1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN vận DỤNG tư TƯỞNG đạo đức NHO GIÁO vào VIỆC GIÁO dục đạo đức CHO học SINH ở cần THƠ HIỆN NAY

27 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 33,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh việc học hỏi được các văn hoá điều tiến bộ, hiện đại, các em cũng dầnquên đi những giá trị đạo đức và lối sống “nhân - lễ - nghĩa – trí – tín” đáng quý củadân tộc Việt Nam.. Tuy

Trang 1

KHOA SAU ĐẠI HỌC

- -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC SAU ĐẠI HỌC

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO VÀO VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH

Ở CẦN THƠ HIỆN NAY

Người hướng dẫn Người thực hiện

TS Nguyễn Thị Đan Thuỵ Lê Ngọc Ân

MSHV: 1622002 Nhóm: 01

CẦN THƠ - 2022

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Đối tượng nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu: 3

4 Kết cấu của tiểu luận 3

Chương 1: ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO DỨC NHO GIÁO 4

1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc – cơ sở hình thành những tư tưởng đạo đức của Nho giáo 4

1.2 Những nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Nho giáo 5

1.3 Giá trị và hạn chế trong tư tưởng đạo đức Nho giáo 9

1.3.1 Những giá trị tích cực trong tư tưởng đạo đức Nho giáo 9

1.3.2 Những hạn chế trong tư tưởng đạo đức Nho giáo 13

Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO VÀO VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CẦN THƠ HIỆN NAY VÀ GIẢI PHÁP 16

2.1 Thực trạng đạo đức học sinh ở tỉnh Cần Thơ hiện nay 16

2.2 Vận dụng những giá trị tích cực của đạo đức Nho giáo đề xuất một số giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh ở tỉnh Cần Thơ hiện nay 19

2.2.1 Nâng cao nhận thức của học sinh về vai trò của đạo đức 19

2.2.2 Tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, sinh hoạt câu lạc bộ với các chủ đề về giáo dục đạo đức cho học sinh 20

Trang 3

2.2.3 Phát huy vai trò chủ thể của học sinh và năng lực tự quản của tập thể họcsinh

2.2.4 Tuyên truyền và phát huy “Tiên học lễ - hậu học văn”

2.2.5 Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội

2.3 Ý nghĩa của tư tưởng đạo đức Nho giáo đối với việc rèn luyện đạo đức củacủa bản thân

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ thực tiễn cho thấy xã hội càng phát triển, xu thế hội nhập với việc văn hoácác nước phương Tây du nhập vào nước Việt Nam ta đã phần nào ảnh hưởng đến đờisống đạo đức, văn hoá ứng xử của thanh thiếu niên nói chung, học sinh ở Cần Thơ nóiriêng Bên cạnh việc học hỏi được các văn hoá điều tiến bộ, hiện đại, các em cũng dầnquên đi những giá trị đạo đức và lối sống “nhân - lễ - nghĩa – trí – tín” đáng quý củadân tộc Việt Nam Cho nên, việc tìm ra chân lý và phương pháp vận dụng chân lý đóvào việc giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh là một vấn đề cấp bách Các tưtưởng, trường phái trong triết học phương Đông, đặc biệt là Nho giáo, từ lúc hìnhthành và phát triển đã có sự ảnh hưởng to lớn đối với không chỉ là chính trị, xã hội màcòn cả hành vi, lối sống của con người Tuy nhiên, mỗi một tư tưởng trong Nho giáo

bản thân nó cũng có những mặt tích cực và tiêu cực, cho nên, bài tiểu luận “VẬN

DỤNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO VÀO VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CẦN THƠ HIỆN NAY” được thực hiện nhằm mục đích tìm ra

những phần tích cực của các tư tưởng trong Nho giáo để có thể xây dựng nên phươngpháp giáo dục về đạo đức hiệu quả cho học sinh ở Cần Thơ hiện nay

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng đạo đức Nho giáo

3 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết Phương pháp phân loại và hệ thống hoá lý thuyết Phương pháp cách thức hoá

4 Kết cấu của tiểu luận

Điều kiện hình thành và những nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Nho giáoVận dụng tư tưởng đạo đức Nho giáo vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở CầnThơ hiện nay và giải pháp

Trang 5

Chương 1: ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA

TƯ TƯỞNG ĐẠO DỨC NHO GIÁO 1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc – cơ sở hình thành những tư tưởng đạo đức của Nho giáo

Thời kì Xuân Thu – Chiến Quốc ở đất nước Trung Hoa có lịch sử kéo dài từ thế

kỷ thứ VIII trước công nguyên cho đến giữa thế kỷ thứ III trước công nguyên Đây làthời kỳ có nhiều biến động lớn lao, toàn diện Nhiều ngành nghề mới ra đời Đồ sắtxuất hiện phổ biến, công cụ sản xuất bằng sắt được sử dụng rộng rãi đã khiến cho nềnsản xuất nông nghiệp và công nghiệp phát triển mạnh mẽ Sự phát triển của sản xuấtdẫn đến kinh tế phát triển đã tác động mạnh mẽ đến hình thức sở hữu ruộng đất và kếtcấu các giai cấp trong xã hội Nếu như vào đầu thời kì Chu, đất đai và con dân là thuộcquyền sở hữu tối cao của nhà Vua thì lúc bấy giờ, cái quyền sở hữu ấy lại bị một giaicấp mới có tiền chiếm hữu Giai cấp quý tốc thị tộc nhà Chu dần bị mất đất đai, mấtdân, ngày càng sa sút về địa vị kinh tế, và vai trò chính trị, ngôi Thiên tử của nhà Chuchỉ còn tồn tại như dưới dạng hình thức Lúc này, tài sản chính là thứ cốt yếu quyếtđịnh sự phân biệt sang hèn trong xã hội Các nước chư hầu của nhà Chu đã không cònphục tùng vương mệnh nữa Họ không chỉ dừng việc cống nạp mà còn mang quân đithôn tính lẫn nhau Tầng lớp đại chủ mới nổi ngày càng giàu có, dần lấn át tầng lớp thịtộc cũ

Có thể thấy rằng, sự biến động mạnh mẽ trong nền kinh tế đã dẫn đến sự ra đời đadạng trong kết cấu giai tầng của xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ Nhiều giai tầng xã hộimới xuất hiện, mới cũ đan xen lẫn nhau dẫn đến mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt

Có thể tóm tắt mấy mâu thuẫn chính nổi lên trong thời kì Xuân Thu – Chiến Quốc nhưsau:

Thứ nhất là mâu thuẫn giữa tầng lớp mới nổi có sự tư hữu về tài sản, có địa vị kinh

tế trong xã hội mà không được tham gia vào chính quyền với giai cấp quý tộc thị tộc

cũ của nhà Chu đang nắm quyền điều hành đất nước

Thứ hai là mâu thuẫn giữa tầng lớp sản xuất nhỏ, thợ thủ công, thương nhân vớigiai cấp quý tộc thị tộc nhà Chu

Trang 6

Thứ ba là chính trong nội bộ giai cấp quý tộc thị tộc nhà Chu cũng đã có một bộphận tách ra, chuyển hoá lên giai cấp mới; những người này một mặt muốn bảo lưunhà Chu, mặt khác học cũng không hài lòng với trật tự vốn có của nó Họ có khát vọngcải biến nó bằng con đường cải lương, cải cách.

Thứ tư là tầng lớp tiểu quý tộc thị tộc vừa bị tầng lớp mới nổi tấn công về mặtchính trị và kinh tế, vừa có mâu thuẫn với tầng lớp đại quý tộc thị tộc đang nắm chínhquyền

Và cuối cùng là mâu thuẫn của tầng lớp nông dân công xã thuộc các tộc bị ngườiChu nô dịch với nhà Chu và tầng lớp mới nổi đang ra sức bóc lột sức lao động của họ

Những mâu thuẫn trên ngày càng gay gắt, dẫn đến cảnh đất nước ngày càng loạnlạc, anh em giết nhau, con giết cha tranh giành ngôi báu, vua mất uy phong, các nướcchư hầu chìm đắm trong chiến tranh xưng bá xưng vương triền miên, dân chúng lầmthan, khổ sở Trước bối cảnh đó, Khổng Phu Tử hay còn được người đời biết đến với

tự Khổng Tử, một triết gia và chính trị gia người Trung Quốc, sinh sống vào thời XuânThu, đã phát triển, hệ thống hoá và truyền bá rộng rãi tư tưởng Nho giáo của ChuCông

1.2 Những nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Nho giáo

Trước hết cần phải hiểu rằng chữ giáo trong Nho giáo không mang nét nghĩa tôngiáo, mà chữ giáo ở đây có nghĩa là giáo hoá, dạy bảo cách sống sao cho phải đạo làmngười Khổng Tử và các học trò của ông đã nhìn thấy được sức mạnh và vai trò tốiquan trọng của đạo đức đối với xã hội Vì vậy, nội dung quan trọng của Nho giáo là đểdạy con người về đạo đức Thực vậy, nỗ lực của Nho giáo chính là đưa ra một phươngpháp, một cách thức để con người sống “tốt, sống “đẹp” với nhau trong xã hội loàingười Chính vì thế, “tu thân” đóng một vai trò cục kỳ quan trọng “Tu thân, tề gia, trịquốc, bình thiên hạ” Một người quân tử trước hết phải biết rèn giũa chính mình, phảibiết sống tốt sống đúng với đạo đức thì mới có thể sắp đặt nhà cửa chỉnh tề, đất nướcmới có thể được cai trị, và nhờ đó thiên hạ mới có thể thái bình, thịnh vượng vì bởi lẻgốc của thiên hạ là nhà nước, gốc của nhà nước là gia đình, và gốc của gia đình chính

là cá nhân

Trang 7

Theo Khổng Tử, “đạo” bao gồm năm mối quan hệ xã hội cơ bản của con người,được gọi là nhân luân, hay ngũ luân theo cách gọi của Mạnh Tử Năm mối quan hệ đóbao gồm vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh em, bạn bè Trong đó có ba mối quan hệđược Đổng Trọng Thư xem là cơ bản nhất, được gọi là Tam cương – tức là ba sợi dâyràng buộc con người với nhau trong mối quan hệ từ gia đình đến ngoài xã hội “Đức”

chính là các phẩm chất về hành vi, lối sống quan trọng nhất mà con người cần phải có

để có thể thực hiện tốt các mối quan hệ trên Trong đạo đức làm người, Khổng Tửnhấn mạnh tầm quan trọng của “tam đức” – nhân, trí, dũng; Mạnh Tử thì nhấn mạnh

“Tứ đức” – nhân, nghĩa, lế, trí; Đổng Trọng Thư nhấn mạnh “ngũ thường” – nhân, lễ,nghĩa, trí, tín

Tam Cương – Ngũ Thường là nội dung cơ bản trong Nho giáo khi nói về đạolàm người, không chỉ là nguyên tắc quyết định mọi hành vi, suy nghĩ mà còn là khuônkhổ để đánh giá phẩm hạnh của một con người trong xã hội Tam cương – Ngũ thườnggóp phần vào việc điều chỉnh hành vi của con người, khiến cho mọi người hành động

và suy nghĩ đúng với lễ pháp của nhà nước Chu cũng như các triều đại sau này Tuynhiên, trong Tam cương – Ngũ thường cũng có những mặt hạn chế Theo đó, “quân xửthần tử, thần bất tử bất trung” hay “phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” – vua xử bềtôi phải thì bề tôi phải chết, còn nếu không chết tức là không trung với vua, cha xử conchết mà con không chết tức là con không hiếu thuận” Chính tư tưởng này cũng khiếncho con người ngày càng thụ động, từ đó cản trở sự phát triển của xã hội và đây cũngchính là nguyên nhân khiến xã hội phương Đông trì trệ kém phát triển

Phạm trù đạo đức đầu tiên và cơ bản nhất trong Tam cương – Ngũ thường làNhân Đây là phạm trù trung tâm trong tất cả các phạm trù Từ Nhân mà sinh ra cácđức khác, và các đức khác đó lại phát triển quy tụ về đức Nhân Đức Nhân bao gồmmột số nội dung cơ bản sau đây:

- Nhân có nghĩa là biết yêu người, yêu thương chính mình và người khác, yêu thươngmuôn loài, muôn vật

- Nhân có nghĩa là trung và thứ, tức là từ lòng mình suy ra lòng người, phải biết giúp

đỡ người khác Khổng Tử khuyên rằng nên làm cho người những

Trang 8

điều mà mình muốn và không làm cho người những điều mà mình không muốn.

- Nhân có nghĩa là phải thực hiện đúng với lễ: “Dẹp bỏ tư dục, trở về với lễ là phát huy điều nhân”

- Nhân còn là cái gốc rễ và cốt lõi của hiếu Theo Khổng Tử, tình cảm giữa cha mẹ vàcon cái, giữa chồng và vợ, giữa anh em với nhau là những tình cảm thiêng liêng, tự nhiên và vốn có của conngười Ông cho rằng, trong gia đình có người cha đứng đầu gánh vác thì cũng giống như một đất nước cómột vị vua cai trị Theo Khổng Tử, quốc gia cũng giống như một đại gia đình, ở đó có Vua là người chagánh vác cái gia đình đó Vua là vị trị đầu tiên trong đạo Tam cương – Ngũ thường Vì vậy, đạo làm ngườiphải tận hiếu với cha mẹ, tận trung với vua Một người biết yêu thương người thân của mình, biết yêuthương cha, mẹ, anh chị em của mình mới có thể rộng lòng thương với người khác Khổng Tử bàn đến đạođức từ xuất phát điểm đầu tiên là gia đình, từ đó suy rộng ra đến quốc gia và thiên hạ Coi trọng vai trò giađình trong việc hình thành và tu dưỡng đạo đức của con người ở Nho giáo là một khía cạnh hợp lý và vẫncòn có ý nghĩa nhất định đối với ngày nay, bởi lẽ, gia đình là một tế bào của xã hội, xã hội không thể ổnđịnh, phát triển nếu các gia đình không sống có đạo đức Vì vậy, người cầm quyền nếu không “tề gia” (caiquản gia đình) của mình thì cũng không thể “trị quốc” (cai trị đất nước) được và cũng không thể nào “bìnhthiên hạ” (làm cho thiên hạ thái bình)

- Nhân còn gắn liền với Nghĩa Khổng Tử cho rằng người quân tử thì phải chú trọng Nghĩa và xem thường tư lợi

Phạm trù thứ hai trong Tam cương – Ngũ Thường là Lễ Theo Nho giáo, Lễ làcác quy định về mặt đạo đức trong mối quan hệ ứng xử giữa người với người Con cáiphải biết hiếu với cha mẹ, bề tôi phải biết trung thành với vua, chồng vợ phải sống có

lễ nghĩa với nhau, anh em phải biết kín trên nhường dưới Lễ là những quy tắc mà aicũng phải tuân theo

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat

Trang 9

Phạm trù thứ ba là Nghĩa Nghĩa là đạo đối xử với người khác một cách côngbằng, theo lẽ phải, không tư vị Nghĩa không thể thiếu đối với con người Người thấyviệc nghĩa mà không dám làm là người không có nghĩa khí, thấy việc đáng làm đểgiúp người mà chịu ra tay là người nhát gan không xứng đáng với danh quân tử.

Phạm trù thứ tư là Trí Trí là sự hiểu biết sâu rộng, sáng suốt, có học thức Người có trí

sẽ biết lý lẽ, biết phân biệt thiện ác, đúng sai, không bị u mê dẫn dắt lầm đường lạc lối,

từ đó mới cư xử và hành động đúng theo đạo làm người Người có Trí mới có thể nhìnngười, biết đề bạt những người tài giỏi và xa lánh những kẻ tiểu nhân

Tín là phạm trù thứ năm trong Ngũ thường Tín có nghĩa là giữ đúng lời hứa,sống sao cho mọi người tin cậy, là giá trị về lòng tin của con người với nhau Tín làđiều kiện đầu tiên và quan trọng trong mối quan hệ bạn bè Tuy nhiên, chỉ tín còn cóthể hiện ở lòng tin vô hạn vào đạo lý của các bậc thánh hiền và các mối quan hệ vuatôi, cha con, chồng vợ Theo quan niệm của Nho giáo, Tín là nền tảng cho một xã hội

lễ nhạc không hưng vượng thì hình phạt chẳng trúng, hình phạt không trúng ắt dânkhông biết xử trí ra sao” Riêng đối với người cầm quyền vua - thiên tử được thay trờicai trị đất nước thì càng phải làm đúng danh phận của mình, như vậy mọi người mớinoi theo Đặc biệt, trong việc chính sự, điều đầu tiên nhà vua phải làm là lập lại chínhdanh, phải xác định vị trí, vai trò, nghĩa vụ và trách nhiệm của từng người để họ làmcho đúng Khổng tử cho rằng không ở chức vị ấy thì không được bàn việc của chức vị

đó, không được hưởng quyền lợi, bổng lộc của chức vị ấy Vì thế “Chính danh” là cơ

sở thiết lập trật tự tốt lành cho xã hội

Trang 10

“Hành đạo” được coi như là mục đích cuối cùng của Nho giáo Người quân tửsau khi tu thân thì bước tiếp theo là phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm chính trị.

Nội dung này được thể hiện qua câu “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, tức là phải làmviệc nhỏ - gia đình, sau đó đến việc lớn – quốc gia, và đến cuối cùng là làm thiên hạthái bình – bình thiên hạ

Một số nội dung khác trong tư tưởng Nho giáo:

Tam tòng – có nghĩa là thuận theo, nghe theo, vâng lời – được dùng để chỉ bađiều mà người phụ nữ xưa bắt buộc, chắc chắn phải nghe và làm theo Đó là bổn phận

mà bất cứ người phụ nữ nào sinh ra cũng không được làm trái Tam tòng bao gồmtòng phụ, tòng phu và tòng tử Theo đó, người phụ nữ “tại gia tòng phụ, xuất giá tòngphu, phu tử tòng tử”, tức là ở nhà phải nghe theo lệnh cha, xuất gia phải nghe theo lờichồng, chồng mất thì phải nghe con Có thể thấy, tam tòng trong xã hội cũ chính làmột sợi xích vô hình trói buộc cuộc đời người phụ nữ từ khi họ được sinh ra cho đếnkhi họ chết đi, họ không có quyền quyết định cuộc đời của họ, lúc nào cũng phải nghetheo lời của người đàn ông

Tứ đức – công, dung, ngôn, hạnh – là bốn đức tính tốt mà người phụ nữ phải

có, phải thực hành Công có nghĩa là khéo léo trong việc làm, biết vung vén công việc

Dung là chỉ sự hoà nhã trong sắc diện Ngôn là lời nói phải mềm mại, thanh tao Hạnhtức là phải có nét nhu mì trong tính nết, trong cử chỉ hành vi

1.3 Giá trị và hạn chế trong tư tưởng đạo đức Nho giáo

Các tư tưởng đạo đức Nho giáo mang lại những giá trị to lớn trong việc giáodục con người, là kim chỉ nam định hướng con đường tu thân của mỗi cá nhân và cũng

là hành trang quan trọng giúp con người sống tốt sống đẹp trong cuộc sống này Tuynhiên, bản thân các tư tưởng trong đạo đức Nho giáo cũng có những hạn chế nhấtđịnh Tiếp theo đây, tôi xin được chỉ ra các giá trị cũng như những mặt còn hạn chếtrong tư tưởng đạo đức Nho giáo

1.3.1 Những giá trị tích cực trong tư tưởng đạo đức Nho giáoGiá trị đầu tiên và cũng là cốt lõi nhất của Nho giáo, chính là đưa ra những tiêuchuẩn đạo đức giúp cải tạo, hoàn thiện nhân cách con người Nho giáo dạy con người

Trang 11

phải biết sống theo đạo, tức là đi đúng con đường để xây dựng nên các mối quan hệlành mạnh, tốt đẹp Đạo theo quan điểm của Nho giáo là phải phù hợp với tình người.

Trong Kinh dịch có hai câu thế này “lập đạo của trời, nói âm và dương, lập đạo củađất, nói nhu và cương” và tiếp theo sau đó là câu “lập đạo của người, nói nhân vànghĩa” Từ đó có thể thấy, Khổng Tử chủ trương cải tạo xã hội bằng đạo đức Theoông, làm người trước tiên nhất là phải có đức

Nho giáo dạy cho con người về Nhân và Nghĩa Theo cách hiểu thông thường,Nhân là lòng thương người, còn Nghĩa là sự chung thuỷ, trong đó Nhân là yếu tố trungtâm, mọi đức tính khác đều từ Nhân mà hình thành phát triển, và quay trở lại với chữNhân, cũng giống như vạn vật trên đời, dù trên trời cao hay đất rộng đều là do âmdương nhu cương hợp thành Chính vì lẽ đó, Nhân là cao trên tất cả các đức khác

Khổng Tử còn dạy “ai làm được điều này trong thiên hạ người đó có nhân: cung,khoan, tín, mẫn, huệ.” Cung tức là khiêm nhường, biết tôn trọng người và tôn trọngcông việc, không tỏ ra coi thường người khác, không kiêu ngạo Khoan tức là khoandung, rộng lượng, tha thứ cho người khác Tín là chữ tín, biết giữ lời hứa, nói sao làmđược như vậy Mẫn là nhanh nhẹn, không lề mề, ỷ lại, là cần mẫn, siêng năng Nếungười làm được năm điều này thì dân chúng sẽ tin tưởng, sẽ dễ sai khiến Mà tất cảnhững điều này đều phải xuất phát từ lòng thương người, tôn trọng con người màthành

Nho giáo còn dạy người ta về Lễ - Nghĩa – Trí – Tín Nho giáo khuyến khíchcon người sống cho hợp với Lễ nghi, tức là biết phép tắc, biết tuân thủ pháp luật, biếttôn trọng chính danh, từ đó xã hội mới trật tự, cuộc sống mới có phép tắc Nho giáocòn dạy con người ta sống phải có Nghĩa, tức là biết làm những việc nên làm, chuyệnkhông nên làm tuyệt đối không làm, có như vậy đạo lý mới được duy trì Bên cạnh đó,Nho giáo còn nhắc con người về chữ Trí, tức là phải có tri thức, biết học hỏi thêm điềumới, như vậy mới có thể thành nhân được Quan trọng hơn nữa là chữ Tín, tức là lờinói và hành động phải thống nhất với nhau, con người phải dựa vào chữ Tín để xâydựng niềm tin với nhau trong xã hội Một xã hội mà con người không tin tưởng nhau,đấu đá, lừa gạt nhau thì tất sẽ loạn Như vậy, Nho giáo đã hướng con người ta tới đức

Trang 12

Nhân, tức là đạo làm người Mỗi một con người trong xã hội cần tu tập nhiều đức tính,phải thực hành theo nhiều tiêu chuẩn đạo đức thì mới là con người hoàn thiện.

Nho giáo còn giáo dục con người về cách đối nhân, cách hành xử cho phải đạotrong các mối quan hệ xã hội, mà cụ thể đó là Ngũ luân: vua – tôi, cha – con, anh –

em, vợ - chồng, bạn bè Kinh lễ đã nêu lên mười một đức tính lớn mà con người trong

xã hội cần có: vua nhân, cha từ, anh lành, em đễ, chồng có nghĩa, vợ vâng lời, trưởng

có ân, ấu ngoan ngoãn, với bạn hữu cần có đức tín

Thuyết Tam tòng – Tứ đức đưa ra cơ sở rèn luyện đạo đức và phẩm hạnh mộtcách cụ thể cho người phụ nữ Nhờ có Tam tòng – Tứ đức mà giá trị của người phụ nữđược nâng cao Đặc biệt, Tam tòng – Tứ đức có thể được áp dụng với tất cả mọi ngườiphụ nữ, không phân biệt đẳng cấp, địa vị, giàu nghèo, tuổi tác, vùng miền, học vấn Kể

cả những người phụ nữ nông thôn, miền núi không có điều kiện học tập vẫn có thể rènluyện thành người đảm đang, giỏi giang, hết lòng thương yêu chồng con Bên cạnh đó,Tam tòng – Tứ đức còn góp phần giáo dục người phụ nữ hoàn thiện cả về vẻ đẹp hìnhthức lẫn nội dung toàn diện theo các đức Công – Dung – Ngôn – Hạnh

Những tiêu chuẩn đạo đức mà Nho giáo đưa ra góp phần dạy bảo, khuyên rănmỗi một cá nhân trong xã hội trong việc hình thành nhân cách của mình, đều là hướngcon người ta đến lối sống đẹp, hợp lẽ phải, chan hoà tình yêu thương, có lễ nghĩa

Nho giáo cũng có các đóng góp quan trọng trong giáo dục Khổng Tử chủ trươngthành lập trường học, hướng mọi người tới con đường học hành để mở mang dân trí, rènluyện đạo đức con người, hoàn thiện nhân cách của từng cá nhân Theo Khổng Tử, giáodục phải đi đôi với hoàn thiện nhân cách Đây chính là bộ phận giàu sức sống nhất trong

tư tưởng Nho giáo Theo đó, muốn nhân loại trở về gần nhau, tức quay về với cái thiệnbản chất thì phải đầu tư vào giáo dục vì giáo dục có thể hoá ác thành thiện Đối với Khổng

Tử, giáo dục không chỉ là để mở mang tri thức mà còn là hoàn thiện nhân cách, dạy conngười ta lối sống có đạo lý Bởi vậy, mục đích cuối cùng của giáo dục là để ứng dụng cholợi ích của cuộc sống, cho xã hội, cho mọi người chứ không phải chỉ để làm quan nhậnbổng lộc, hưởng thụ cho riêng bản thân mình

Trang 13

Trong tư tưởng Nho giáo có nêu rõ, phương pháp giáo dục cần đúng với điềukiện tâm sinh lý, coi trọng mối quan hệ của các giai đoạn, "học phải đi đôi với hành.

Trong việc dạy học trò, Khổng Tử luôn giải đáp các thắc mắc dựa theo trình độvốn có của bản thân người học, câu trả lời có sâu có nông, có cao có thấp tuỳ theo khảngộ của từng người Ngoài ra, Khổng Tử còn coi trọng việc mở trường lớp cho tầnglớp “hữu giáo vô đạo”, dạy cho người mà không cần phân biệt đẳng cấp Đây chính làmột tư tưởng rất tiến bộ của Khổng Tử Và trên hết, chính ông cũng là người thực hiện

tư tưởng này

Tư tưởng đạo đức Nho giáo cũng đóng vai trò không thể bàn đối với nền chínhtrị quốc gia Nho giáo chính là cơ sở để chế độ phong kiến dựa vào mà cai trị đất nước,với mục đích xây dựng nên một xã hội trật tự, nề nếp, không còn loạn lạc triền miên

Thuyết Chính danh của Khổng Tử chính là phương tiện đưa xã hội thoát khỏi rối ren,loạn lạc Nhờ có Chính danh mà con người suy nghĩ, hành động theo đúng với danhphận của mình, bề trên làm đúng nghĩa vụ của bề trên, bề tôi làm đúng bổn phận của

bề tôi, cha mẹ làm đúng nghĩa vụ, con cái cư xử phải phép, bạn bè đối đãi với nhauđúng đạo bằng hữu Khi mà mọi người đều ở đúng cái danh phận của mình thì xã hộimới trật tự, yên ổn

Thuyết Lễ trị của Nho giáo dạy mọi người về những nghi thức, quy chế, kỉcương, trật tự, tôn ti của cuộc sống chung trong xã hội và lối cư xử hằng ngày Lễ đãlàm cho tất cả sinh hoạt trong xã hội đều có quy củ: “Đạo đức nhân nghĩa, không có lễkhông thành; dạy bảo, sửa đổi phong tục, không có lễ không đủ; xử việc phân tranhkiện tụng, không có lễ không quyết; vua tôi, trên dưới,cha con, anh em, không có lễkhông định; học làm quan, thờ thầy, không có lễ không thân; xếp đặt thứ vị trong triều,cai trị quân lính, đi làm quan, thi hành pháp lệnh không có lễ không uy nghiêm; cầukhấn tế tự, cung cấp quỷ thần, không có lễ không thành kính, không trang chính Bởithế cho nên quân tử dung mạo phải cung, trong bụng phải kính, giữ gìn pháp độ, thoáinhượng, để làm sáng rõ lễ” (Lễ ký: Khúc lễ thượng)

Lễ khiến cho hành vi của con người có chừng mực, để lúc nào cũng hợp vớiđạo trung: “Cung kính mà không có lễ thì phiền, cẩn thận mà không có lễ thành ra sợ

Ngày đăng: 08/11/2022, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w