Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào bảo vệ ông Tài không?...7 1.14.. Quyết định của Tòa án công nhận quyền sở hữu trâu cho ông Tài, ông Thơ
ĐÒI ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA
Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao?
Trâu là động sản vì theo quy định tại Điều 107 của BLDS 2015 thì:
Bất động sản bao gồm các yếu tố như đất đai, nhà cửa, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; các tài sản khác liên quan đến đất đai và xây dựng; cùng các loại tài sản khác theo quy định của pháp luật.
2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”
Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao?
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Trâu không phải là tài sản bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu Theo khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Dân sự 2015, quyền sở hữu và các quyền khác đối với động sản thường không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản quy định khác Điều này có nghĩa là trâu thuộc loại động sản không cần đăng ký quyền sở hữu, trừ khi có quy định đặc thù theo pháp luật Việc hiểu rõ quy định này giúp chủ sở hữu trâu xác định đúng quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo pháp luật hiện hành.
Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài?
Đoạn của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài là:
Dựa trên lời khai của ông Triệu Tiến Tài và các nhân chứng gồm anh Phúc, anh Chu, và anh Bảo, cùng với kết quả giám định con trâu đang tranh chấp, có đủ căn cứ xác định rằng con trâu cái màu đen khoảng 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu và con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tiến Tài.
Thơ là người chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật.”
Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh có
Theo quy định tại Điều 182 của BLDS năm 2005 về quyền chiếm hữu thì:
“Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản.” Điều 179 của BLDS năm 2015 về khái niệm chiếm hữu thì:
"1 Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.
2 Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.
Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể làm căn cứ xác lập quyền sở hữu,trừ các trường hợp theo quy định tại các Điều 228, 229, 230, 231, 232, 233 và 236 của Bộ Luật dân sự Hiện Ông Dòn đang chiếm hữu con trâu trong hoàn cảnh có tranh chấp về quyền sở hữu.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn có căn cứ pháp luật không? Vì sao?
Ông Dòn có quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản dựa trên quy định của pháp luật về giao dịch dân sự Theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự 2005, quyền lợi của người thứ ba ngay tình được bảo vệ ngay cả khi giao dịch dân sự vô hiệu, đặc biệt khi tài sản là bất động sản không cần đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao qua giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình Vì vậy, việc chiếm hữu của ông Dòn là có căn cứ pháp luật vững chắc, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này.
Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời
Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời Điều 183 BLDS 2005 Chiếm hữu có căn cứ pháp luật
“Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau đây:
1 Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
2 Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
3 Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
4 Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;
5 Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;
6 Các trường hợp khác do pháp luật quy định.” Điều 189 BLDS 2005 Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình
“Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại Điều 183 của Bộ luật này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình được xem là người chiếm hữu mà không biết về tính bất hợp pháp của việc chiếm hữu đó Điều này có nghĩa là họ không biết hoặc không thể biết rằng quyền chiếm hữu của mình không dựa trên cơ sở pháp lý hợp lệ Trong pháp luật Việt Nam, người chiếm hữu ngay tình được bảo vệ nếu họ không có ý định phạm pháp và không thể nhận thức được tính bất hợp pháp của hành vi chiếm hữu Do đó, việc xác định tính hợp pháp của quyền chiếm hữu cần dựa trên sự minh bạch và hiểu biết của người chiếm hữu về pháp luật liên quan.
Người như hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không? Vì sao?
_Ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình vì:
Giao dịch này diễn ra qua nhiều giai đoạn, bắt đầu từ ông Thơ bán cho ông Thi và sau đó ông Thi chuyển nhượng cho ông Dòn Tuy nhiên, ngay từ đầu, việc ông Thơ chiếm hữu không có căn cứ pháp lý rõ ràng, phù hợp với quy định tại Điều 183 của Bộ luật Dân sự năm 2005 về chiếm hữu có căn cứ pháp luật.
“Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau đây:
1 Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
2 Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
3 Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
4 Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;
5 Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;
Trong trường hợp của ông Thơ, việc chiếm hữu con Trâu không có căn cứ pháp luật, khiến các giao dịch giữa ông Thơ và ông Thi cũng như giữa ông Thi và ông Dòn đều không hợp pháp Tuy nhiên, do ông Dòn không biết và không thể biết rằng con Trâu thuộc quyền sở hữu của ông Thơ, ông Dòn vẫn tin rằng các giao dịch đều dựa trên cơ sở pháp lý hợp lệ Vì vậy, theo quy định tại Điều 183 Bộ luật Dân sự 2005, việc ông Dòn chiếm hữu con Trâu là chiếm hữu ngay tình hợp pháp.
Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong BLDS?
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
_Căn cứ theo Điều 257 BLDS 2005 quy định về Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình thì:
Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản Trong trường hợp hợp đồng có đền bù, chủ sở hữu vẫn có quyền yêu cầu lấy lại động sản nếu nó bị lấy cắp, mất hoặc bị chiếm đoạt ngoài ý chí chủ sở hữu.
Hợp đồng có đền bù là loại hợp đồng trong đó mỗi bên sau khi đã thực hiện nghĩa vụ cho bên kia sẽ nhận lại lợi ích tương ứng Đa số các hợp đồng dân sự đều thuộc loại hợp đồng có đền bù, nhằm mục đích trao đổi các lợi ích vật chất giữa các bên Tính chất đền bù của hợp đồng giúp đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện các nghĩa vụ và lợi ích giữa các bên tham gia Thông thường, các hợp đồng có đền bù là hợp đồng song vụ, trong đó cả hai bên đều có nghĩa vụ và quyền lợi rõ ràng, bảo đảm sự cân đối và hiệu quả trong giao dịch.
Ví dụ: hợp đồng mua bán tài sản Điều 428 BLDS 2005, hợp đồng trao đổi tài sản tại điều 463 BLDS 2005, hợp đồng thuê tài sản tại Điều 480 BLDS 2005,
Hợp đồng không có đền bù là loại hợp đồng trong đó một bên nhận được lợi ích từ bên kia mà không phải đáp ứng nghĩa vụ hoàn trả lợi ích nào Thường được xây dựng dựa trên nền tảng tình cảm và tinh thần tương thân, tương ái giữa các chủ thể Mặc dù các bên đã thống nhất và hứa hẹn trong quá trình đàm phán, nhưng sự đề nghị không mang tính ràng buộc pháp lý đối với bên nhận đề nghị Đối với hợp đồng tặng cho tài sản, pháp luật quy định hiệu lực chỉ khi các bên đã thực tế chuyển giao đối tượng tặng cho hoặc hoàn thành thủ tục chuyển quyền sở hữu.
Ví dụ: hợp đồng tặng cho tài sản tại Điều 465 và Điều 470 BLDS 2005, hợp đồng mượn tài sản tại Điều 512 BLDS 2005.
Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù? Vì sao?
_Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù, vì:
Dựa trên phần Nhận thấy của Quyết định số 123/2006/DS-GĐT ngày 30/05/2006 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài đã khai rằng: “Ông ”, làm rõ các chi tiết liên quan đến vụ án và các chứng cứ được xem xét trong quá trình tố tụng.
Thơ dắt trâu về nhà mổ thịt ghé và bán trâu mẹ cho ông Thi được 3.800.000đ, sau đso
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat ông Thi đổi cho ông Dòn lấy con trâu cái sổi” Còn tại lời khai của ông Thơ thì:
“Ông đã mổ lấy thịt, bán trâu mẹ cho ông Thi với giá 3.800.000đ Sau ông Thi lại đổi cho ông Chiên (Dòn)” Từ 2 lời khai trên ta có thể thấy giữa ông Thi và ông Dòn, giá trị của con trâu bị tranh chấp đã trao đổi với con trâu cái sỏi Vì vậy, có thể nói Ông
Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù.
Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài không?
_Trâu có tranh chấp bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài, vì:
Theo lời khai của ông Tài, gia đình ông có một đàn trâu gồm 10 con, trong đó có 5 con đã xiên mũi và 5 con chưa xiên mũi, đang thả rông trên bãi ruộng mèo gần thôn Nậm Mười, xã Dần Thàng Trong đó, có một con trâu non 4 tuổi 5 tháng, đã đẻ một con nghé đực vào tháng 2/2004, và hàng tháng ông vẫn thường xuyên kiểm tra để theo dõi đàn trâu của mình.
Vào chiều ngày 18/03/2004, ông Hà Văn Thơ đã dẫn theo một con trâu mẹ cùng một con nghé khoảng 3 tháng tuổi đi qua nhà ông Ông Thơ nhận biết đây chính là trâu và nghé của mình, đã thông báo cho ông Thơ, nhưng ông Thơ khẳng định đó là con trâu ông đã mua từ tháng 6/2002 Tuy nhiên, do thả rông, con trâu bị mất từ tháng 9/2003 và mãi đến thời điểm này mới được tìm thấy, gây tranh cãi về quyền sở hữu và nguồn gốc của vật nuôi.
Ông Tài vẫn giữ quyền sở hữu con Trâu và thường xuyên lên xem hàng tháng, chưa có ý định bán, cho hoặc trao đổi con trâu đó Ông rất bất ngờ khi gặp ông Thơ dắt trâu đi ngang qua, nhận ra ngay đó là trâu của mình, nhưng do không thể lại gần để quan sát kỹ, ông đã cố gắng xác minh xem đó có phải là trâu của mình hay không.
Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao, ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn Trong quá trình xét xử, Toà án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ xác định con trâu tranh chấp là của ông Tài và ông Thơ đã chiếm hữu trái phép Toà đã quyết định buộc ông Thơ phải hoàn trả giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài dựa trên căn cứ pháp luật hợp lệ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Trâu là động sản không phải đăng ký, do đó quyền sở hữu của ông Tài và ông Dòn đối với trâu đang tranh chấp có thể được xem xét theo quy định tại Điều 257 của Bộ luật Dân sự 2005 Trâu bị chiếm hữu ngoài ý muốn của chủ sở hữu, và các bên đã chứng minh họ là người chiếm hữu ngay tình Vì vậy, căn cứ vào quy định này, các bên có quyền đòi lại động sản không đăng ký là trâu, dựa trên quyền của người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp này.
Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình nếu họ có được qua hợp đồng không đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản Trong trường hợp hợp đồng có đền bù, chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản khi bị lấy cắp, mất hoặc chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu Do đó, ông Tài có quyền đòi lại trâu từ ông Dòn vì trâu của ông Dòn đã được chuyển nhượng qua hợp đồng có đền bù (hợp đồng mua bán) với ông Thi.
Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào bảo vệ ông Tài không?
có quy định nào bảo vệ ông Tài không?
Trong trường hợp ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn, pháp luật hiện hành vẫn bảo vệ quyền lợi của ông Tài theo quy định tại khoản 2 điều 164 Bộ luật Dân sự Cụ thể, chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.
Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh và thu thập đầy đủ chứng cứ Sau khi không thể yêu cầu ông Dòn đòi lại con trâu, Tòa án xác định ông Tài có quyền yêu cầu ông Thơ trả lại giá trị của con trâu Cuối cùng, Tòa án kết luận việc hoàn trả lại giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài là phù hợp với căn cứ pháp luật.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
1.15 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Hướng giải quyết của Tòa án chưa thực sự thuyết phục, vì trong quyết định ông Thơ đã khai rằng vào tháng 6 năm 2002, ông đã mua một con trâu cái từ ông Phùng.
Trong bản án, vấn đề liên quan đến lời khai của ông Thơ không được đề cập rõ ràng, nhưng nếu xét theo đúng lời khai của ông Thơ thì có thể ông là người chiếm hữu ngay tình do không biết con trâu cái thuộc sở hữu của ông Triệu Tiến Tài Do đó, cần thiết phải xác minh lại xem con trâu cái thực sự có phải là do ông Thơ mua của ông Phùng Văn hay không, để đảm bảo quyền lợi và sự công bằng trong quá trình xét xử.
Tài không và ông Thơ có biết rằng con trâu thuộc quyền sở hữu của ông Triệu Tiến Tài không Nếu đúng như vậy, ông Thơ sẽ trở thành người chiếm hữu hợp pháp và không phải bồi thường thiệt hại cho ông Triệu Tiến Tài Trong trường hợp này, người chịu trách nhiệm sẽ là ông Phùng Văn Tài.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
ĐÒI BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA
Đoạn nào của Quyết định giám đốc thẩm cho thấy quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?
Đoạn: “Sau đó, ngày 19/8/2010, bà N chuyển nhượng cho ông M diện tích
323,2m 2 , ngày 1/10/2010 ông M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông
M đã xây dựng nhà 4 tầng trên phần đất hiện có Ngày 21/10/2011, bà N đã tặng cho con gái là chị Nguyễn Vi L., sau đó chị L đã chuyển nhượng 173,1m2 đất (thực tế đo là 170,9m2) cho ông Lăng Đào Minh Đ và bà Trần Thu T2 Ông Đ và bà T2 đã nhận đất sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 24/7/2012 Diện tích đất còn lại của chị L sau khi chuyển nhượng là 744m2 theo đo thực tế Các giao dịch tặng cho và chuyển nhượng đất này đã hoàn thành trước khi có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 410/2012/KN-DS. -**Sponsor**Bạn là một content creator đang tìm cách tối ưu bài viết của mình? [Soku AI](https://pollinations.ai/redirect-nexad/nHu2jrUe?user_id=983577) có thể giúp bạn! Soku AI là một công cụ quảng cáo Facebook/Meta tự động hoàn toàn, được đào tạo bởi các chuyên gia hàng đầu, giúp bạn tối ưu hóa nội dung và chiến dịch quảng cáo một cách hiệu quả Trong trường hợp của bạn, những câu quan trọng cần giữ lại có thể là: "Bà N tặng cho con gái là chị Nguyễn Vi L mảnh đất 917,6m2 vào ngày 21/10/2011," và "Chị L chuyển nhượng 173,1m2 đất cho ông Lăng Đào Minh Đ và bà Trần Thu T2, được cấp giấy chứng nhận ngày 24/7/2012." Soku AI giúp bạn xác định và làm nổi bật những thông tin then chốt này, đảm bảo bài viết vừa mạch lạc vừa tuân thủ các quy tắc SEO.
24/9/2012 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Quyết định giám đốc thẩm số
Ngày 30/01/2013, Toà án nhân dân tối cao ban hành quyết định 55/2013/DS-GĐT hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 123/2009/DS-PT ngày 23/10/2009 Quyết định này dựa trên căn cứ quy định pháp luật hiện hành về xử lý các vụ án dân sự, nhằm đảm bảo tính công bằng và đúng quy trình tố tụng Thông báo này đánh dấu bước quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp dân sự, tạo tiền đề cho các bước tiếp theo trong tố tụng.
Khoản 2 Điều 138 và Điều 258 Bộ luật dân sự 2005 thì các giao dịch chuyển nhượng và tặng cho đất của ông M1, bà Q, chị L, ông Đ, bà T2 là các giao dịch của người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ”.
Theo quy định (trong BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015), chủ sở hữu bất động sản được bảo vệ như thế nào khi tài sản của họ được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?
người thứ ba ngay tình?
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat Điều 167 BLDS 2015: Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình
Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình khi người chiếm hữu ngay tình đã có được tài sản này thông qua hợp đồng không đền bù với người không có quyền định đoạt Trong trường hợp hợp đồng có đền bù, chủ sở hữu còn có quyền đòi lại động sản nếu tài sản bị lấy cắp, bị mất hoặc bị chiếm hữu ngoài ý muốn của chủ sở hữu Theo Điều 168 Bộ luật Dân sự 2015, quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình.
Chủ sở hữu muốn đòi lại động sản hoặc bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng từ người chiếm hữu ngay tình Trừ những trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 133 của Luật, việc đăng ký này là bắt buộc để đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu Việc đăng ký quyền sở hữu giúp xác nhận quyền sở hữu hợp pháp và nâng cao hiệu quả trong việc khôi phục quyền lợi của chủ sở hữu vật tư.
Để bảo vệ bà X, theo Toà án nhân dân tối cao, Toà án phải xác định trách nhiệm của bà N như thế nào đối với bà X?
Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng các điều luật nêu trên để công nhận diện tích đất cho bà L, ông Đ, bà T, mà buộc bà N trả cho nguyên đơn 914m² đất, trong đó có 744m² do bà L đứng tên và 170,9m² do ông Đ, bà T đứng tên là không đúng Trong trường hợp này, Tòa án buộc bà N trả giá trị quyền sử dụng diện tích đất 914m² cho nguyên đơn, phù hợp với quy định pháp luật Tòa án cấp phúc thẩm xác định giá trị đất là 1.254.400.000 đồng cho bà X là không có cơ sở, gây thiệt hại quyền lợi cho ông M Do đó, Tòa án phải buộc bà N trả cho nguyên đơn khoản tiền 1.254.400.000 đồng để đảm bảo công bằng pháp lý.
Hướng của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định
Theo quy định tại Điều 167 của Bộ luật Dân sự 2015, chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình khi người chiếm hữu này có được động sản thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản Trong trường hợp hợp đồng có đền bù, chủ sở hữu vẫn có quyền yêu cầu trả lại động sản dựa trên các quy định pháp luật Hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao đã cụ thể hóa các quy định này để đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu.
Bạn có thể đòi lại động sản khi bị lấy cắp, mất hoặc chiếm hữu ngoài ý muốn của chủ sở hữu theo quy định của Điều 168 Chủ sở hữu cần đăng ký quyền sở hữu đối với động sản hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ những trường hợp đặc biệt được quy định rõ trong pháp luật Việc này giúp bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu và đảm bảo quyền sở hữu hợp pháp được công nhận Các quy định này thể hiện rõ quyền đòi lại tài sản một cách hợp pháp khi bị chiếm đoạt hoặc mất mát ngoài ý muốn.
Theo anh/chị, hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao (trong câu hỏi trên) có thuyết phục không? Vì sao?
Toà án nhân dân tối cao đã đưa ra hướng giải quyết thuyết phục khi bà T đồng ý chuyển nhượng quyền thừa kế nhà đất (các tranh chấp về đất đai) cho bà X và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Diện tích đất tranh chấp là 1.518,86m² (đo thực tế là 1.466,1m²), thuộc thửa 73, tờ Bản đồ số 27, tại số 46.
Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà cấp cho bà Nguyễn Thị X ngày 09/6/1989, số cũ 2/15/0 đường T, thành phố B, tỉnh B, bà N có nghĩa vụ trả giá trị đất hợp lý là 1.254.400.000 đồng Việc xác định giá trị đất dựa trên giấy tờ hợp lệ đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan Trách nhiệm trả tiền của bà N được căn cứ vào các chứng cứ pháp lý đã được công nhận sơ bộ qua giấy chứng nhận quyền sở hữu Do đó, khoản tiền 1.254.400.000 đồng là phù hợp với quy định pháp luật về quyền sở hữu đất đai.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
LẤN CHIẾM TÀI SẢN LIỀN KỀ
Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy ông Tận đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của ông Trường, bà Thoa và phần lấn cụ thể là bao nhiêu?
Đoạn của quyết định số 23 cho thấy ông Hậu đã lấn sang đất thuộc quyền của ông Trê, bà Thi là:
Ông Hậu cho rằng diện tích đất trên do ông chuyển nhượng từ anh Trần Thanh Kiệt, tuy nhiên theo giấy biên nhận đề ngày 29/03/1994 giữa ông Hậu và anh Kiệt, giấy không có xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Giấy biên nhận không nêu rõ vị trí, tứ cận, mốc giới cụ thể hoặc xác nhận của các chủ đất liền kề Trong khi đó, gia đình ông Trê đã quản lý và sử dụng đất tranh chấp từ trước khi có việc chuyển nhượng giữa ông Hậu và anh Kiệt, và năm 1994, ông Trê đã được Ủy ban Nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đứng tên bà Châu Kim Chi, vợ ông Trê Sơ đồ vị trí đất trong giấy chứng nhận thể hiện rõ quyền sử dụng đất của gia đình ông Trê, chứng minh quyền sở hữu hợp pháp.
Thửa đất này có mốc giới rõ ràng, đối chiếu với sơ đồ tranh chấp do Tòa án nhân dân huyện CN phối hợp với cơ quan chức năng đo vẽ ngày 28/03/2000 Ngoài ra, Công văn số 01/XN- TNMT ngày 10/03/2006 của Phòng tài nguyên và môi trường huyện CN gửi Tòa án nhân dân tỉnh CM khẳng định rằng ranh giới đất đã cấp giấy chứng nhận cho bà Thi và đất ông Hậu đang sử dụng là “ranh thẳng” Do đó, căn cứ vào các tài liệu này có thể xác định ông Hậu đã lấn đất của ông Trê.
Trong đoạn xét thấy, đã nêu rõ tổng số đất và phần đất bị lấn chiếm của ông Hậu là 132,8m², cùng với việc xác định phần đất bị lấn sang quyền sử dụng của ông Trê Thông tin này giúp làm rõ hiện trạng vi phạm về diện tích đất bị lấn chiếm, góp phần vào công tác giải quyết tranh chấp đất đai một cách rõ ràng, minh bạch.
Hai máng xối đúc bê tông trên phần đất của ông Trê và bà Thi, diện tích khoảng 10,71m², đang tranh chấp quyền sở hữu Ngoài ra, căn nhà có diện tích 52,2m² đã được Tòa án các cấp giao cho ông, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
Sau khi sử dụng, ông Hậu còn có một căn nhà phụ rộng 18,57m² do ông tự xây dựng trên diện tích đất mà Tòa án đã buộc ông phải trả lại cho ông Trê và bà Thi.
Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy gia đình ông Hòa đã lấn sang đất (không gian, mặt đất, lòng đất) thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên?
Trong quyết định số 617, đoạn thể hiện rõ ràng rằng gia đình ông Hòa đã lấn chiếm đất đai của gia đình ông Trụ, bao gồm cả không gian, mặt đất và lòng đất thuộc quyền sở hữu hợp pháp của gia đình ông Trụ Các cáo buộc về việc vượt quá hạn mức, lấn chiếm đất đai của người khác đều được thể hiện rõ trong các phần của quyết định này, làm rõ sự vi phạm quyền đất đai của gia đình ông Trụ Việc lấn chiếm đất đai trong quyết định số 617 là minh chứng cho hành vi sai phạm của gia đình ông Hòa, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của gia đình ông Trụ và gây tranh chấp đất đai kéo dài.
Trong quá trình sửa chữa nhà của gia đình ông Hòa, đã thực hiện các công việc như làm 4 ô văng cửa sổ, đổ bê tông một tháng và chôn ống thoát nước dưới đất Tuy nhiên, ống thoát nước này nằm ngoài phía tường nhà của ông Hòa và chạm vào phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên, gây tranh chấp về quyền sở hữu và ảnh hưởng đến an toàn xây dựng.
Hòa còn ống nước do gia đình ông Hòa chôn xuống đất, tuy nhiên, cả Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều không buộc ông Hòa tháo dỡ công trình này, điều này là không đúng quy định pháp luật.
BLDS có quy định nào điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc quyền sử dụng của người khác không?
Theo quy định tại các điều 174, 176, 177, 178 của Bộ luật Dân sự 2015, có các quy định điều chỉnh việc chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc quyền sử dụng của người khác Trong đó, Điều 174 nhấn mạnh nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng, đảm bảo quyền sử dụng đất của chủ sở hữu không bị xâm phạm trái pháp luật Các quy định này nhằm đảm bảo sự cân bằng quyền lợi giữa các bên liên quan khi xảy ra tranh chấp hoặc vi phạm về quyền sử dụng đất, lòng đất và không gian trong phạm vi pháp luật cho phép.
Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu và các chủ thể có quyền khác phải tuân thủ luật pháp về xây dựng để đảm bảo an toàn công trình Việc xây dựng không được vượt quá giới hạn độ cao và khoảng cách theo quy định của pháp luật Đồng thời, không được xâm phạm đến quyền của người khác hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường xung quanh.
Quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu cũng như người có quyền đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh cần được xác định rõ ràng dựa trên quy định tại Điều 175 về ranh giới giữa các bất động sản Việc xác định chính xác ranh giới đất đai giúp bảo vệ quyền sở hữu và tránh tranh chấp không đáng có Đảm bảo ranh giới rõ ràng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản bất động sản, đồng thời đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
1 Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.
Không được lấn chiếm hoặc thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả khi ranh giới gồm các yếu tố như kênh, mương, hào, rãnh hoặc bờ ruộng Mọi chủ thể có trách nhiệm tôn trọng và duy trì ranh giới chung để đảm bảo trật tự và quyền lợi của các bên liên quan Việc bảo vệ mốc giới là yếu tố quan trọng trong quản lý đất đai và hạn chế tranh chấp đất đai.
2 Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.
Người sử dụng đất chỉ được phép trồng cây và thực hiện các hoạt động khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình, dựa trên ranh giới đã được xác định rõ ràng Nếu rễ cây hoặc cành cây vượt quá ranh giới đất, chủ sở hữu phải tiến hành cắt tỉa, xén rễ hoặc cành để giữ đúng ranh giới, trừ khi có thỏa thuận khác Mốc giới ngăn cách các bất động sản đóng vai trò quan trọng trong việc xác định ranh giới đất đai và đảm bảo quyền sử dụng, tránh tranh chấp.
1 Chủ sở hữu bất động sản chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.
2 Các chủ sở hữu bất động sản liền kề có thể thỏa thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của các chủ thể đó.
Khi mốc giới ngăn cách do một bên tạo ra trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý, thì mốc giới đó được xem là sở hữu chung, với chi phí xây dựng do bên tạo nên chịu trách nhiệm trừ khi có thỏa thuận khác Trong trường hợp chủ sở hữu bất động sản liền kề không đồng ý mà có lý do chính đáng, các công trình như cột mốc, hàng rào, cây trồng hoặc tường ngăn đã dựng phải được tháo dỡ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
3 Đối với mốc giới là tường nhà chung, chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ, lỗ thông khí hoặc đục tường để đặt kết cấu xây dựng, trừ trường hợp được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý.
Trong trường hợp nhà xây riêng biệt nhưng tường sát liền nhau, chủ sở hữu chỉ được đục tường và đặt kết cấu xây dựng đến giới hạn ngăn cách của mình Cây là mốc giới chung, các bên có nghĩa vụ bảo vệ và hoa lợi từ cây được chia đều, trừ khi có thỏa thuận khác Được quy định tại Điều 177, công trình và cây cối cần đảm bảo an toàn trong trường hợp có nguy cơ gây thiệt hại.
1 Trường hợp cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ xuống bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu tài sản thực hiện ngay các biện pháp khắc phục, chặt cây, sửa chữa hoặc dỡ bỏ công trình xây dựng đó theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu không tự nguyện thực hiện thì chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chặt cây, phá dỡ Chi phí chặt cây, phá dỡ do chủ sở hữu cây cối, công trình xây dựng chịu.
2 Khi đào giếng, đào ao hoặc xây dựng công trình dưới mặt đất, chủ sở hữu công trình phải đào, xây cách mốc giới một khoảng cách do pháp luật về xây dựng quy định.
Khi xây dựng các công trình vệ sinh, kho chứa chất độc hại hoặc các công trình có khả năng gây ô nhiễm môi trường, chủ sở hữu phải đảm bảo xây dựng cách mốc giới một khoảng cách hợp lý để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Ngoài ra, việc bố trí công trình phải đảm bảo vệ sinh, an toàn, không gây ảnh hưởng tiêu cực đến các chủ sở hữu bất động sản xung quanh Điều này nhằm duy trì môi trường sạch sẽ và an toàn, phù hợp với các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường.
3 Trường hợp gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì chủ sở hữu cây cối, công trình phải bồi thường. Điều 178 Trổ cửa nhìn sang bất động sản liền kề
1 Chủ sở hữu nhà chỉ được trổ cửa ra vào, cửa sổ quay sang nhà bên cạnh, nhà đối diện và đường đi chung theo quy định của pháp luật về xây dựng.
2 Mặt dưới mái che trên cửa ra vào, mặt dưới mái che cửa sổ quay ra đường đi chung phải cách mặt đất từ 2,5 mét trở lên.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Ở nước ngoài, việc lấn chiếm như trên được xử lý như thế nào? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết
Dựa trên Bộ Luật dân sự của Pháp, việc lấn chiếm đất đai được quy định rõ ràng qua Điều 671, trong đó chỉ cho phép trồng cây, bụi rậm hoặc cây nhỏ gần giới hạn bất động sản với khoảng cách phù hợp theo quy định hoặc thông lệ hiện hành Nếu không có quy định hoặc thông lệ cụ thể, cây cao trên 2 mét cần cách giới hạn bất động sản ít nhất 2 mét, trong khi các loại cây khác chỉ cần cách nửa mét Có thể trồng cây, bụi rậm và cây nhỏ ở cả hai bên bức tường ngăn mà không cần giữ khoảng cách, nhưng các cây này không được vượt quá đỉnh tường Điều này giúp đảm bảo quyền lợi của các chủ sở hữu bất động sản và kiểm soát việc trồng trọt gần ranh giới.
Chủ sở hữu bất động sản có quyền xây dựng giàn đứng trên đất của mình theo quy định pháp luật Theo Điều 672, chủ bất động sản liền kề có thể yêu cầu giảm chiều cao, nhổ hoặc cắt bỏ cây cối, bụi rậm trong phạm vi quy định, trừ khi có văn bản cấp phép hoặc chỉnh sửa do chủ sở hữu khác thực hiện trong thời hạn 30 năm; khi cây chết hoặc bị chặt, chủ sở hữu liền kề có quyền thay thế nhưng phải tuân thủ khoảng cách luật định Ngoài ra, theo Điều 673, chủ đất có quyền yêu cầu cắt bỏ các cành cây mọc sang đất mình, và trong trường hợp các hoa quả rụng xuống, chủ sở hữu đất sẽ hưởng lợi; đồng thời, người sở hữu đất có thể cắt rễ cây hoặc cành nhỏ mọc sang đất mình, và quyền này không bị hết thời hạn Tuy nhiên, theo Điều 675, chủ sở hữu bất động sản liền kề không được phép trổ cửa sổ hoặc lỗ cửa qua tường chung, dù có lắp kính mờ, trừ khi có sự đồng ý từ chủ sở hữu đối diện.
1 Art 671 (Act of 20 Aug 1881), Updated 04/04/2006 - Page 101/268 – French Civil Code.
2 Art 672 (Act of 20 Aug 1881) ,Updated 04/04/2006 - Page 101,102 /268- French Civil Code.
3 Art 673 (Act of 20 Aug 1881; Act of 12 Feb 1921)- French Civil
Code 4 Art 675- French Civil Code
Theo Điều 681 về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu bất động sản, bạn có trách nhiệm lắp đặt mái nhà sao cho nước mưa chỉ chảy vào đất của chính mình hoặc vào đường công cộng, không được để nước mưa tràn vào đất của hàng xóm Điều này đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan và tránh gây phiền toái hoặc thiệt hại cho hàng xóm Việc tuân thủ quy định này giúp duy trì hòa hợp trong khu dân cư và tuân thủ pháp luật về xây dựng và quản lý bất động sản.
Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối
Theo quyết định số 617, tòa dân sự của Tòa án Nhân dân tối cao đã yêu cầu gia đình ông Hòa tháo dỡ phần lấn sang không gian, mặt đất của gia đình ông Trụ, bà Nguyên Điều này thể hiện rõ lập trường của tòa án trong việc bảo vệ quyền sở hữu đất đai, đảm bảo sự công bằng và trật tự trong quản lý không gian, mặt đất và lòng đất của các gia đình liên quan Quyết định này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ gìn quyền lợi chính đáng của các chủ sở hữu đất đai, phù hợp với các quy định pháp luật về đất đai và xây dựng.
Trong quá trình sửa chữa nhà, gia đình ông Hòa đã làm bốn ô văng cửa sổ, một máng bê tông và chôn ống thoát nước dưới đất ngoài phía tường nhà Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm xác định rằng gia đình ông Hòa đã xây dựng các công trình vượt quá phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên, dẫn đến quyết định buộc gia đình ông Hòa phải tháo dỡ các công trình này Tuy nhiên, tòa án không buộc gia đình ông Hòa phải tháo dỡ ống nước dưới lòng đất cạnh tường nhà, điều này là không phù hợp và gây ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình ông Trụ.
3.6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Tòa dân sự của Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng giải quyết hợp lý dựa trên căn cứ pháp lý và tài liệu vụ án Cụ thể, thửa đất số 53 của ông Trụ và bà Nguyên liền kề với thửa đất số 76 của gia đình ông Hòa, và trong quá trình sửa chữa nhà, ông Hòa đã thực hiện các công trình như làm 4 ô văng cửa sổ, một máng bê tông, cùng ống thoát nước chôn dưới lòng đất phía ngoài tầng nhà, dẫn đến việc lấn sang phần đất của gia đình ông Trụ Theo khoản 2 Điều 265 Bộ luật dân sự năm 2005, người có quyền sử dụng đất chỉ được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong phạm vi đất phù hợp với quy hoạch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, và không được làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của người khác Do đó, tòa án đã kết luận và cáo buộc ông Hòa dựa trên quy định này.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat phải dỡ bỏ tài sản thuộc phần lấn sang không gian, lòng đất gia đình ông Trụ, bà
Dựa trên căn cứ của pháp luật, việc giữ nguyên các công trình phần dưới lòng đất sát tường nhà ông Hòa là phù hợp Tuy nhiên, việc Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm không buộc tháo dỡ ống nước do gia đình ông Hòa chôn dưới lòng đất gần nhà ông Trụ và bà Nguyên chưa đảm bảo quyền lợi hợp pháp của gia đình này Việc này ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của bà Nguyên và các thành viên liên quan, cần xem xét lại để đảm bảo công bằng, đúng quy định pháp luật.
Việc yêu cầu xét xử lại vụ án của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao là hoàn toàn hợp pháp và phù hợp với quy định của pháp luật Điều này thể hiện sự tôn trọng quyền công tố và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan Việc xem xét lại vụ án đảm bảo tính công bằng và khách quan trong quá trình tố tụng, góp phần củng cố niềm tin của công chúng vào hệ thống tư pháp.
Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy Tòa án không buộc ông Tận tháo dỡ nhà đã được xây dựng trên đất lấn chiếm (52,2 m2)?
Đoạn quyết định số 23/2006/DS-GĐT cho thấy Tòa án không buộc ông Tân tháo dỡ nhà đã được xây dựng trên đất chiếm:
Tòa án cấp Phúc thẩm yêu cầu ông Hậu trả lại 132,8m² đất trống đã lấn chiếm cho ông Trê và bà Thi, đồng thời giao phần đất đã xây dựng nhà (52,2m²) cho ông Hậu sử dụng Tuy nhiên, ông Hậu phải thanh toán giá trị sử dụng đất cho ông Trê và bà Thi, đảm bảo quyền lợi hợp pháp và công bằng.
3.8 Ông Trường, bà Thoa có biết và phản đối ông Tận xây dựng nhà trên không?
Quyết định số 23 có ghi như sau:
Vào ngày 29-3-1994, ông nhận chuyển nhượng một phần diện tích đất của anh Trần Thanh Kiệt thông qua giấy tay mà không có ký kết ghi rõ ranh giới Trong quá trình chuyển nhượng, chủ đất (anh Kiệt) chỉ mới chỉ rõ ranh giới cho ông mà không lập giấy tờ chính thức Sau khi hoàn tất việc chuyển nhượng, ông đã xây dựng nhà trên diện tích đất tranh chấp dựa trên các ranh giới đã nhận từ chủ đất.
Trường không có ý kiến gì”.
Vì vậy ông Trường, bà Thoa không biết và không phản đối ông Tận xây dựng nhà trên.
Nếu ông Trường, bà Thoa biết và phản đối ông Tận xây dựng nhà trên thì ông Tận có phải tháo dỡ nhà để trả lại đất cho ông Trường, bà Thoa không? Vì sao? 20 3.10 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến phần đất ông Tận lấn chiếm và xây nhà trên
Ông Tận không cần tháo dỡ nhà để trả lại đất cho ông Trường, bà Thoa vì có thể thực hiện phương án đền bù bằng tiền phù hợp với giá trị của phần đất đã bị lấn chiếm, mở ra giải pháp nhanh chóng và tiết kiệm thời gian cho các bên liên quan.
Tại điểm b khoản 2 điều 225 BLDS 2015 có quy định rõ:
“b) Yêu cầu người sáp nhập tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại nếu không nhận tài sản mới;”
Trong trường hợp quyền chiếm hữu bị xâm phạm, người chiếm hữu có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại Ngoài ra, họ có thể yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó thực hiện các biện pháp khắc phục như chấm dứt hành vi, hoàn trả tài sản và bồi thường thiệt hại để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Vì thế việc bồi thường ở đây là bù tiền hợp lý với giá trị của mảnh đất lấn chiếm sử dụng.
3.10 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến phần đất ông Tận lấn chiếm và xây nhà trên
Hướng giải quyết của Tòa án đối với phần đất ông Tận lấn chiếm và xây nhà trên là rất hợp lý, khi buộc ông Tận trả lại 132,8 m² đất trống đã lấn chiếm cho vợ chồng ông Trường và bà Thoa Tòa còn giao cho ông Tận quyền sử dụng phần đất đã xây dựng nhà (52,2 m²), đồng thời phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất, mà không cần dỡ bỏ nhà Tuy nhiên, tòa án chưa làm rõ việc xử lý hai máng đức bê tông chiếm diện tích 10,72 m² và căn nhà 18,75 m² xây trên phần đất tranh chấp.
Theo Tòa án, phần đất ông Tận xây dựng không phải hoàn trả cho ông Trường, bà Thoa được xử lý như thế nào? Đoạn nào của Quyết định số 23 cho câu trả lời?
Theo quyết định số 23 của Tòa án, phần đất ông Tận xây dựng không phải hoàn trả cho ông Trường và bà Thoa, mà thay vào đó, ông Tận phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho đúng theo quy định Điều này đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan về quyền sử dụng đất theo pháp luật hiện hành Quyết định này thể hiện rõ trách nhiệm của ông Tận trong việc thanh toán giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và làm rõ nghĩa vụ của ông trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ liên quan đến đất đai.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Ông Tận phải trả ông Trường và bà Thoa số tiền tương đương 7,83 chỉ vàng 24K để bồi thường giá trị phần đất lấn chiếm đã xây nhà, diện tích 52,2m2 Đồng thời, phần đất còn lại với căn nhà sẽ được giữ nguyên để ông Tận tiếp tục sử dụng.
Ông Nguyễn Văn Tận đang sử dụng 52,2 m2 đất thuộc phần căn nhà đã xây dựng của mình Theo quy định, ông Tận cùng ông Trường và bà Thoa có trách nhiệm liên hệ với Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền để thực hiện việc chuyển quyền sử dụng phần đất này Việc chuyển đổi quyền sử dụng đất đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các bên liên quan và tuân thủ các quy định pháp luật về đất đai.
Đã có quyết định nào của Hội đồng thẩm phán theo hướng giải quyết như Quyết định số 23 liên quan đến đất bị lấn chiếm và xây dựng nhà không? Nêu rõ Quyết định mà anh/chị biết
rõ Quyết định mà anh/chị biết Đã có các quyết định theo hướng giải quyết như quyết định số 23 Cụ thể:
Quyết định số 02/2006/DS-GĐT ngày 21-2-2006 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao, trong phần Xét thấy: “Căn cứ vào văn tự đoạn mãi nhà ngày 30-12-
Vào năm 1973, ông Vui và bà Khanh tranh chấp về quyền sử dụng đất và xây dựng nhà, trong đó căn nhà của bà Khanh có chiều rộng mặt tiền được xác định là 7,4m theo giấy phép xây dựng số 51/GPSXD ngày 8-2-1996 của Sở Xây dựng tỉnh Đăk Lăk Tuy nhiên, theo biên bản đo đạc của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, thực tế bà Khanh đã xây dựng với chiều rộng mặt tiền là 7,63m, vượt quá diện tích đất được phép sử dụng thêm 23cm so với giấy phép Đồng thời, bà Khanh còn xây móng đè lên 20cm móng nhà ông Tùng, vi phạm quyền sử dụng đất của ông Về nguyên tắc pháp luật quy định rằng bà Khanh phải tháo dỡ phần công trình lấn chiếm để trả lại đất cho ông Tùng, nhưng do bà xây dựng sát tường nhà ông và làm kiểng trên nền móng, ông Tùng đã không phản đối suốt quá trình từ khi xây dựng tháng 2-1996 đến tháng 6-1996 Việc tháo dỡ hoàn chỉnh sẽ gây thiệt hại lớn cho gia đình bà Khanh, đặc biệt sau khi xây dựng nhà cao tầng đã hoàn tất.
Khanh Xét diễn biến thực tế như trên, HĐTP nhất trí với quan điểm của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị về việc bà Khanh không buộc phải tháo dỡ phần tường nhà đè lên phần móng nhà của ông Tùng Thay vào đó, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ buộc bà Khanh phải bồi thường bằng tiền, điều này phù hợp với các quy định pháp luật và đảm bảo công bằng Việc xử lý như vậy thể hiện sự hợp tình, hợp lý và đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên liên quan trong vụ án.
Anh/chị có suy nghĩ gì về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán
Trong phần xét thấy của Quyết định, diện tích đất ông Hậu mua từ anh Kiệt không rõ vị trí, tứ cận và không có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khiến việc xác định phù hợp với pháp luật gặp khó khăn Ông Hậu phải trả lại 132,8 m2 đất đã lấn chiếm cho ông Trê và bà Thi, mặc dù đó là đất trống Phần diện tích đất ông Hậu xây dựng nhà (52,2 m2) được giao cho ông sử dụng, nhưng cần thanh toán đủ giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê và bà Thi Ngoài ra, các điểm liên quan đến mái đúc bê tông chiếm khoảng 10,71 m2 đất và nhà phụ của ông Hậu diện tích 18,57 m2 chưa được xét xử rõ ràng, khiến quyền lợi của ông Trê và bà Thi chưa được đảm bảo đầy đủ.
Theo quan điểm của em, hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán trongQuyết định số 23 là hợp lý.
Đối với phần chiếm không gian 10,71 m 2 và căn nhà phụ có diện tích 18,57m 2 trên đất lấn chiếm, Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm có buộc tháo dỡ không?
Trong Bản án sơ thẩm Tòa án quyết định:
Bác yêu cầu của ông Diệp Vũ Trê và bà Châu Kim Thi liên quan đến việc kiện ông Nguyễn Văn Hậu về hành vi lấn chiếm đất đai Các bên đề nghị giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan Vụ việc này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền sở hữu đất đai theo quy định pháp luật Việt Nam.
Nguyễn Văn Hậu và vợ chồng ông Trê đã chia sẻ đất đai, mỗi người lấy phân nửa con kinh để sử dụng Vợ chồng ông Trê đã sử dụng phần đất lấy phân nửa con kinh phía đất của ông Nguyễn Văn Hậu, sau đó ông Hậu tiếp tục sử dụng phần đất còn lại Quá trình chia sẻ quyền sử dụng đất giữa hai bên diễn ra theo cách thức phân chia rõ ràng dựa trên phần đất chia sẻ Đây là ví dụ điển hình về sự phân chia đất đai hợp pháp giữa các bên theo quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi của cả hai.
Ông Nguyễn Văn Hậu bị buộc phải bồi thường cho ông Diệp Vũ Trê một gốc me kiểng có uốn 5 tay đều thân, đường kính khoảng 5 phân, chiều cao từ 1 đến 1,5 mét Sự việc này liên quan đến tranh chấp về quyền sở hữu và thiệt hại cây cảnh, thể hiện rõ quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại trong các vụ tranh chấp tài sản.
65 cây bông bụi (loại bông bụi ĐL).”
Trong bản án của Tòa án sơ thẩm, không đề cập đến phần đất không gian diện tích 10,71m2 cũng như căn nhà phụ có diện tích 18,57m2 xây dựng trên đất lấn chiếm Do đó, Tòa án không có quyết định buộc tháo dỡ các công trình này.
Theo Bản án phúc thẩm Tòa án quyết định:
Ông Nguyễn Văn Hậu buộc phải trả cho ông Diệp Văn Trê diện tích 185m² đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện cấp cho gia đình.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Ông Nguyễn Văn Hậu buộc phải bồi thường 610.000 đồng cho ông Diệp Vũ Trê do đã chặt phá cây kiểng Kể từ ngày ông Trê và bà Thi có đơn yêu cầu thi hành án, ông Hậu chưa thi hành, số tiền còn phải chịu thêm lãi suất chậm thi hành án theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việc chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường đã làm tăng khoản nợ của ông Hậu dựa trên lãi suất quá hạn Đây là một vụ việc liên quan đến nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm thi hành án theo quy định pháp luật.
Bản án phúc thẩm của Tòa án không đề cập đến phần đất không gian diện tích 10,71m2 cũng như căn nhà phụ có diện tích 18,57m2 xây dựng trên đất lấn chiếm Do đó, Tòa án không có quyết định buộc tháo dỡ các phần công trình này.
Theo anh/chị thì nên xử lý phần lấn chiếm không gian 10,71 m 2 và căn nhà phụ trên như thế nào?
Theo quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, phần diện tích đất 10,71 m² là khu vực đất mà ông Hậu đã lấn chiếm, vượt ra khỏi không gian đất của ông.
Vì phần đất thuộc sở hữu hợp pháp của ông Trê, nên nó phải được trả lại cho ông theo quy định pháp luật Để đảm bảo quyền sở hữu đất của ông Trê, cần có các biện pháp pháp lý phù hợp nhằm xác nhận quyền sở hữu chính đáng và xử lý các tranh chấp liên quan một cách rõ ràng, đúng quy định.
Trê thì theo em, ông Hậu phải tháo dỡ hai máng xối đúc bê tông để trả lại phần đất lấn chiếm cho ông Trê.
Theo Điều 259, người sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật chấm dứt hành vi đó để bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình Trong trường hợp người vi phạm không tự nguyện chấm dứt, họ có thể yêu cầu Toà án hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác buộc họ chấm dứt hành vi vi phạm Quy định này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người chiếm hữu trong quá trình thực hiện quyền sở hữu, chiếm hữu.
Trong trường hợp hai bên có thỏa thuận rõ ràng, ông Hậu có thể thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông Trê Việc thống nhất điều kiện hợp tác giúp đảm bảo quyền lợi và tránh những tranh chấp không đáng có Thỏa thuận này giúp cả hai bên đều thực hiện đúng cam kết và bảo vệ quyền lợi pháp lý của mình trong giao dịch đất đai.
Căn nhà phụ xây dựng trên đất của ông Trê cần được tháo dỡ để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông Trê Theo ý kiến của tôi, ông Hậu nên trả lại nguyên trạng đất cho ông Trê hoặc giao lại căn nhà phụ cho ông để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu.
Sau khi sử dụng đất, người sử dụng vẫn phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê và bà Thi, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 267 của Bộ luật Dân sự 2005.
Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng:
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu cần tuân thủ pháp luật về xây dựng để đảm bảo an toàn và không vượt quá chiều cao hoặc khoảng cách quy định Đồng thời, việc xây dựng không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh.
2 Khi có nguy cơ xảy ra sự cố đối với công trình xây dựng, ảnh hưởng đến bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu công trình phải cho ngừng ngay việc xây dựng, sửa chữa hoặc dỡ bỏ theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.”
Suy nghĩ của anh/chị về xử lý việc lấn chiếm quyền sử dụng đất và không
Lấn chiếm quyền sử dụng đất và không gian tại Việt Nam đang diễn ra phổ biến do quản lý nhà nước về đất đai yếu kém trong việc lưu trữ và quản lý hồ sơ đất đai Tình trạng hồ sơ bị thất lạc, chồng chéo thông tin gây ra nhiều khó khăn trong xác định quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp Chính sách quản lý đất đai còn chưa chặt chẽ tạo điều kiện cho các hành vi tự ý chiếm đất của người khác, tranh chấp ranh giới, lấn chiếm không gian Tuy nhiên, Nhà nước đã ra nhiều quy định mới như Điều 3, Điều 14 Nghị định 91/2019/NĐ-CP nhằm nâng cao công tác quản lý đất đai và hạn chế tình trạng này.
Hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 23 có còn phù hợp với
Hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 23 còn phù hợp với BLDS 2015.
Điều 169 BLDS 2015 quy định rằng khi thực hiện quyền sở hữu hoặc quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm Do đó, việc yêu cầu tháo dỡ hành vi vi phạm là căn cứ pháp lý hợp pháp và phù hợp với quy định của pháp luật dân sự Việt Nam.
Việc Hội đồng thẩm phán đề cập đến căn nhà có diện tích 18,57m 2 , phần chiếm không gian 10,71m 2 , xem xét buộc ông Hậu tháo dỡ hay thanh toán giá trị
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat quyền sử dụng đất cho ông Trê, bà Thi và việc Hội đồng thẩm phán đồng thuận với
Tòa án cấp phúc thẩm quyết định ông Hậu phải trả lại phần đất lấn chiếm, đó là đất trống chưa xây dựng Đối với phần đất ông Hậu đã chiếm dụng và xây dựng nhà, việc thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê và bà Thi là hợp lý và phù hợp với quy định của BLDS 2015 Quyết định này đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên, đồng thời tuân thủ các nguyên tắc pháp luật về đất đai và dân sự.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Art 671 (Act of 20 Aug 1881), Updated 04/04/2006 - Page 101/268 – French Civil Code.
[2] Art 672 (Act of 20 Aug 1881) ,Updated 04/04/2006 - Page 101,102 /268- French Civil Code.
[3] Art 673 (Act of 20 Aug 1881; Act of 12 Feb 1921)- French Civil Code.
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat