Nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa của Thủ đô Hà Nội - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học của cả nưốc, Chính phủ đã lần lượt
Trang 2Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trần Thị Hồng Yến
Biến đổi về xã hội và văn hóa ỏ các làng quê trong quá trình đô thị hóa tại Hà Nội / Trần Thị Hong Yến - H : Chính trị Quốc gia, 2013 - 3 l 6 t r ; 21cm
Trang 5L Ờ I N H À X U Ấ T B Ả N
Đô thị hóa là quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Á, trong đó có Việt Nam Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra vổi tốíc
độ ngày càng nhanh Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của khu vực, nâng cao đdi sốhg nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như: vấn đề việc làm cho nông dán bị mất đất, phương pháp đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di dân, giãn dân
Tại Hà Nội, từ giữa những nám 90 của th ế kỷ XX trồ lại đây, cùng với những thay đổi to lốn về kinh tế, xã hội thì quá trình
đô thị hóa cũng diễn ra hết sức nhanh chóng cả vể chiều rộng lẫn chiều sâu Nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa của Thủ đô Hà Nội - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học của cả nưốc, Chính phủ đã lần lượt ban hành các nghị định về điều chỉnh địa
giới hành chính của một sô' huyện ngoại thành để thành lập các quận và chuyển một sô" xã ‘thành phường Sự điều chỉnh này đã mang ỉại nhiều tác động tích cực trong việc thay đổi bộ mặt vùng ven đô: cơ sỏ hạ tầng được nâng cấp, thay đổi kết cấu kinh
tế, cải thiện đòi sốhg nhân dân Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ
Trang 6nhiều hạn chế, bất cập, làm biến đổi về cản bản những vấn đề ván hóa, xã hội, đặt ra nhiều khó khăn, thách thức đôi vối sự phát triển ỏ các làng quê chuyển từ xã thành phưòng.
Xuất phát từ thực tiễn trên, đồng thòi giúp bạn đọc tìm hiểu sâu sắc thêm về vấn đề đô thị hóa ỏ các làng quê ngoại thành
Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất bản
cuô"n sách B iế n đ ổ i v ề x ã h ộ i v à v ă n h ó a ỏ c á c là n g q u ê
tr o n g q u á t r in h đ ô th ị h ó a t a i H à N ộ i của TS Trần Thị
Hồng Yến Cuốn sách đi sâu tìm hiểu, phân tích thực trạng và các dạng thức biến đổi về xã hội và ván hóa ỏ các làng quê chịu tác động của quá trình đô thị hóa theo phương thức chuyển từ
xã thành phường, làm rõ những tác động tích cực cùng những bất cập về mặt xã hội, văn hóa của quá trình chuyển đổi này Từ
đó, cuôn sách đưa ra các giải pháp trong việc điều chỉnh chính sách quản lý đồ thị ỏ vùng ven đô Hà Nội nói riêng và quản lý
đô thị ở Thủ đô Hà Nội nói chung trong thời gian tới.
Cuốn sách là tài liệu tham khảo có giá trị đối với các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, đồng thòi đem lại nhiều kiến thức lý thú, bổ ích vối những ai quan tâm tới vấn đề
đô thị hóa ỏ Việt Nam ♦ *
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 7 năm 2013
N H À X U Ấ T B Ả N C H Í N H T R Ị Q U Ố C G I A - sự T H Ậ T
Trang 7MỞ ĐẦU
Công nghiệp hóa - đô thị hóa là con đưòng tất yếu của mọi quốc gia nhằm hưdng tới một cuộc sống văn minh, hiện đại Tuy nhiên, con đường này diễn ra vào các thòi điểm khác nhau và bằng những hình thức khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa của từng nưốc.
Bước vào thế kỷ XXI, nhiều nưốc ỏ châu Âu, Bắc Mỹ đã hoàn thành quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa, tạo dựng được một nền kinh tê công - thương nghiệp phát triển và chuyển sang thời kỳ hậu công nghiệp Hàng loạt các đô thị lốn đã hình thành và nhiều nước đã có tỷ trọng
đô thị hóa rất cao như Bỉ (96% dân số); Hà Lan, Anh, Bắc
Ai Len (89%); Đan Mạch, Đức (85%)
Trong khi đó, nhiều nưôc đang phát triển mói chỉ bưốc vào quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa, vối đặc điểm chung là đô thị hóa dựa trên nền tảng kinh tế nông nghiệp
và diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa Đặc điểm này chi phối con đưòng, phương thức đô thị hóa, có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình biến đổi xã hội và văn hóa của các cộng đồng cư dân.
Trang 8Tại Việt Nam, đô thị hóa diễn ra trên quy mô rộng trong khoảng gần 20 năm trở lại đây, cũng mang đặc điểm chung như ở các nước đang phát triển mà nét nổi bật là tại những vùng trong diện đô thị hóa, dù cơ cấu kinh tế đã có chuyển biến mạnh mẽ, song sản xuất hông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lỏn, công - thương nghiệp còn nhỏ bé; do vậy, phương thức đô thị hóa vừá chịu ảnh hưỏng rất đậm nét của yếu tố hành chính, vừa chịu ảnh hưởng của sự biến chuyển kinh tế Đây là bốỉ cảnh của việc chuyển một
bộ phận lớn đất đai, dân cư các làng quê ven các thành phô' lớn (Hà Nội, Thành phô' Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng ), các thành phô" thuộc tỉnh, các thị xă và các thị trấn vào khu vực đô thị, theo phương thức chuyển xã thành phường.
Tại Hà Nội, từ giữa năm 1995 trỏ đi, trước những thay đổi to lớn về kinh tế - xã hội của Thủ đô nói chung, của vùng nông thôn ven đô nói riêng, nhằm đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để
Hà Nội thật sự trỏ thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, kĩíoa học của cả nước, xứng tầm Thủ đô của một nước văn minh, hiện đại, Chính phủ đã lần lượt ban hành các nghị định về việc điều chỉnh địa giới hành chính của một sô" huyện ngoại thành để thành lập các quận và chuyển một sô" xã của các huyện này thành phường Với các quyết định này, từ năm 1995 đến cuối năm 2003, năm quận mới lần lượt được hình thành (Tây
Hồ, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Long Biên, Hoàng Mai), vối
30 xã (khoảng hơn 100 thôn, làng) được chuyển thành
Trang 9phường Có thể nói, chuyển đồng loạt một bộ phận ỉôn xã thành phưòng là đặc điểm nổi bật của quá trình đô thị hóa ỏ Hà Nội từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX đến những năm đầu của thế kỷ XXL
Quá trình đô thị hóa theo phương thức chuyển từ xã thành phưòng trên đây đã có nhiều tác động tích cực trong việc làm thay đổi'bộ mặt vùng ven đô, nhất là trong xây dựng cơ sở hạ tầng, thay đổi cơ cấu kinh tế, cải thiện đồi sông của người dân Song việc “đột ngột” thu hồi toàn bộ hoặc phần lớn diện tích đất nông nghiệp cho mục đích đô thị, không có quy hoạch tổng thể, thiếu chuẩn bị kỹ càng, biến các làng, xã thành điểm đô thị theo phương thức hành chính hay đô thị hóa “cưõng bức” (tức “chụp” lên trên làng, xã bộ máy hành chính cớ sở của đô thị - phường), ngưòi nông dân “chỉ sau một đêm trỏ thành thị dân” đã
và đang bộc lộ những khó khăn, bất cập, đặt ra những thách thức rất lớn cho các làng quê này trên bưổc đường phát triển, liên quan đến việc chuyển đổi nghề nghiệp, bảo đảm an ninh, quản lý xã hội và quản lý hành chính, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống Những bất cập, khó khăn đó biểu hiện khác nhau ở từng địa phương, tùy thuộc các đặc điểm về địa lý, kinh tế, xã hội, văn hóa, kết cấu dân cư truyền thống và chúng lại tác động trỏ lại đến nội thành và các vùng quê kề cận của ngoại thành.
Việc đô thị hóa theo phương thức chuyển xã thành phường đã diễn ra hơn một thập niên qua, tuy nhiên, đến nay chưa có một cuộc khảo sát, điều tra nghiên cứu có quy
mô nào dưối góc độ nhân học - dân tộc học để đánh giá
Trang 10thực trạng, xu hưống biến đổi, từ dó có những giải pháp khắc phục những bất cập và rút ra bài học kinh nghiệm cho việc phát triển đô thị trong thòi gian tới.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề
Biến đổi về xã hội và văn hóa ở các làng quê trong quá trình đô thị hóa tai Hà Nội làm hưống nghiên cứu
phương thức chuyển xã thành phường ở Thủ đô Hà Nội; làm rõ thực trạng và các dạng thức biến đổi về xã hội và văn hóa ở các làng quê chịu tác động của quá trình đô thị
hóa đó.
thị hóa theo phường thức chuyển từ xã thành phường; làm
rõ những tác động tích cực, những bất cập về mặt xã hội
và văn hóa của quá trình chuyển đổi này.
- Chỉ ra những bài học kinh nghiệm đối với việc phát triển và quản lý đô thị theo phương thức chuyển từ xã thành phường ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp trong việc điều chỉnh, bổ sung chính sách phát triển và quản lý đô thị ỏ vùng ven đô Hà Nội trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng và phát triển, quản lý đô thị Hà Nội nói chung trong thòi
gian tỗi.
Trên cơ sỏ kết quả điền dã thực tế và nhiều nguồn tài liệu khác nhau, chúng tôi đã cố gắng đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thốhg về những biến đổi xã hội và văn hóa của các làng quê thuộc các xã được chuyển đổi thành
Trang 11phường trên địa bàn Hà Nội trong thòi gian từ năm 1995 đến năm 2010.
Nhân dịp cuốh sách được xuất bản, tôi xin chân thành cảm ơn Học viện Khoa học xã hội, Viện Dân tộc học đã tạo diều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành công trình nghiên cứu này; cảm đn ủy ban nhân dân các phưòng, bà con nhân dân các tổ dân phô" đã giúp
đõ tôi trong việc khảo sát các nội dung có liên quan ở địa phương.' Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.xk Bùi Xuân Đính và PGS.TS Vương Xuân Tình - những ngưòi thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu này.
chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý, phê bình của bạn đọc gần xa.
Hà Nội, tháng 6 năm 2013
Tác giả
Trang 13TỔNG QUAN VÀ c ơ s ở LÝ THUYẾT
VỂ BIỂN ĐỔI XÃ HỘI, VĂN HÓA DO TÁC ĐỘNG
Chương 1
VỀ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI, VĂN HÓA DO TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, ĐÔ THỊ HÓA
VÀ TOÀN CẦU HÓA TRÊN THẾ GIỚI VÀ ở VIỆT NAM
1 Nghiên cứu văn hóa đô thị và biến đổi văn hóa
đô thị trên thế giới nửa đầu thế kỷ XX
Khái niệm “biến đổi về xã hội, văn hóa” trong cuốh sách này được hiểu theo nghĩa rộng, là quá trình vận động của tất cả các xã hội Bước ngoặt thu hút mạnh mẽ sự chú ý của các nhà nhân học, xã hội học đến vối lĩnh vực đô thị là công
thế kỷ XX, kéo theo nó là quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, làm phát sinh vô số^ vấn để xã hội, văn hóa cần giải quyết^
1 Xem Trịnh Duy Luân: Xã hội học đô thị, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2004, tr 15.
Trang 14Trong thòi kỳ đầu, các công trình nghiên cứu về đô thị hóa tập trung vào tìm hiểu cơ cấu tổ chức và văn hóa đô thị (lối sông, nếp sống ) Phần lớn các tác giả đưa ra những kết luận mang tính “định kiến đô thị” hay “phản đô thị”, rằng tổ chức xã hội đô thị như là một khuôn mẫu khác hẳn về chất so với các khuôn mẫu điển hình ở nông thôn Đó là nguyên nhân khiến cho đô thị sản sinh ra những phong cách sống khác biệt so vói nông thôn, con người đô thị có những kiểu cá tính độc đáo, “dễ bị rốì loạn tâm thần”.
sống tinh thần, tác giả George Simmel (Đức) đã thể hiện định kiến phản đô thị khi tranh luận về lốì sống đô thị
và nhân cách, ông mô tả các loại hình đô thị và chỉ ra những hậu quả của sự tập trung dân cư quá đông Đây
là nguyên nhân dẫrí đến hình thành những đặc trưng vật thể của đô thị, cũng như những đặc trưng xã hội của thị dân Ông cho rằng, nền văn hóa được định hướng của các đô thị có ảnh hưỗng lớn đến lốì sống đô thị và nhân cách con người Đô thị gây ra sự lệch chuẩn và các hành vi tội phạm; song cũng tạo cho con ngưòi những cơ hội để phát triển tối đa năng lực của họ và trỏ nên tự do hơn Mặt khác, do tính phức tạp của đồi sông đô thị nên con ngưòi sống ồ đô thị phải vận dụng một năng lượng tâm lý lớn hơn so với ngưòi sống ỏ nông thôn Điều này gây ra cho người dân đô thị sự quá tải đối với hệ thần kinh, nhưng họ lại luôn đóng kín sự căng thẳng này và sau đó phản ứng lẫn nhau theo một cách phi biểu cảm
Trang 15và ông xem đây là cách thức để giảm các kích thích thần kinh ở đô thị*.
cho rằng, cơ cấu xã hội của đô thị góp phần phát triển cá tính con người và do vậy, nó là công cụ biến đổi xã hội, lịch sử Các đô thị có các thiết chế thực hiện chức năng kinh tế, pháp lý, do vậy văn hóa, xã hội chịu tác động của thiết chế này.
họa bộ mặt xã hội đô thị Mỹ đương thòi Theo ông, đô thị
và tính chất xã hội khác biệt, đã tạo ra một hệ thống bị chuyên biệt hóa, các thiết chế bị hình thức hóa và các khuôn mẫu đời sống xã hội điển hình của cư dân đô thị Đòi sống đô thị có ảnh hưởng tiêu cực tói cá nhân; những thay đổi to lớn về cơ cấu và thiết chế trong quá trình đô thị hóa đã để lại những hậu quả nghiêm trọng cho thị dân: tâm lý căng thẳng, phải giữ vị trí cách ly vối thê giới xã hội đô thị quá chuyên biệt, quá nhiểu thông tin^ Các nhà nghiên cứu đều quy trách nhiệm vể các hành vi lệch chuẩn và mất trật tự thường thấy ở các đô thị là do sự phức tạp và các mô hình tổ chức của các đô thị gây ra.
Bên cạnh nghiên cứu về cơ cấu tổ chức, lối sống, nếp sống đô thị, một số tác phẩm khác đề cập đến vấn đề tệ
1, 2 Xem Trịnh Duy Luân; X ã hội học đô thị, Sđd, t.l9 ,
tr 33, 39.
Trang 16nạn xã hội ở các đô thị, còn gọi là “xã hội bóng tốì” Đó là
khu ổ chuột {The Gold coast and Slum), Gái nhảy chuyên nghiệp {The taxi - hall dancers), Xã hội góc phố- cấu trúc
xã hội của một khu ổ chuột người gốc Italia
hội cỉtp một khu ổ chuột người gốc Italia c ủ a tác giả William Foote Whyte (Mỹ), ra đòi năm 1943, nghiên cứu cấu trúc xã hội dựa trên cơ sở lý thuyết cấu trúc - chức năng Qua ba năm rưỡi điền dã (1936-1940) ở khu phô' Boston được cho là “nguy hiểm và huyền bf’, nơi sinh sống của các băng nhóm tội phạm xã hội, tác giả chỉ ra các quan hệ xã hội của “thế giới ngầm” Ngoài luật pháp nhà nước, đồi sống của khu phô" này còn được điều chỉnh bằng những mỐì quan hệ và mạng lưói riêng trong đời sông xã hội Tác giả cũng nêu vấn đề làm thế nào để cộng đồng cư dân ố đây có thể hòa nhập vói khu vực^
đô thị trên thế giới nửa sau thế kỷ XX
Nửa sau thế kỷ XX, cách tiếp cận nghiên cứu theo hướng đề cao các đặc trưng vật thể của đô thị nêu trên đã
bị Herbert Gans (Mỹ) và R.E Pahl (Anh) bác bỏ Hai ông cho rằng, cách tiếp cận như vậy sẽ dẫn đến chủ nghĩa tự
1 Xem Nguyễn Vũ Hoàng: “Nhân học đô thị - vài tiếp cận trong
những nghiên cứu về phương Tây và Đông Nam Á”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, 2008, tr 61.
Trang 17nhiên, vì quy mô lớn, mật độ dân sô cao, sự khác biệt vê thành phần xã hội của đô thị là nguyên nhân, chứ không phải là hậu quả của các quá trình xã hội.
Năm 1970, Manuel Castell đưa ra luận thuyết môi về
Ồng coi đô thị là “một không gian cho sự tiêu dùng tập thể”, khẳng định tầm quan trọng của các phong trào xã hội ở đô thị, đưa ra quan điểm mác xít mối về tính tự trị tương đốì của nhà nước Những năm sau đó, Manuel Castell tiếp tục công bô" các công trình nghiên cứu như
Thành phố thông tin (The Information City, 1989), Xã hội thông tin và nhà nước phúc lợi - Mô hình Phần Lan (Sách viết chung, 2002) ông chỉ ra vai trò của cuộc cách mạng công nghệ thông tin đối vối nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và đặc biệt với sự phát triển của đô thị và phát triển vùng\
Bên cạnh đó, chủ để nghiên cứu văn hóa và biến đổi văn hóa do tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa và toàn cầu hóa, đặc biệt ỏ các nưốc đang phát triển cũng thu hút mạnh mẽ các nhà nghiên cứu.
hợp nghiên cứu ở Mêhicô về văn hóa nghèo của Osscar Lewis, nghiên cứu về biến đổi vàn hóa của những người dân di cư vào đô thị và vấn đề đói nghèo ở Mêhicô Tác giả chỉ rõ, để đốỉ phó vói cuộc sống mới nời đô thị, những ngưòi di cư phải thích nghi với điều kiện cuộc sống vật
1 Xem Trịnh Duy Luân; Xã hội học đô thị, Sđd, tr 22-23.
Trang 18chất thấp, thường có các mối quan hệ chặt chẽ với những
lúc khó khăn: quá trình đó được con cháu họ kế thừa một cách tự nhiên Trên cơ sỏ đó, tác giả đưa ra khái niệm môi 'Văn hóa của đói nghèo” và rút ra kết luận: đô thị hóa là một quá trình không đơn lẻ không đơn nhất và không có tính phổ quát mà là các quá trình khác biệt về cả hình thức và ý nghĩa, phụ thuộc vào các điểu kiện lịch sử, kinh
tế, xã hội và văn hóa cụ thể.
buôn và hoàng tử - Biến đổi về xã hội và hiện đại hóa kinh
tế của hai thị trấn ở Inđônêxia, nghiên cứu quá trình công nghiệp hóa ỏ thị trấn Modjokuto (thuộc đảo Java) - từ nền kinh tế buôn bán lẻ, trở thành những nhà máy và ỏ Tabana (đảo Bali) - từ nền tảng nông nghiệp đã thành khu thương mại, tác giả đưa ra nhận xét, những biến đổi vể văn hóa diễn ra theo nhiều con đưòng khác nhau, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và đặc thù của từng địa phương* Nghiên cứu này của Clifford Geertz có những đóng góp quan trọng vể mặt lý thuyết hiện đại hóa Trong khi các nhà kinh tế học cho rằng, hiện đại hóa là bước nhảy đột phá về chất, từ tình trạng trì trệ lên tăng trưởng kéo dài, thì Clifford Geertz cho rằng, quá trình đó chỉ diễn
ra từ từ, trong một khoảng thời gian và bằng những con đưồng riêng của các địa phương.
1 Xem Nguyễn Vũ Hoàng: “Nhân học đô thị - vài tiếp cận trong
những nghiên cứu về phương Tây và Đông Nam Á”, Tlđd, tr 62-63.
Trang 19Vài ba thập niên trỏ ]ại đây biến đổi văn hóa trỏ thành vấn đề toàn cầu ánh hưởng đến tất cả các nưóc là quá trình không thể “cưỡng lại” được Các nhà nhân học văn hóa, xã hội học văn hóa học đặc biệt hướng sự chú ý của mình vào biến đổi xã hội văn hóa trong thòi đại công nghệ thông tin và toàn cầu hóa.
Alvin Toffler đã chỉ ra nguyên nhân của những biến đổi văn hóa của các xã hội loài ngưồi từ trước tới nay là sự phát triển của lực lượng sản xuất, đặc biệt là của khoa học
kỹ thuật, công nghệ Tác giả dùng hình ảnh “làn sóng” để chỉ các nển văn minh mà loài người đã trải qua Làn sóng đầu tiên là sự ra đời của nông nghiệp và nền văn minh nông nghiệp Làn sóng thứ hai là công nghiệp hóa và sự ra đồi của nền văn minh công nghiệp Làn sóng thứ ba là nền văn minh hậu công nghiệp; con ngưòi chứng kiến sự hội nhập rộng rãi và phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học.
Loài người đang sống d thồi đại chuyển giao từ làn sóng thứ hai sang làn sóng thứ ba với những biểu hiện như khủng hoảng kinh tê mang tính toàn cầu, ô nhiễm môi trường, đại dương, khí quyển, nguồn tài nguyên cạn kiệt, bệnh AIDS trở thành hiểm họa của loài ngưòi, chiến tranh sắc tộc Mặt khác, ngành công nghệ thông tin, nền kinh tê tri thức cũng tạo nên một kiểu văn hóa tổ chức và hoạt động xã hội hoàn toàn khác Biểu hiện rõ nét nhất là ảnh hưởng của các “ngôi nhà điện tử” (những máy móc, thiết bị công nghệ thông tin cho phép con người có thể làm
Trang 20việc, điều khiển từ xa) đến hoạt động cộng đồng, tâm lý cá thế phương thức quản lý lao động, môi trường và nhiều vấn đề khác*.
Tìm hiểu môì quan hệ giữa văn hóa truyền thống vối quá trình phát triển, các tác giả Ronald Inglehart, Wayne E Baker (Đại học Michigan, Mỹ), đểu khẳng định sự trường tồn và vai trò quan trọng của các giá trị truyền thốhg trên bưốc đường phát triển của mỗi quốíc
đổi văn hóa và sự duy trì những giá trị văn hóa truyền thống dựa trên sô" liệu của Những cuộc khảo sát giá trị thế giới, được tiến hành trong ba đợt khảo sát (từ năm
1981 đến năm 1998), về những thái độ, giá trị và niềm tin, bao gồm 65 quốic gia, trên sáu lục địa, chiếm hơn 75% dân số thế giổi, vổi mục đích kiểm tra hai luận điểm trái ngược nhau:
+ Những nhà lý thuyết hiện đại hóa từ Karl Marx tói Daniel Bell đã cho rằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ dẫn tôi những biến đổi văn hóa phong phú ỏ các xã hội; những giá trị truyền thổhg đưỢc thay thế bằng những giá trị hiện đại và sẽ hội tụ xung quanh một tập hợp những
“giá trị hiện đại”.
+ Những ngưòi khác (như Samnuel Huntington) lại cho rằng, những giá trị văn hóa truyền thống có ảnh hưỏng lâu dài và “tự trị” lên xã hội.
1 Xem Alvin Toffler: L àn sóng thứ ba, Nxb Thông tin lý luận,
Hà Nội, 1992.
Trang 21Qua nghiên cứu, hai ông đã chỉ ra rằng, các nhà kinh điển về lý thuyết hiện đại hóa chỉ đúng một phần Sự thật
là, phát triển kinh tế và sự xuất hiện của khu vực công nghiệp đưa đến một cách nhìn nhận về thế giới mang tính thế tục - duy lý, nhưng các nhà kinh điển chưa tính đến di sản văn hóa xã hội Bằng chứng thực nghiệm từ 65 xã hội cho thấy, các giá trị truyền thông tồn tại lâu bền, bất chấp
sự biến đổi của kinh tế, chính trị và tiếp tục có ảnh hưởng đến sự phát triển.
Văn Uẩn (năm 2010)
Ngày nay, toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của nhân loại, nhò đó, một quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa diễn
phát triển trong hối cảnh toàn cầu hóa, tác giả Nguyễn Văn Dân đã nêu lại câu hỏi: có toàn cầu hóa văn hóa và văn hóa toàn cầu không? Đây là vấn đề đầu tiên cần giải quyết khi bàn về mối quan hệ giữa vàn hóa với phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa Tác giả khẳng định ý kiến của phần lón các học giả cho rằng, có toàn cầu hóa văn
Trang 22hóa: đồng thời phân tích cáo cơ sỏ dẫn đến toàn cầu hóa vê văn hóạ trong đó, toàn cầu hóa về kinh tê là yếu tô" quan trọng nhất; toàn cầu hóa về văn hóa là điều tất yếu nhưng
nó không xóa bỏ đa dạng về văn hóá.
trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập, tác giả Ngô Đức Thịnh khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của yếu tố văn hóạ trong đó có văn hóa truyền thông đôì vổi sự phát triển của các quốc gia trong thòi kỳ toàn cầu hóạ Bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia đóng vai trò như là nhân tố nội lực một động lực và là mục đích của sự phát triển Tác giả cũng cho rằng, chính từ góc độ chủ thể (tức con người và văn hóa) nên các con đường, các
mô hình biến đổi văn hóa mang tính đa dạng và diễn ra theo những mô hình khác nhaụ Chính văn hóa, thông qua những hệ giá trị được hình thành trong môi trường tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, có thể điều tiết sự biến đổi của xã hội và kinh tê của từng quốc giậ
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, hiểu biết một cách toàn diện và đầy đủ vể những giá trị văn hóa truyền thống của đất nước để bảo tồn và chủ động tham gia hội nhập là vấn để hết sức quan trọng.
1 Xem Nguyễn Văn Dân: Văn hóa và phát triển trong bôĩ cánh toàn cầu hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006.
2 Xem Ngô Đức Thịnh: Báo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập,
Nxb Khoa học xã hộị Hà Nội, 2010, tr 275-278.
Trang 23Tác phẩm Những giá trị văn hóa truyền thông Việt Nam
do tác giả Ngô Đức Thịnh chủ biên, trên cơ sở kế thừa kết quả của các nhà vản hóa học đi trưóc (Đào Duy Anh, Trần Văn Giàu ), các tác giả đã trình bày hệ giá trị văn hóa Việt Nam một cách hệ thống và đặt nó trong bối cảnh đất nước đã và đang hội nhập vối khu vực và thế giói Bên cạnh đó, tác phẩm còn phân tích các giá trị văn hóa thể hiện trong các lĩnh vực khác nhau của đòi sống
xã hội, đặc biệt trong cách thức tố chức, ứng xử xã hội, sáng tạo văn học - nghệ thuật, trong đòi sốhg văn hóa tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng’.
Những năm gần đây, quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ỏ nưốc ta, tác động đến cả hai khu vực đô thị và nông thôn, tạo nên sự biến đổi vô cùng sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xẵ hội, văn hóa, ìối sông Đô thị hóa kích thích tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống, làm đa dạng, phong phú đời sống văn hóa cho người dân, nhưng mặt trái cũng gây nên nhiều hệ lụy.
Trước hết ở khu vực đô thị, những dòng di dân lốn về các thành phô', đặc biệt là những thành phố lốn như Hà Nội và Thành phôT Hồ Chí Minh gây nên tình trạng quá tải thiếu việc làm, thiếu nhà ỏ, ô nhiễm môi trường, phân hóa giàu - nghèo, không gian công cộng bị lấn chiếm và nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa truyền thốhg do sự
1 Xem Ngô Đức Thịnh (Chủ biên): Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.
Trang 24hiện diện của nhiều tập đoàn kinh doanh nước ngoài Các nghiên cứu dưới đây phản ánh vấn đề nêu trên.
Công nghiệp hóa, đô thị hóa và toàn cầu hóa đã tạo ra cho Hà Nội một diện mạo mới Thành phố không những đưỢc md rộng ra các vùng ven đô theo chiều rộng mà còn phát triển theo chiều cao vối những khu đô thị cao tầng, khách sạn, nhà hàng, văn phòng cho thuê Trong nghiên cứu về “Đô thị hóa vùng ven Đông Nam Á: bỏ rđi không gian công cộng”, Mike Douglass (Mỹ) cung cấp cho người đọc về những biến chuyển mới trong văn hóa đô thị tại Việt Nam Đó là những khu đô thị mới như Phú Mỹ Hưng, Ciputra, Bắc An Khánh Khu đô thị Ciputra (Hà Nội) đã mở ra một phong cách, một lối sống mới thể hiện rất rõ qua biểu tượng mưòi sáu “chú ngựa” đang “cất cánh” (ở cổng khu đô thị), tưỢng trưng cho sự chuyển tiếp
từ lôi sông của cộng đồng cư dần nông nghiệp sang lối sống đô thị hiện đại Bên cạnh đó, tác giả cũng cảnh báo
về sự bỏ rơi những không gian công cộng, nơi diễn ra những giao tiếp xã hội của cư dân đô thị, do quá trình xây dựng các khu đô thị mói vối nhãn hiệu “toàn cầu” gây
ra ỏ các vùng ven'.
Chủ nhân của các khu đô thị mối cao cấp nêu trên là tầng lớp trung lưu mới xuất hiện trong thời kỳ công
1 Xem Mike Douglass: “Đô thị hóa vùng ven Đông Nam Á: bỏ
rơi không gian công cộng”, Kỷ yếu H ội thảo về “Các xu hướng đô thị hóa và đô thị hóa vùng ven ở Đông N am Á', Thành phô' Hồ Chí
Minh, 2008.
Trang 25nghiệp hóa đô thị hóa được phản ánh qua bài viết
“Những hình ảnh cúa tầng lớp trung lưu ỏ một thành phô" đang chuyển mình” của Lisa Drummond Họ sổhg trong những khu biệt thự sang trọng ven Hồ Tây, khu đô thị mới Trung Hòa - Nhân Chính Nhiều người còn có nhà nghỉ cuối tuần ỏ các làng quê cách trung tâm Hà Nội không xa, có lối sống mối, thể hiện qua phong cách tiêu thụ và hưởng thụ, mua sắm “hàng hiệu” trong những cửa hàng đắt tiền, đi thư giãn và sửa sang sắc đẹp*.
Khác với những khu đô thị cao cấp mói xây ỏ vùng ven - nơi đồng nhất giữa lốì sống của những người giàu có và những tòa nhà sang trọng; tại khu vực trung tâm, Hà Nội đang đánh mất bản sắc, dần trỏ thành thành phố “vô hồn” vôi những tòa nhà cao chọc tròi, còn xã hội thì phân hóa thành hai cực ngày càng lớn.
Trong bài viết “Hà Nội không thể là “sân khấu” cho các tập đoàn” tác giả Mike Douglass đã chỉ ra rằng, Hà Nội đang phát triển theo xu hưống chung của các thành phố trên thế giới, chú trọng phát triển kinh tế, song chưa phát triển theo hưống thân thiện và “sống tốt” cho cộng đồng Chính vì vậy, khoảng cách giàu - nghèo tại Hà Nội ngày càng lôn Bên cạnh những khu chung cư, biệt thự cao cấp
là những khu ổ chuột; một sô' ngưòi trở nên giàu có quá mức, trong khi đó, còn nhiều người sốhg trong cảnh khổ
1 Xem Lisa Drummond: “Những hình ảnh của tầng lớp trung
lưu ở một thành phố đang chuyển mình”, Kỷ yếu Hội thảo về “Các
xu hướng đô thị hóa và đô thị hóa vùng ven ở Đông N am Á”, Tlđd.
Trang 26cực: bộ mặt thành phố bị biến thành “sân khấu” do các lập đoàn kinh tế xuyên quổc gia khốhg chế Các không gian công cộng như vỉa hè, cây xanh, bến xe đang bị các tập đoàn này chiếm dụng Hà Nội đang đánh mất đi bản sắc văn hóa và trỏ nên ô nhiễm'.
Cùng đề cập đến vấn đề này, Lisa Drummond cho thấy
sự “thu hẹp” của các không gian công cộng trong thành phố qua bài viết “Hà Nội tiến nhanh về phía trưốc: Không gian công cộng trong thành phố không tưởng” Tác giả chỉ
ra rằng, nhiều không gian công của thành phô" (vỉa hè, quảng trưồng, công viên, vưòn hoa sân chơi ) được coi như máu của “cơ thể sống thành phố”, là “vương quốc” diễn ra các cuộc hội họp, trao đổi giao lưu của những ngưồi dân địa phương, hiện nay đang bị biến thành bãi đậu xe, nơi bán hàng và bị tư nhân chiếm dụng, những người nghèo không có điều kiện để hưỏng dụng những không gian này^.
Hà Nội thòi kỳ đô thị hóa còn xuất hiện những ngưòi nông dân từ nông thôn vào thành phô" đề kiếm sống bằng việc bán hàng rong Bài viết “Nền kinh tế hằng ngày: suy nghĩ lại về tính chất không chính thốhg ở Việt Nam”,
1 Xem Mike Douglass: “Hà Nội không thê là “sân khấu” cho các tập đoàn”, Kỷ yếu Hội thảo quôc tế “Hà Nội: Thành phô'thăn thiện
và sống tốt cho cộng đồnỷ’, Hà Nội, 2010.
2 Xem Lisa Drummond: Fast-forward Hanoi: Public space in the utopian city (Hà Nội tiến nhanh về phía trưổc: Không gian công cộng trong thành phô' không tưỏng), In Nguyên Xuan Long (Ed);
Hanoi 5000 Hoan Kiem lakes, Hanoi Publishing House, 2007.
Trang 27Timothy M Gorman (Mỹ) coi đó là hệ quả tất yếu của
đô thị hóa và đề xuất chính quyền thành phố nên sắp xếp công ăn việc làm, bô" trí nơi ở và quản lý họ, thay vì
áp dụng những biện pháp hành chính cứng nhắc như hiện nay.
ở mức độ khái quát hơn qua bài viết “Hà Nội: Một số^ biến đểi trong đdi sống và diện mạo đô thị hiện nay”, tác giả Trịnh Duy Luân cho thấy một Hà Nội đang biến đổi đầy năng động để hội nhập, không chỉ ỏ khu phô' cổ, khu phố Tây mà còn vươn xa về phía nam Tuy nhiên, ngưòi đọc không khỏi chạnh lòng khi biết, trong lòng Hà Nội vẫn tồn tại những mảnh đòi, những con người đang sông “lay lắt” tại các khu tập thể được xây từ những năm 60 của thế
kỷ trước đang xuống cấp nghiêm trọng’.
Đề cập đến quá trình biên đổi văn hóa đô thị nói
(năm 2008), tác giả Nguyễn Thanh Tuấn đã nêu lên sự biến đổi văn hóa tại các đô thị lớn (Huế", Thành phô" Hồ Chí Minh và Hà Nội) trong thòi kỳ đổi mới (biến đổi trong sinh hoạt, ăn mặc sứ dụng thòi gian nhàn rỗi, tiêu dùng, hưỏng thụ văn hóa sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng ) Tác giả cho rằng, văn hóa đô thị của ngưồi
Hà Nội được đặc trưng bởi nếp sông thanh lịch Tuy
1 Xem Trịnh Duy Luân: “Hà Nội: Một số biến đổi trong đòi
sống và diện mạo đô thị hiện nay”, in trong sách Nơi ở và cuộc sông của cư d án H à Nội, Nxb Văn hóa - Thông tm Hà Nội, 2000.
Trang 28nhiên, trong điểu kiện đất nưốc chuyển sang kinh tê thị trường và bước đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã mở rộng phạm vi biến đổi của lôi sông Thủ đô, trong đó có nếp sống thanh lịch, đòi hỏi phải mở rộng nội hàm, nhất là yếu tô" năng động’
Để hạn chế những hệ lụy xấu do đô thị hóa gây ra, những năm gần đây, các nhà khoa học thuộc nhiểu lĩnh vực khác nhau đã tập trung nghiên cứu lý thuyết, trưốc hết, nhằm đưa ra được những khái niệm mới, mô hình mới
tế Việt Nam học tại Hà Nội và Hội thảo về “Các xu hướng
đô thị hóa và đô thị hóa vùng ven ở Đông Nam Á” tổ chức tại Thành phô" Hồ Chí Minh tháng 12-2008 đã tập trung giải quyết vấn để nêu trên Các bài viết của Terry McGee, Michael Leaf, Đào Thế Tuấn, Nguyễn Phương Hà , đề xuất mô hình đô thị hóa “Desakota” tại Việt Nam Desakota là sự hình thành các đô thị kết hỢp với nông thôn, thúc đẩy nông thôn phát triển; đẩy mạnh đô thị hóa
ỏ các vùng nông thôn (thị xã, thị trấn) thay cho đô thị hóá tập trung ở các thành phô" lớn như hiện nay Mô hình này
đã thành công ở Hà Lan, Bắc Italia trước đây và hiện nay
ở Trung Quốc.
Tóm lại, qua những công trình nghiên cứu về văn hóa
đô thị và biến đổi văn hóa đồ thị trên thế giới và Việt Nam
1 Xem Nguyễn Thanh Tuấn: Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam,
Nxb Vàn hóa • Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội, 2006, tr 79.
Trang 29do tác động của công nghiệp hóa đô thị hóa có thể rút ra những nhận xét sau:
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình lịch sử lâu dài và tất yếu ở tất cả các tộc người, các quốc gia trên toàn thê giới; diễn ra mạnh mẽ vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX ở châu Âu và Mỹ, làm nảy sinh hàng loạt vấn đề xã hội, văn hóa cần giải quyết Đây cũng ìà “mảnh đất màu mở” lôi cuốh nhiêu nhà khoa học thuộc các lĩnh vực trên« • •
toàn thế giới, đặc biệt ìà khoa học xã hội.
- Trong nửa đầu thế kỷ XX những nghiên cứu về văn hóa và biến đổi văn hóa đô thị tập trung vào tìm hiểu, lý giải các mặt đời sống đô thị như cơ cấu và thiết chế xã hội, lối sốhg, nếp sống Phần lổn các nhà khoa học đã đưa ra những kết luận “định kiến đô thị”, cho rằng sự khác biệt
về khuôn mẫu tổ chức đô thị khác biệt vói nông thôn là nguyên nhân dẫn đến những biến đổi về xã hội, văn hóa của thị dân Điều này làm cho ngưòi ta lầm tưỏng rằng, các khuôn mẫu của đời sốhg đô thị là do chính các đô thị tạo ra, chứ không phải là hậu quả của các quá trình xã hội Bên cạnh đó,' các nhà khoa học mói chỉ chú ý nghiên cứu những mảng, riêng biệt của cđ cấu kinh tế và xã hội của các thành phô' mà chưa nghiên cứu chúng một cách tổng thể'.
Bước sang nửa sau thế ký XX, những thiếu sót trên đây đã được khắc phục Các nhà nghiên cứu về đô thị đã đưa ra một hướng tiếp cận mói, theo hưóng tổng thể, đô
1 Xem Trịnh Duy Luân: Xả hội học đỗ thị, Sđd, tr 21-22.
Trang 30thị được coi là “một không gian tiêu dùng tập thể”, các vấn đê quán lý đô thị, phong trào xâ hội ở đô thị đưỢc chú ý tới.
Một thành tựu lốn phải kể đến trong giai đoạn này là các nhà nghiên cứu đã chỉ ra được nguyên nhân chính của biến đổi văn hóa đô thị là do các yếu tố phát triển kinh tế,
cụ thể là công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa; khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học; chỉ ra quan hệ qua lại giữa phát triển kinh
tế và biến đổi văn hóa Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận biến đổi kinh tế sẽ dẫn đến biến đổi về ván hóa, nhất là ỏ các nưóc đang công nghiệp hóa Tuy nhiên, biến đổi văn hóa không diễn ra theo đưòng thẳng, một chiều, mà chịu
sự chi phối mạnh mẽ của các yếu tô" văn hóa truyền thống
và vai trò của các cộng đồng, các chủ thể trong sự lựa chọn
và tiếp biến văn hóa.
truyển thông và vai trò quan trọng của nó trong phát triển
đây khi cho rằng, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tất yếu dẫn tối biến đổi giá trị văn hóa truyền thống và thay thế bằng những giá trị văn hóa hiện đại mà các nước tư bản ở châu Âu và Mỹ là “hình mẫu” Đây là đóng góp mối mang tính lý luận và thực tiễn của các nhà khoa học hiện nay khi xem xét, nhìn nhận về xu hướng biến đổi của văn hóa
đô thị và văn hóa của các tộc ngưòi, các quốc gia trên toàn thế giới trong bối cảnh công nghiệp hóa - đô thị hóa và toàn cầu hóa.
Trang 31Ngày nay, vãn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau, trong đó vãn hóa trỏ thành mục tiêu, động lực
và điều tiết phát triển kinh tế Phát huy vai trò của vãn hóa truyền thống trong công cuộc phát triển còn là đích hưống tới của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới Tổng Thư ký UNESCO F Mayor đã phát biểu trong Tuyên bố
(UNESCO);
“Kinh nghiệm của hai thập kỷ qua cho thấy rằng, trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển kinh tế nào hoặc theo xu hướng chính trị nào, văn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thi nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều Một sự phát triển chân chính đòi hỏi phải sử dụng một cách tối ưu nhân lực và vật lực của mỗi cộng đồng Vi vậy, phân tích đến cùng, các trọng tâm, các động lực và các mục đích của phát triển phải được tim trong văn hóa , Từ nay trở đi, văn hóa cần coi minh ỉà nguồn bổ sung trực tiếp cho phát triển và ngược lại phát triển cần thừa nhận văn hóa giữ một vị trí trung tăm, một vai trò điều tiết xã hội :»1
1 ủy ban quốc gia vê' Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa: ThẠp
kỷ th ế giới phát triển văn hóa, Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao,
Hà Nội, 1992, tr 23.
Trang 32Tại Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ tạo ra những biến đổi lớn về xã hội, văn hóa Để không mắc sai lầm như một sô quôc gia
đi trưóc, Việt Nam cần giải quyết tốt môì quan hệ giữa phát triển và bảo tồn, giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống.
II- Cơ SỞ LÝ THUYẾT VỂ BIẾN Đổl XÃ HỘI, VĂN HÓA
ở Mỹ, đô thị là một khu cư trú có từ 2.500 ngưòi trở lên, hay một vùng được đô thị hóa có sô' dân không dưới 50.000 ngưòi.
Ó Braxin, chỉ có thủ đô mới được coi là đô thị 0 Nam Phi, ngoài sô" dân, một điểm dán cư được gọi là đô thị còn tùy thuộc vào chủng tộc’.
ở Việt Nam, Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 5-10-
2001 của Chính phủ vể phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị như sau:
+ Về cấp quản lý, đô thị là thành phố, thị xã, thị
1 Xem Trịnh Duy Luân: Xã hội học đô thị, Sđd, tr 25.
Trang 33trấn, được cơ quan nhà nưốc có thẩm quyển quyết định thành lập.
+ về trình độ phát triển, đô thị phải đạt những tiêu chuẩn sau:
thúc đẩy sự phát triển kinh tê - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ.
• Đốỉ với khu vực nội thành phô thị xã, thị trấn, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng sô" lao động.
• Cơ sở hạ tần g phục vụ các h o ạt động của cư dần tối
thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng cho từng loại đô thị.
tốì thiểu phải đạt 2.000 ngưòi/km^.
- Đô thị hóa được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau: + Tiếp cận nhân khẩu học và địa lý kinh tế coi đô thị hóa là sự di dân từ nông thôn vào thành thị, tập trung ngày càng nhiều cư dân sôVig trong những “vùng lãnh thổ hạn chế'’ (các đô thị) Đó cũng là quá trình gia tăng
Dâ'u hiệu định lượng này (tỷ lệ phần trăm sô" dân đô thị trên tổng sô' dân) nhiều khi được xem là dấu hiệu duy nhất để đánh giá trình độ (mức độ) đô thị hóa của một quốc gia hay một khu vực Cách tiếp cận này không giải thích được toàn bộ tầm quan trọng, vai trò của đô thị hóa, cũng như ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của xã hội hiện đại.
Trang 34+ Tiếp cận xã hội học đô thị coi đô thị hóa là quá trình
tô chức lại không gian hay môi trưòng cư trú của con ngưồi, được nghiên cứu cả về định lượng và định tính:
• Về dân sô", địa lý, môi trường: là sự thay đổi phân bố dân cư trong xã hội.
kiểu mẫu (patterns) của đòi sốhg xã hội (sự phổ biến và lan truyền những khuôn mẫu hành vi ứng xử, vốh đặc trưng cho người dân đô thị, hay lôì sống đô thị)'.
+ Tiếp cận nhân học đô thị coi đô thị hóa là một quá trình phát triển kinh tê và xã hội, biến một vùng dân cư không có cuộc sông đô thị thành một vùng dân cư thuộc tính của xã hội đô thị; văn hoá và cách ứng xử đô thị dần dần bao trùm lên và làm “tan biến” dần văn hóa và ứng xử truyền thốhg nông thôn.
Khái niệm đô thị hóa dưới góc độ dân tộc học/nhân học
1 Xem Trịnh Duy Luân: Xã hội học đô thị, Sđd, tr 69-70.
2 Xem Mạc Đường: Dân tộc học đô thị và vấn đ ề đô thị hóa,
Nxb Trẻ, Thành phô' Hồ Chí Minh, 2002, tr 115-116.
Trang 35Như vậy, dựa trên tông hỢp các định nghĩa, các liếp
cận, đô thị hóa đưỢc hiểu theo ba nghĩa sau đây:
+ Đô thị hóa là sự mỏ rộng của đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng sô" dân hay diện tích của một vùng, một khu vực Tính theo cách thứ nhất còn được gọi là mức độ đô thị hóa; theo cách thứ hai gọi là tốc độ đô thị hóa Đô thị hóa
là quá trình phát triển rộng rãi lối sông thị thành, thể hiện qua các mặt số lượng và mật độ dân số, chất lượng cuộc sông.
+ Đô thị hóa theo nghĩa hẹp là quá trình chuyển dịch dân cư từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp, vối biểu hiện bên ngoài như sự tăng trưỏng tỷ lệ dân cư đô thị, sự nâng cao mức độ trang bị kỹ thuật của thành phô", sự xuất hiện của các thành phô" mối.
+ Hiểu một cách khái quát, đô thị hóa là một quá trình diễn thể kinh tế - xã hội - văn hóa - không gian, gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp môi, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đồi sống văn hóa, sự chuyển đổi lốì sốhg và sự mở rộng không gian thành hệ thống đô thị song song vối việc tổ chức bộ máy hành chính và quân sự’.
1 Xem ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Sở Khoa học -
Công nghệ và Môi trường, Trung tâm điều tra cơ bản: B áo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu, điều tra quá trinh đô thị hóa từ làng - xã thành phường của H à Nội, những tồn tại và các giái pháp khắc phục, Hà Nội, 2001, q I, tr 12.
Trang 36- Đô thị hóa làng, xã
chuyển dịch dân cư từ lĩnh vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp và đi kèm vói nó là sự hình thành các điểm dân cư
đô thị mới (thành phô', thị trấn, thị tứ), hoặc sự mỏ rộng các đô thị lón ra vùng nông thôn.
ven đô đưỢc chuyển thành phường do sự mỏ rộng của nội
đô Làng từ chỗ là bộ phận thuộc đơn vỊ hành chính cấp cơ
sở ỏ nông thôn (xâ) chuyển sang thuộc đơn vỊ hành chính cấp cơ sỏ ở đô thị (phưòng) Nông dân buộc phải trỏ thành thị dân, chuyển sang các nghề phi nông nghiệp do bị thu
hồi đất.
- Biến đổi xã hội«
Biến đổi xã hội hiểu theo nghĩa chung nhất, là quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xă hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thốhg phân
tầng xã hội đưỢc thay đổi theo thòi gian.
Biến đổi xã hội do tác động của công nghiệp hóa, hiện
đ ạ i h ó a v à đ ô t h ị h ó a là sự thay đổi trong t ấ t cả các lĩnh vực của đòi sống xã hội và cá nhân, trong đó có các quan
hệ xã hội, các mô hình hành vi và ứng xử tướng ứng vôi các điều kiện sốhg công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô
th ị h ó a’.
- Biến đổi văn hóa
Biến đổi văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng, là quá
1 Xem Trịnh Duy Luân: Xã hội học đô thị, Sđd, tr 80.
Trang 37trình vận động của tất cả các xã hội', gồm cá biến đổi xã hội; theo nghĩa hẹp là những thay đổi của các di tích thò cúng, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, phong tục ở những làng quê được chuyển thành phường do tác động của đô thị hóa.
- Lối sống
vi, ứng xử của các cá nhân, các nhóm xã hội, trong hoàn cảnh, điều kiện sông cụ thể^.
- Lối sống đô thị
thị Mỹ Louis Wirth đã định nghía về lối sống đô thị như là
“các khuôn mẫu” (patterns) của văn hóa và cấu trúc xã hội đặc trưng d các đô thị, căn bản khác với văn hóa của các cộng đồng nông thôn.
Theo L.Wirth, người dân đô thị tiếp xúc với nhau trong các vai trò bị cắt ròi; họ có công việc chuyên môn hóa cao; những biểu tượng, vai trò, công việc và đặc biệt là địa vị
xã hội của họ cực kỳ quan trọng; những cơ chế kiểm soát
xã hội chính thức quan trọng hdn cơ chế không chính thức; các nhóm thân tộc và gia đình giữ vai trò kém quan trọng
rơi vào tình trạng “thiếu chuẩn mực”; họ là những con người có quan hệ hòi hợt, ngắn hạn, ẩn danh, tách biệt vói những ngưòi xung quanh.
1 Xem Nguyễn Thị Phương Châm: Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2009, tr 9.
2 Xem Trịnh Duy Luân: Xã hội học đô thị, Sđd, tr 129.
Trang 38Những quan điểm trên vể đời sống đô thị của L Wirlh
bị phê phán gay gắt Nhiều nhà khoa học cho rằng, đặc điểm của lốì sốhg đô thị do L Wirth nêu ra chỉ đúng với những đô thị lớn và ỏ Chicago những năm 1920-1930.
+ Quan điểm thành phần: nhìn thành phô" như là “một thế giôi xã hội” được tạo nên từ những nhóm khác nhau; mỗi nhóm có một sô" cơ sở chung như họ hàng, nguồn gốc sắc tộc, giai cấp xã hội, hàng xóm Ví dụ, những người nhập cư đến các thành phô" lón không bị mất đi các quan
hệ xã hội, mà vẫn duy trì những quan hệ này để giúp đối phó với sức ép đòi sống đô thị.
+ Quan điểm phân hệ văn hóa của Claude Fischer: là
sự kết hợp hai quan điểm nêu trên khi cho rằng, mật độ dân số lốn, thành phần hỗn tạp của đô thị có ảnh hưỏng đến cấu trúc và sức mạnh của các nhóm xã hội, nhưng nó không phá hủy sự liên kết của các nhóm phụ, mà còn củng
cố và làm tăng tầm ảnh hưỗng của chúng (ví dụ: ỏ đô thị
có những nhóm ngưồi thuận tay trái).
Những nét đặc trưng của lốì sốhg đô thị phụ thuộc vào trình độ phát triển và mức độ đô thị hóa của mỗi quốc gia Đối với các xã hội đang phát triển, mức độ đô thị hóa thấp, sự khác biệt giữa nông thôn và đô thị còn khá lôn như ở nước ta thì những đặc trưng của lối sống là cái phân biệt giữa khuôn mẫu của đòi sống đô thị và đồi sống nông thôn.
+ Đặc trưng của lốì sốhg đô thị của các nước đang phát triển:
• Tính cớ động nghề nghiệp - xã hội và không gian xã
Trang 39hội cao (khả năng chuyến đổi nghê nghiệp, thay đổi chỗ ở thăng tiến xã hội).
vụ công cộng.
• Phạm vi giao tiếp rộng với cường độ cao, tính ẩn danh trong giao tiếp, suy giảm các giao tiếp truyền thống, tăng cường giao tiếp thứ cấp, sự khoan dung với những
nhu cầu nghề nghiệp và thông tin đòi hỏi.
• Việc sử dụng thời gian rỗi rất đa dạng, góp phần phát triển nhân cách, cá tính, tự do cá nhân.
• Tính tích cực xã hội, ý thức công dân và các hoạt động xã hội của cá nhân được khuyên khích.
+ Lối sống đô thị Việt Nam: mang những đặc trưng chung của các nước đang phát triển nói trên, tuy nhiên còn phụ thuộc vào thời gian, không gian và điều kiện cụ thể Các nhân tố tác động mạnh nhất đến lốì sống đô thị Việt Nam từ năm 1986 đến nay là nền kinh tế thị trường, chính sách mở cửa và quá trình toàn cầu hóa Nền kinh tế thị trường có sức thẩm thấu nhanh, đặc biệt là ở các đô thị lớn, làm biến chuyển kết cấu nghề nghiệp - xã hội, mức sốhg vật chất và tinh thần, từ đó làm thay đổi lối sống và khuôn mẫu hành vi ứng xử của các nhóm xã hội (cụ thể là thay đổi mô hình ứng xử, các quan niệm, các định hướng giá trị) Đây gọi là quá trình “thị dân hóa” lốì sống Còn quá trình toàn cầu hóa tạo điều kiện du nhập nhiều yếu tố của lối sống bên ngoài.
Trang 40Nền kinh tế thị trường với những kích thích tính năng động của cá nhân và xã hội, tính linh hoạt, hoạt động có hiệu quả, mặt khác làm nảy sinh lối sống tiêu dùng, chủ nghĩa cá nhân thực dụng Trong khi đó, những yếu tố mang nội dung nhân văn, nhân bản, ván minh của các giá trị văn hóa truyền thông và hiện đại lại chưa bén rễ sâu chắc trong lối sống đô thị Việt Nam Tình hình đó dẫn đến một lối sống đô thị “quá độ”, pha tạp, pha trộn trong việc tiếp thu và phổ biến các chuẩn mực khác nhau trong đòi sống, chuẩn mực xã hội đô thị Việt Nam Ngoài ra các yếu tô" khác như hệ thống quản lý, ý thức pháp luật, tính chất phức tạp về nguồn gốc xã hội của các thành phần cư dân cũng ảnh hưỏng đến lốĩ sống đô thị Việt Nam Tuy nhiên,
có thể nêu lên một số đặc trưng về lối sống đô thị Việt Nam hiện nay, đó là: duy lý, năng động, tích cực, thích ứng linh hoạt hơn với biến động của hoàn cảnh Ví dụ, thanh niên đã không còn câu nệ vào con đường làm việc và thăng tiến trong các cơ quan nhà nước như thời bao cấp,
mà đã phát huy khả năng ra môi trưòng sản xuất kinh doanh bên ngoài; với quan niệm khẩu hiệu “phải biết làm giàu chính đáng” hay “dân có giàu, nưốc mối mạnh” , dân chúng đã thoát khỏi sự ỷ lại, tính “an phận”, trì trệ của thòi bao cấp\
công nghiệp, xã hội tiền tư bản): là xã hội gắn liền với sản xuất nông nghiệp, thủ cồng nghiệp và buôn bán nhỏ.
1 Xem Trịnh Duy Luân: Xã hội học đô thị, Sđd, tr 129-137.