt đến mức cao, đưa tổ chức này trở thànhmột thực thể siêu quốc gia Các nướcASEAN cũng đang tiến hành mở rộng vàlàm sâu sắc tiến trình hội nhập khu vực mộtcách toàn diện hơn thông qua xây dựngCộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cộtCộng đồng Chính trị - An ninh, Cộng đồngkinh tế và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội.Bên cạnh đó, quá trình hội nhập cònđược điều tiết bởi các hiệp định liên kếtsong phương, dưới dạng hiệp ước liênminh (chính trị, an ninh, quốc phòng), hiệpđịnh đối tác chiến lược, hiệp định kinh tế -thương mại v.v Từ cuối thập niên 1990trở lại đây, xu hướng ký kết các hiệp địnhsong phương đặc biệt phát triển Hầu hếtcác nước đều đã ký hoặc đang trong quátrình đàm phán các FTA song phương Cónước đã ký hoặc đàm phán tới hàng chụchiệp định FTA song phương như Xinh-ga-
po, Thái Lan, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a
Về mặt lý luận, có nhiều cách tiếp cận
về hội nhập quốc tế Các lý thuyết về hộinhập được phát triển ban đầu chủ yếu đểgiải thích quá trình hội nhập của các nướcchâu Âu, do đây là khu vực bắt đầu hộinhập rất sớm Lý thuyết về hội nhập kinh
tế cho rằng hội nhập kinh tế là quá trình
gắn kết mang tính thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau và lập luận rằng các thị
trường chung siêu quốc gia, với việc di
Trang 38chuyển tự do các nhân tố kinh tế giữa các
nước, sẽ tạo ra nhu cầu tự nhiên phải hội
nhập sâu hơn, không chỉ về kinh tế, mà còn
cả chính trị(5)
Các lý thuyết chính trị quốc tế cũng có
một số cách tiếp cận về hội nhập quốc tế
Trường phái thể chế cho rằng “Hội nhập
quốc tế là quá trình mang tính thể chế hóa
trong đó các nước áp dụng các thể chế đa
quốc gia và xây dựng các luật lệ chung liên
kết các nước với nhau” Trường phái chức
năng lại nhìn nhận hội nhập quốc tế là một
hệ quả của sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các
nước: “Sự tùy thuộc lẫn nhau và quản trị
chung giữa các nhà nước tạo nên các động
thái nội bộ trong đó các nước hội nhập với
nhau trong các lĩnh vực kinh tế và các lĩnh
vực chức năng khác”(6).
Tựu trung lại, từ thực tiễn và lý luận về
hội nhập quốc tế trên thế giới, có thể khái
quát một số điểm chung nổi bật như sau:
Thứ nhất, hội nhập quốc tế bắt đầu từ
lĩnh vực kinh tế, nhưng không giới hạn ở
đó, mà có thể diễn ra trên nhiều lĩnh vực.
Thực tiễn trên thế giới cho thấy quá trình
hội nhập đã và đang diễn ra trên nhiều lĩnh
vực của đời sống xã hội, từ kinh tế đến
chính trị, quốc phòng – an ninh, văn hóa
-xã hội và các lĩnh vực khác Về lý luận, từ
góc độ biện chứng và Mác-xít, quốc tế hóa
đời sống kinh tế sẽ dẫn tới quốc tế hóa đời
sống trên các mặt khác, hình thành nênnhững chuẩn mực chung trong đời sốngquốc tế trong mọi lĩnh vực
Thứ hai, hội nhập quốc tế là quá trình không có giới hạn về thời gian Điều đó có
nghĩa là hội nhập quốc tế là một quá trìnhliên tục trong quan hệ hợp tác giữa cácnước, có thể đi từ thấp đến cao, từ trạngthái này đến trạng thái khác Không cóquốc gia nào có thể tuyên bố là đã “hoànthành hội nhập” Các nước châu Âu là nhữngnước đi đầu trong hội nhập quốc tế, hiện nayvẫn đang tiếp tục quá trình hội nhập
Thứ ba, hội nhập quốc tế không chỉ diễn
ra thông qua việc tham gia các cơ chế hợp tác đa phương mà trên nhiều bình diện Về
bản chất, hợp tác song phương, nếu dựatrên cơ sở các luật lệ và chuẩn mực chung,thì cũng có đầy đủ tính chất của hội nhậpquốc tế Thậm chí, một số xu hướng phântích gần đây còn mở rộng khái niệm hộinhập sang cả cấp độ quốc gia, tức là quátrình hội nhập bên trong của mỗi nước.(7)Tuy nhiên, hội nhập bên trong nên được coi
là một trong những "yếu tố nền tảng" với cácchính sách đối nội và các biện pháp các nướctiến hành để thực hiện hội nhập quốc tế
Thứ tư, bản chất của hội nhập quốc tế
là quá trình xây dựng và áp dụng các luật
lệ và chuẩn mực chung Đây chính là đặc
điểm phân biệt hội nhập quốc tế với các
Trang 39hoạt động hợp tác quốc tế khác như trao
đổi, tham vấn, phối hợp chính sách v.v
Nói cách khác, hội nhập là một hình thức
hợp tác quốc tế ở trình độ cao, gắn với luật
lệ và chuẩn mực chung giữa các nước
Hội nhập quốc tế ở Việt Nam
Có thể nói quá trình hội nhập chính trị
của nước ta thực tế đã bắt đầu từ khi Việt
Nam trở thành thành viên Liên Hợp Quốc
năm 1977 Thời điểm Việt Nam hội nhập
kinh tế quốc tế có thể được tính khi ta gia
nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế năm
1978 mặc dù các chuẩn mực và nguyên tắc
hợp tác có nhiều khác biệt so với các cơ
chế hợp tác quốc tế hiện nay Tuy nhiên,
quá trình phát triển tư duy về hội nhập quốc
tế của Đảng ta thực chất chỉ bắt đầu cùng
với sự nghiệp đổi mới được Đại hội VI
(1986) khởi xướng
Đại hội VI nhận định: “Một đặc điểm
nổi bật của thời đại là cuộc cách mạng
khoa học - kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ,
tạo thành bước phát triển nhảy vọt của lực
lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình
quốc tế hóa các lực lượng sản xuất”.
Cương lĩnh do Đại hội VII thông qua năm
1991 khẳng định “Cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại cùng với xu thế
quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới là một
thời cơ phát triển”(9) Như vậy, cho đến
Đại hội VII, khái niệm hội nhập chưa xuất
hiện, những nhận thức của Đảng ta về quátrình "quốc tế hóa" là tiền đề quan trọng
để phát triển tư duy về hội nhập quốc tế.Trên thực tế, trong thời kỳ này, quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế đã bắt đầu diễn ravới việc Việt Nam bình thường hóa quan
hệ với Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngânhàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triểnchâu Á (ADB) vào tháng 10/1993
Thuật ngữ hội nhập bắt đầu được đề cậplần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội VIII
của Đảng (1996): "Xây dựng một nền kinh
tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả"(10) Trước khi
từ "hội nhập" được sử dụng chính thức, ởnước ta đã có một số thử nghiệm về ngônngữ liên quan tới khái niệm này Lúc đầu
từ "nhất thể hóa" được sử dụng, sau đó đến
từ "hòa nhập" Hai khái niệm này tuy thểhiện khá chính xác nội hàm, nhưng gây longại về mất bản sắc và độc lập, do đó thuậtngữ "hội nhập" được sử dụng và trở thành kháiniệm chính thức trong văn kiện của Đảng.Trong giai đoạn này, hội nhập quốc tếcủa nước ta đã chính thức bắt đầu với việcViệt Nam gia nhập ASEAN (1995), kýHiệp định hợp tác khung Việt Nam - Ủyban châu Âu dựa theo các chuẩn mực quốc
tế (1995), gia nhập Diễn đàn Hợp tác Á
Trang 40-Âu (ASEM) năm 1996, và Diễn đàn Hợp
tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC) năm 1998 Cũng trong giai đoạn
này, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập
WTO (1995), tuy nhiên quá trình đàm phán
còn chậm và chưa được thúc đẩy mạnh mẽ
Đến Đại hội lần thứ IX (2001), chủ
trương hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục
được nhấn mạnh: “Chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát
huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp
tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định
hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân
tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”(11) Tuy
nhiên, quan điểm về hội nhập kinh tế quốc
tế được thể hiện cụ thể nhất trong Nghị
quyết 07-NQ/TW của Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương khóa IX (2001) về
hội nhập kinh tế quốc tế(12)
Giai đoạn này, hội nhập quốc tế của Việt
Nam đã bắt đầu đi vào chiều sâu với việc
ký kết Hiệp định thương mại song phương
với Hoa Kỳ năm 2001, đẩy nhanh đàm
phán gia nhập WTO, thực hiện AFTA v.v
Đại hội X (2006) tái khẳng định chủ
trương chủ động và tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế và nêu định hướng "đồng thời
mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực
khác"(13) Với định hướng này, hợp tác
quốc tế trong các lĩnh vực quốc phòng, an
ninh, văn hóa xã hội được đẩy mạnh, nhất
là trong khuôn khổ các cơ chế hợp tác củaASEAN và do ASEAN làm chủ đạo TạiĐại hội XI, Đảng ta đã có thêm một bướcphát triển tư duy quan trọng với việc
chuyển từ "hội nhập kinh tế quốc tế" sang
"tích cực và chủ động hội nhập quốc
tế"(14), tức là mở rộng phạm vi, lĩnh vực
và tính chất của hội nhập
Giai đoạn giữa Đại hội X và Đại hội XI
có những thay đổi về chất trong hội nhậpquốc tế với đỉnh cao là việc Việt Namchính thức trở thành thành viên của WTO(2007) Những năm sau đó, ta ký kết nhiềuFTA song phương và khu vực như Hiệpđịnh Đối tác Kinh tế toàn diện với NhậtBản (JVEPA) năm 2008; Hiệp định khung
về Đối tác và hợp tác toàn diện với EU(PCA) năm 2010; FTA với Chi-lê; FTA củaASEAN với các đối tác; bắt đầu đàm phánHiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương(TPP) năm 2010 Cũng trong giai đoạn này,hợp tác quốc phòng - an ninh được mởrộng với việc tham gia một số cơ chế đốithoại về quốc phòng như ADMM,ADMM+ Các Bộ, ngành chức năng cũng
đã tích cực mở rộng hợp tác quốc tế trongcác lĩnh vực chuyên ngành, tham gia ngàycàng nhiều hơn vào các tổ chức quốc tế vàkhu vực
Tóm lại, từ năm 1986, cùng với quá