1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÁP LUẬT về KINH DOANH LOGISTICS và QUẢN lí CHUỖI CUNG ỨNG NHỮNG vấn đề lý LUẬN về hợp ĐỒNG MUA bán HÀNG hóa

25 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 242,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HĐDV logistics là một hợp đồng phức tạp với một chuỗi các dịch vụ gắn liền với quyền lợi và trách nhiệm của các bên, phí dịch vụ, thời điểm dịch chuyển rủi ro, các trường hợp miễn trách

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TÌM HIỂU VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Giáo viên hướng dẫn: Vũ Quang Đức Sinh viên thực hiện: Lương Minh Hiếu

Mã sinh viên : A40633

Số điện thoại: 0829316195 Email: hieuxoan1205@gmail.com

HÀ NỘI – 2022

Trang 2

Mục Lục

LỜI MỞ ĐẦU 2

I NHỮNG VẪN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ LOGISTICS 3

1 Khái niệm dịch vụ logistics 3

2 Khái niệm hợp đồng Logistics 4

3 Đặc điểm cơ bản của hợp đồng dịch vụ logistics 5

_ Thứ nhất: HĐDV logistics là hợp đồng song vụ, hợp đồng ưng thuận và mang tính chất đền bù 5

II NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 7

1 Khái niệm cơ bản 7

1.1 Mua bán hàng hóa là gì? 7

1.2 khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại 7

2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa 8

3 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa 12

4 Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa 13

4.1 Những vấn đề về hình thức và ngôn ngữ hợp đồng mua bán hàng hóa doanh nghiệp cần lưu ý trong quá trình soạn thảo, ký kết 13

4.2 Những vấn đề về thẩm quyền ký kết của hợp đồng mua bán hàng hóa doanh nghiệp cần lưu ý 14

4.3 Những vấn đề về nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa doanh nghiệp cần lưu ý 15

5 Rủi ro có thể xảy ra trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa 17

III MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA.22 KẾT LUẬN 23

PHỤ LỤC 24

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Hợp đồng là sự thỏa thuận, thống nhất về ý chí, quan điểm giữa các cá nhâncũng như các tổ chức để từ đó làm căn cứ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các

quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong giao dịch Hợp đồng là những tiền đề

pháp lý góp phần tạo nên sự vận động linh hoạt của các giá trị vật chất trong xã hội

Vì thế, trong hệ thống pháp luật của Việt Nam cũng như bất kỳ quốc gia nào, luật

hợp đồng luôn luôn được xếp vào vị trí quan trọng bậc nhất Trong các giao dịch,

trao đổi trong cuộc sống xã hội, từ các hoạt động thương mại, mua bán hay chỉ là để

đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, hầu hết đều có sự hiện diện

của hợp đồng Hiện nay, trong chế định hợp đồng thì vấn đề về Hợp đồng quản lí là

một vấn đề nóng hổi được rất nhiều người quan tâm Các quy định của vấn đề này

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể tham gia hợp đồng cũng như

bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng,xã hội Thế nên nó phải được xây dựng hợp lý,công bằng, cân đối giữa nghĩa vụ và quyền, lợi ích của các chủ thể hợp đồng cũng

như của cộng đồng, Nhà nước nói chung Hợp đồng mua bán hàng hóa được hiểu là

một dạng thỏa thuận giữa bên bán và bên mua, trong đó bên bán có trách nhiệm

chuyển hàng hóa cùng quyền sở hữu đối với hàng hóa đó cho bên mua và được

hưởng lợi ích hoặc thanh toán từ bên mua Ngược lại, bên mua có nghĩa vụ nhận

hàng hóa và thực hiện việc thanh toán hoặc chuyển giao lợi ích tương đương cho

bên bán hàng theo phương thức, địa điểm và thời gian đã được thỏa thuận Hiện nay,

đây là loại hợp đồng phổ biến nhất trong và chiếm một phần rất quan trọng trong

hoạt động kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp Để hợp đồng được thực hiện một

cách đảm bảo quyền lợi của mình và tuân thủ pháp luật, nhiều doanh nghiệp phải tốnnhiều chi phí cho các dịch vụ tư vấn pháp lý bên ngoài Điều này dẫn đến doanh

nghiệp hoàn toàn bị động trước những rủi ro phát sinh từ các thỏa thuận trong quan

hệ mua bán hàng hóa Do đó, việc trang bị một số kiến thức cơ bản về hợp đồng

mua bán hàng hóa về hình thức và nội dung trong quá trình soạn thảo và ký kết là

cần thiết mà mỗi doanh nghiệp cần phải lưu ý Bài tiểu luận này sẽ làm rõ các vẫn

đề về hợp đồng mua bán hàng hóa

Trang 4

I NHỮNG VẪN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ LOGISTICS

1 Khái niệm dịch vụ logistics

- Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiệnmột hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan,các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc cácdịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao Dịch vụlogistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ Lô-gi-stíc

- Quan hệ kinh doanh dịch vụ logistics được xác lập và thực hiện thông qua hình thứcpháp lý chủ yếu là hợp đồng Đây cũng là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp nếu có phátsinh Một hợp đồng được soạn thảo chặt chẽ giúp cho doanh nghiệp tránh được nhiều rủi ro, bất lợitrong quá trình thực hiện Ở Việt Nam, các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến việc soạn thảohợp đồng, trừ một vài doanh nghiệp lớn Hầu hết các doanh nghiệp trước khi ký một hợp đồng nào

đó thường vào mạng internet tìm một vài hợp đồng mẫu mà không biết rằng không có một hợp đồngchuẩn mực nào cho mọi mối quan hệ trong kinh doanh Vì thế khi tranh chấp xảy ra, doanh nghiệpgặp rất nhiều bất lợi do hợp đồng quy định không đúng hoặc không đầy đủ, chưa kể đến việc đối tác

có thể lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bên còn lại để đưa vào những điều khoản có lợi cho bên họ màbất lợi cho bên kia

2 Khái niệm hợp đồng Logistics

- Trong cuốn sách “Global Logistics and Supply Chain Management” của nhóm tác giảJohn Mangan, Chandra Lalwani, Tim Butcher and Rouya Javadpour chỉ ra rằng: Những thập niêngần đây, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến xu hướng thuê ngoài dịch vụ logistics (Outsourcing oflogistics services) của các công ty tăng nhanh Họ tập trung vào các hoạt động cốt lõi và từ bỏphương thức giao nhận tự cung tự cấp (own-account transportation) mà chuyển giao việc này chobên thứ 3 (third party transportation) Xu hướng mới này làm tăng loại hình các công ty hoạt độngdịch vụ như vậy và người ta gọi đó là các nhà cung cấp dịch vụ logistics- LSPs (logistics serviceproviders) Cuốn sách nêu lên sự khác biệt giữa LSPs và 3PLs 3PLs: Third party logisticscompanies (Các công ty dịch vụ logistics bên thứ 3) thậm chí cũng có thể là 4PL, 5PL khi 3PL pháttriển ở mức độ cao hơn cùng với việc ứng dụng sự phát triển của thương mại điện tử) Các công tylogistics 3PLs giống như DHL, UPS, Kuehne+Nagels là những công ty giao nhận cung cấp nhiềudịch vụ tích hợp được gọi là công ty dịch vụ

Trang 5

logistics bên thứ 3- 3PL).Sự khác biệt giữa LSPs và 3PLs: LSPs cung cấp mộthoặc nhiều các dịch vụ logistics LSPs có thể là các hãng vận chuyển hoặc cáccông ty giao nhận Khi các công ty này đảm nhận hoạt động tích hợp nhiều dịch

vụ trong chuỗilogistics thì được gọi là 3PLs Như vậy, 3PLs là LSPs tích hợp chuỗi logistics LSPs

có thể là 1PL, 2PL, 3PL, 4PL, 5PL trong tổng thể ngành logistics Chuỗi dịch vụlogistics bao gồm các hoạt động dưới đây không giới hạn như: Vận tải, kho bãi,nhận hàng và đóng gói, quản lý tồn kho, khai hải quan, quản lý tài chính thươngmại Hợp đồng mà các công ty 3PL ký kết thực hiện các dịch vụ logistics tích hợp

đó gọi là Hợp đồng Dịch Vụ Logistics

Khái quát lại HĐDV Logistics là sự thỏa thuận giữa một bên cung cấp dịch vụ và một bên là khách hàng, theo đó bên cung cấp dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện tích hợp một hoặc nhiều dịch vụ trong chuỗi cung ứng logistics bao gồm việc nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác,

tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa, còn bên kia (khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán phí dịch vụ.

3 Đặc điểm cơ bản của hợp đồng dịch vụ logistics

_ Thứ nhất: HĐDV logistics là hợp đồng song vụ, hợp đồng ưng thuận và mang tính chất đền bù.

Dịch vụ logistics được thực hiện trên cơ sở hợp đồng song vụ có tính đền bù Đây là

sự thỏa thuận giữa hai bên chủ thể, là sự thống nhất ý chí được thể hiện ra bên ngoàitrên cơ sở bình đẳng về địa vị pháp lý, tức là các bên có quyền ngang nhau trong quátrình đàm phán đi đến thống nhất quyền và nghĩa vụ của mình Bên cung ứng và bên

sử dụng dịch vụ có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau theo thỏa thuận.Trường hợp một bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bên còn lại có quyền hoãn thựchiện nghĩa vụ tương ứng Đặc trưng cơ bản của hợp đồng song vụ là chủ thể nàythực hiện nghĩa vụ là cơ sở để chủ thể còn lại thực hiện nghĩa vụ tương ứng đã thỏathuận trong hợp đồng Ví dụ, hợp đồng quy định bên A có nghĩa vụ vận chuyểnhàng cho bên B từ điểm X đến điểm Y do bên B chỉ định Tại điểm Y, sau khi đãnhận hàng đầy đủ, bên B phải trả tiền vận chuyển cho bên A (nghĩa vụ của bên A đãhoàn thành làm phát sinh nghĩa vụ tương ứng (nghĩa vụ trả tiền của bên B) Tùythuộc vào mức độ sử dụng dịch vụ của khách hàng, nội dung hợp đồng có thể đơngiản hoặc phức tạp

Tính đền bù trong HĐDV logistics được thể hiện ở chỗ: Bên sử dụng dịch vụ phảitrả tiền phí dịch vụ cho bên cung cấp dịch vụ Phí dịch vụ do các bên thỏa thuận

Trang 7

thể là thanh toán tạm ứng trước, trả tiền ngay sau khi bên cung ứng hoàn thành nghĩa

vụ hoặc sau 60 ngày kể từ ngày bên cung ứng hoàn thành nghĩa vụ… Trường hợp bên

sử dụng dịch vụ không trả tiền dịch vụ được coi là vi phạm nghĩa vụ Khi có vi phạm

nghĩa vụ, bên sử dụng dịch vụ có thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đã vi phạm và/hoặc

bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận trong hợp đồng (thường là phạt lãi chậm thanh toán

hoặc bên cung ứng tạm dừng nghĩa vụ cung cấp dịch vụ của mình) Ví dụ, hợp đồng

quy định: Định kỳ 25 hàng tháng hai bên có nghĩa vụ lập bảng công nợ trong tháng đó,

bên cung cấp dịch vụ xuất hóa đơn đỏ gửi cho bên sử dụng dịch vụ Sau thời hạn 60

ngày kể từ ngày hóa đơn, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ trả tiền dịch vụ cho bên

cung cấp dịch vụ Quá thời hạn này, bên cung cấp dịch vụ có quyền dừng việc cung cấp

dịch vụ, cụ thể là dừng việc vận chuyển hàng, tạm giữ không giao hàng, tính lãi phạt số

tiền chậm trả theo thỏa thuận trong hợp đồng

_ Thứ hai: Chủ thể của hợp đồng.

Bên làm dịch vụ phải là doanh nghiệp, còn khách hàng có thể là doanh nghiệp hoặc

là cá nhân Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics bao gồm tổ chức kinh tế được

thành lập hợp pháp, hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có

đăng ký kinh doanh Hoạt động logistics là dịch vụ kinh doanh có điều kiện, do đó

thương nhân kinh doanh dịch vụ này, tùy từng loại dịch vụ sẽ có các điều kiện kinh

doanh khác nhau Ví dụ, thương nhân thành lập công ty đại lý hải quan thì phải có

chứng chỉ đại lý hải quan, thương nhân kinh doanh dịch vụ kho bãi thì phải tuân thủ

các điều kiện về kho bãi, thương nhân kinh doanh dịch vụ vận chuyển phải tuân thủ

các quy định về vận chuyển Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải thỏa

mãn một số điều kiện theo quy định tại Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày

30/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về điều kiện

kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh

doanh dịch vụ logistics Chủ thể có thể một bên là pháp nhân nước ngoài trong

trường hợp bên thuê dịch vụ logistics sử dụng dịch vụ của các đối tác nước ngoài

_Thứ ba: Đối tượng của hợp đồng dịch vụ logistics.

Đối tượng của HĐDV logistics trước hết là một loại dịch vụ, mà dịch vụ là một sản

phẩm vô hình, không tồn tại dưới dạng vật chất, khó xác định dịch vụ bằng những

chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hóa Luật Thương mại không quy định về đối tượng

dịch vụ mà tìm thấy trong Bộ luật Dân sự 2005, điều 519: Đối tượng của HĐDV là

một công việc có thể thực hiện được, không thuộc danh mục dịch vụ cấm kinh

doanh

Đối tượng của HĐDV logistics là dịch vụ gắn liền với hoạt động mua bán, vận

chuyển hàng hóa như: tổ chức việc vận chuyển hàng hóa, giao hàng hóa cho người

vận chuyển, làm các thủ tục giấy tờ cần thiết để vận chuyển hàng hóa là các dịch vụ

được Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định chi

Trang 8

tiết thi hành Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn

trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

_Thứ tư: Hình thức của hợp đồng dịch vụ logistics.

Vì tính chất phức tạp của dịch vụ logistics mà thực tế HĐDV logistics bắt buộc phải

bằng văn bản HĐDV logistics là một hợp đồng phức tạp với một chuỗi các dịch vụ

gắn liền với quyền lợi và trách nhiệm của các bên, phí dịch vụ, thời điểm dịch

chuyển rủi ro, các trường hợp miễn trách của người chuyên chở, các văn bản quy

phạm pháp luật có liên quan có quy định bắt buộc hợp đồng phải được lập bằng văn

bản Nếu không tuân thủ điều kiện về hình thức này thì hợp đồng có thể bị vô hiệu,

hoặc khi có tranh chấp xảy ra các bên không có căn cứ pháp lý để giải quyết

_Thứ năm: Nội dung của hợp đồng dịch vụ logistics.

HĐDV logistics là toàn bộ các điều khoản mà các bên đã giao kết trên cơ sở tự

nguyện, tự do ý chí, dựa trên các quy định của pháp luật

1.1 Mua bán hàng hóa là gì?

_ Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng,chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toáncho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận

1.2 khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại

_ Tự do hợp đồng là một tư tưởng mà theo đó các cá nhân được quyền tự do thỏa thuậngiữa họ với nhau về các điều kiện của hợp đồng, không có sự can thiệp của chính quyền Do đó, hợpđồng được xem là sản phẩm của ý chí được hình thành từ lợi ích của các bên tham gia giao kết Hợpđồng là hình thức pháp lý chủ yếu để ghi nhận việc thiết lập các quan hệ kinh tế, quan hệ dân sựtrong nền kinh tế thị trường

_Sự ra đời của Luật Thương mại năm 2005 là sự khởi đầu hình thành một kháiniệm mới trong thực tiễn kinh doanh - khái niệm “hợp đồng thương mại” Trong

khoa học pháp lý, cũng có ý kiến cho rằng không nên sử dụng khái niệm này do lo

ngại dẫn đến hệ quả không cần thiết, đó là sự mất công tym kiếm điểm khác biệt

Trang 9

giữa hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự Song trong thực tiễn kinh doanh

hiện nay, khái niệm này vẫn được sử dụng khá phổ biến với ý nghĩa là “hợp đồng

trong hoạt động thương mại” Có thể thấy rằng, khái niệm “hợp đồng thương mại”

vẫn tồn tại trong đời sống kinh tế, pháp lý với ý nghĩa là hợp đồng hình thành trong

lĩnh vực thương mại

Hợp đồng mua bím hàng hóa là một trong những loại hợp đồng thương mại về lý

luận, hợp đồng thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự và hợp đồng

mua bán hàng hóa trong thương mại cũng là một loại hợp đồng mua bán tài sản Tuy

nhiên, hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương

mại nói riêng có những đặc thù riêng biệt khác với hợp đồng dân sự và hợp đồng

mua bán tài sản Các văn bản pháp luật hiện hành ở Việt Nam không định nghĩa về

hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng dựa trên khái niệm chung về hợp đồng dân sự,

hợp đồng mua bán tài sản (Theo Điều 385 Bộ luật dân sự năm 2015 thì hợp đồng

dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền

và nghĩa vụ dân sự Điều 430: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các

bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền

cho bên bán) và khái niệm mua bán hàng hóa quy định tại Luật Thương mại năm

2005 có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại (gọi

chung là hợp đồng mua bán hàng hóa) như sau: “Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự

thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bản có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở

hữu hàng hóa cho bên mua

và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và

quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”.

2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa

_Hợp đồng mua bán hàng hóa có bím chất giống như hợp đồng mua bán tài sản,đều

là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ pháp lý giữa các

bên, cụ thể là: bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản/hàng hóa cho bên mua và nhận

thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán và có quyền sở hữu đối với tài sản/hàng

hóa đã mua

Bên cạnh đó, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại còn được nhận diện qua

những dấu hiệu riêng sau:

Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân.Chủ thể

hợp đồng là các bên giao kết và thực hiện hợp đồng Một bên chủ thể của hợp đồng

mua bán hàng hóa phải là thương nhân Chủ thể còn lại của hợp đồng mua bán hàng

hóa là thương nhân hoặc có thể không phải là thương nhân

Đặc điểm về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là điểm khác

biệt với chủ thể hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự Theo quy định của Bộ luật dân

sự thì chủ thể hợp đồng mua bán tài sản là cá nhân có năng lực hành vi dân sự

Trang 10

đầy đủ, hộ gia đình, tổ hợp tác, pháp nhân thương mại, pháp nhân phi thương mại

(cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị; tổ chức kinh tế; tổ

chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ

chức phi thương mại khác)

Lý do có sự khác biệt này là do, thương nhân là chủ thể thực hiện hoạt động thương

mại và để thực hiện hoạt động thương mại cần đáp ứng những yêu cầu nhất định về

vốn, về tư cách pháp lý, về một số yêu cầu điều kiện mang tính nghề nghiệp để triển

khai hoạt động thương mại thường xuyên, độc lập trên thị trường Ảnh hưởng của

hoạt động thương mại đối với nền kinh tế - xã hội cũng có sự khác biệt so với các

giao dịch dân sự Do vậy, sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động thương mại

cũng có những điểm khác biệt Một trong những yêu cầu thể hiện sự quản lý của

nhà nước đó là quy định về điều kiện chủ thể tham gia hoạt động thương mại nói

chung và hoạt động mua bán hàng hóa nói riêng là tổ chức, cá nhân có hoạt động

thương mại phải đăng ký kinh doanh với tư cách thương nhân Quy định nghĩa vụ

đăng ký kinh doanh để hình thành tư cách thương nhân chính là thể hiện sự quản lý

của nhà nước đối với hoạt động thương mại

Xuất phát từ yêu cầu điều kiện chủ thể của hoạt động thương mại nên các bên chủ

thể của hợp đồng mua bán hàng hóa phải là thương nhân hoặc trong một số trường

hợp chỉ cần bên bán là thương nhân Trong quan hệ mua bán hàng hóa thì bên bán

phải là thương nhân để thực hiện công việc bán hàng hóa như một nghề nghiệp và

có thu nhập từ việc bán hàng Bên mua hàng có thể là thương nhân hoặc không là

thương nhân có nhu cầu mua hàng hóa để bán lại kiếm lời hoặc mua hàng để đáp

ứng các nhu cầu cho công việc, cuộc sống của mình

Hiện nay, trong thực tiễn kinh doanh đã xuất hiện các chủ thể kinh doanh độc lập

thường xuyên nhưng không phải đăng ký kinh doanh Những chủ thể đó theo quan

niệm của pháp luật Việt Nam không phải là thương nhân Tuy nhiên, những cá nhân

có hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh

doanh vẫn có thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại với tư cách

là bên mua

Thứ hai, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa Theo quy định tại

khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, hàng hóa bao gồm:

+ Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

+ Những vật gắn liền với đất đai

Qua quy định về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa tại Luật Thương mại

năm 2005, cần lưu ý một số nội dung sau:

- So với Luật Thương mại năm 1997, khái niệm hàng hóa được mở rộng hơn đáp ứng yêucầu hội nhập kinh tế thế giới, nội hàm khái niệm hàng hóa (từ phạm vi điều chỉnh của Luật Thươngmại) có thể khác nhau ở mỗi quốc gia tùy theo truyền thống văn hóa, điều kiện phát triển kinh tế - xãhội và nhu cầu giao lưu thương mại với

Trang 11

quốc tê Ngay tại một quốc gia, nội hàm khái niệm hàng hóa cũng có thể khác nhau

trong từng thời kì phát triển kinh tế Nhưng tựu chung lại, hàng hóa là đối tượng của

hợp đồng mua bán hàng hóa phải là những hàng hóa được phép lưu thông và có tính

thương mại (sinh lời) Nếu các bên giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa

bị cấm lưu thông trên thị trường thì hợp đồng mua bán hàng hóa đó sẽ bị vô hiệu

Do vậy, việc xác định hàng hóa là đối tượng mua bán sẽ là một trong những điều

kiện ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa Với đặc điểm đôi

tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa sẽ phân biệt hợp đồng mua bán

hàng hóa với hợp đồng cung ứng dịch vụ là một công việc mà bên cung ứng dịch vụ

phải thực hiện theo yêu cầu của bên sử dụng dịch vụ Hàng hóa là sản phẩm hữu

hình, cố tính lưu thông, có tính thương mại và được chuyển giao quyền sở hữu khi

thực hiện giao dịch mua bán hàng hóa Khác với hàng hóa, dịch vụ là sản phẩm vô

hình, không thể cầm nắm được, không thể xác lập quyền sở hữu với dịch vụ, không

lưu kho, lưu bãi được

Ở Việt Nam, khái niệm hàng hóa được quy định trong Luật Thương mại năm 1997 và LuậtThương mại năm 2005 có sự khác nhau Khoản 3 Điều 5 Luật Thương mại năm 1997 quy định:Hàng hóa gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sảnkhác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua, bán.Khái niệm hàng hóa tại Luật Thương mại năm 2005 không chỉ bao gồm các loại hàng hóa hữu hình

có ở thời điểm giao kết hợp đồng mà còn có cả hàng hóa sẽ hình thành trong tương lai Việc mở rộngkhái niệm hàng hóa vừa thể hiện phạm vi điều chỉnh rộng hơn của Luật Thương mại, vừa có ý nghĩađáp ứng yêu cầu điều chỉnh pháp luật khi Việt Nam mở cửa và hội nhập kinh tế với các quốc giatrong khu vực và trên phạm vi toàn cầu

- Trong mối tương quan so sánh với đối tượng hợp đồng mua bán tài sản có thể nhận

thấy đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản rộng hơn so với đối tượng của hợp

đồng mua bán hàng hóa

Theo Điều 431 Bộ luật dân sự năm 2015, đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản là

tài sản được quy định tại Bộ luật dân sự Khái niệm tài sản tại Điều 105 Bộ luật dân

sự năm 2015 bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất

động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có hoặc tài

sản hình thành trong tương lai Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền bao

gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các

quyền tài sản khác Quyền tài sản phải được xác định thỏa thuận cụ thể về loại

quyền tài sản và bên bán phải có các giấy tờ hoặc bằng chứng khác chứng minh

quyền tài sản đó thuộc sở hữu của mình Có ba loại quyền tài sản:

- Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp; quyền đối với

giống cây trồng; quyền đòi nợ; quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo

Trang 12

đảm; quyền tài sản đối với phần góp vốn trong doanh nghiệp; quyền tài sản phát

sinh từ hợp đồng và các quyền tài sản khác (thuộc sở hữu của bên bán);

- Quyền sử dụng đất;

- Quyền khai thác tài nguyên

Trong khi đó, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ là động sản và những

vật gắn liền với đất đai Như vậy, các loại tài sản là quyền tài sản như giấy tờ có giá

(cổ phiếu, trái phiếu) không được đưa vào phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại

năm 2005 Những quan hệ mua bán cổ phiếu, trái phiếu giữa các thương nhân với

nhau có bản chất giống như quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại nhưng do

cách giải thích về khái niệm hàng hóa nên những giao dịch mua bán cổ phiếu, trái

phiếu không chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại năm 2005 Đây cũng là một

vấn đề cần có sự trao đổi trong hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý

- Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại có thể hướng tới việc giao và nhận hànghóa sẽ hình thành ở một thời điểm trong tương lai Hàng hóa trong các giao dịch này không phải lànhững hàng hóa thương mại thông thường mà phải là những loại hàng hóa nằm trong danh mục hànghóa giao dịch tại Sở giao dịch do Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) quy định.Các quy định về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa tại các Điều 64 đến Điều 66, Điều 68Luật Thương mại năm 2005 đã minh chứng cho phân tích trên

Quy định của Luật Thương mại năm 2005 cũng tương đồng với Luật của Anh Theo

đó, Luật của Anh phân biệt hai loại hợp đồng là hợp đồng bán hàng và hợp đồng

thỏa thuận bán hàng Hợp đồng bán hàng (Sale of Goods) là hợp đồng theo đó

quyền sở hữu hàng họa được chuyển từ người bán sang cho người mua ngay khi ký

kết hợp đông Hợp đồng thỏa thuận bán hàng (Agreement to Sale of Goods) là hợp

đồng mà việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa được thực hiện trong tương lai

hoặc phải hoàn thành một số điều kiện nhất định

_Thứ ba, mục đích chủ yếu của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa là sinh

lợi Đặc điểm này xuất phát và gắn liền với đặc điểm về chủ thể chủ yểu của hợp

đồng mua bán hàng hóa lả thương nhân Theo lý thuyết và trong thực tiễn, thương

nhân sẽ thường xuyên thực hiện hoạt động thương mại (trong đó có hoạt động mua

bán hàng hóa) với mục đích sinh lời Tuy nhiên, trong một số trường hợp, một bên

của hợp đồng mua bán hàng hóa không có mục đích sirih lời Những hợp đồng được

thiết lập giữa bên không nhằm mục đích sinh lợi với thương nhân thực hiện trên

lãnh thổ Việt Nam, về nguyên tắc, không chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại

trừ khi bên không nhằm mục đích sinh lợi đó lựa chọn áp dụng Luật Thương mại

(Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005)

_Thứ tư, hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói,

bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với hợp đồng mua bán

Ngày đăng: 08/11/2022, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w