“Dạy học hợp tác là một PPDH, trong đó, mỗi học sinh được học tập trongmột nhóm, có sự cộng tác giữa các thành viên trong nhóm, giữa các nhóm để đạtmục đích chung.. - Hợp tác trong nhóm
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN
Tên học phần: Vận dụng lý luận vào thực tiễn trong dạy học môn Toán ở trường phổ thông
Mã học phần: TP2311
Mã lớp: 2207CH01A Học kì 2, năm học: 2022 - 2023
Trang 2Phú Thọ, tháng 10 năm 2022
Trang 3Ghi bằng Ghi bằngsố
phách
(Do HĐ chấm thi ghi)
phách
(Do HĐ chấm thi ghi)
Họ, tên và chữ ký củacán bộ chấm thi 1
Họ, tên và chữ ký củacán bộ chấm thi 2
Họ và tên HV: Vũ Văn Minh GVHD: PGS.TS Nguyễn Tiến Trung Ngày, tháng, năm sinh: 20/03/1979 Tên lớp: K7A
Mã lớp: 2207CH01A
Mã HV: 226CH01012
Họ, tên và chữ ký của giảng viên
thu bài thi
Trang 4BÀI TẬP TIỂU LUẬN Câu 1 (3 điểm) Anh (Chị) hãy trình bày tóm lược về lịch sử hình thành, một số
nội dung, khái niệm cơ bản của một trong các lí thuyết: lí thuyết kiến tạo(constructivism); lí thuyết học hợp tác (cooperative learning); lí thuyết Giáo dụctoán thực (Realistic Mathematics Education; lí thuyết học trải nghiệm(experiential learning) hoặc vấn đề giáo dục STEM (STEM education) Tiếp đó,anh (chị) hãy trình bày quan điểm của các anh chị về các gợi ý sư phạm từ việcvận dụng một hay một số lí thuyết hay quan điểm trên trong dạy học môn Toán
“Nền Dân chủ và Giáo dục” Ông cho rằng con người có bản chất sống hợp tác,trẻ cần được dạy biết cảm thông, tôn trọng quyền của người khác, làm việc cùngnhau để giải quyết vấn đề theo lẻ phải và cần được trải nghiệm quá trình sốnghợp tác ngay từ trong nhà trường Ông cũng cho rằng cuộc sống ở lớp học phải
là hiện thân của dân chủ, không chỉ trong việc HS tự do lựa chọn cách học vàthực hiện các dự án học tập cùng nhau mà còn cả trong việc HS học cách quan
hệ với người khác Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nhưDevries.D và Edwards.K ở trung tâm tổ chức xã hội, các trường học đã kết hợp
Trang 5học hợp tác nhóm (HHTN) tranh đua giữa các nhóm và các trò chơi học tập vậndụng vào thực tiễn hoạt động trong lớp học; E Cohen đã xây dựng một phươngpháp HTHT dựa trên những lý thuyết, những phát biểu mong đợi W Glasser đãnghiên cứu thúc đẩy việc sử dụng các mối quan hệ hợp tác giữa HS với nhau.
Những nghiên cứu trên cũng như các công trình khác của các nhà nghiên cứugiáo dục, khoa học xã hội ở Mỹ, Canada… đã đi tiên phong trong việc nghiêncứu và triển khai các bài học, chương trình, chiến lược và kỹ năng DHHT
Albert Bandura đưa ra lý thuyết học tập mang tính xã hội: “Sự làm việc đồngđội” Lý thuyết này được xây dựng trên nguyên tắc phổ biến: HS nỗ lực thựchiện những nhiệm vụ thì sẽ được khen thưởng, còn nếu không hoàn thành sẽkhông được khen hoặc bị chê Tư tưởng chính của thuyết này là khi các cá nhânlàm việc cùng nhau hướng tới mục tiêu chung thì sự phụ thuộc lẫn nhau sẽ thúcđẩy họ hoạt động tích cực hơn, qua đó giúp nhóm và chính bản thân mình đạtđến kết quả học tập mong muốn Jean Piaget với học thuyết “Sự giải quyết mâuthuẫn” cho rằng, để thúc đầy sự phát triển trí tuệ cho HS, GV sắp đặt từng cặp
HS có quan điểm đối lập với nhau về cách giải quyết vấn đề thành một nhóm vàyêu cầu từng cặp hai em này hoạt động cùng nhau cho đến khi nhất trí hoặc cócâu trả lời chung thì khi đó mới đi đến kết luận về bài học Sau khi các em thốngnhất, GV kiểm tra riêng từng em và luôn thấy rằng những em lúc đầu còn kémcỏi về một vấn đề nào đó thì bây giờ có thể tự mình giải quyết một cách đúngđắn, không khác với cách giải quyết của bạn mình Các tác giả Palincsar vàBrown xây dựng và phát triển phương pháp dạy lẫn nhau Theo phương phápnày, HS và GV thay phiên nhau đóng vai trò người dạy sau khi cùng nghiên cứutài liệu học tập GV làm mẫu đưa ra cách thức và các vấn đề, đặt các câu hỏi,cách tóm tắt, cách phân tích làm sáng tỏ vấn đề… HS học cách làm của GV và
áp dụng vào trong nhóm học tập của mình Các thành viên khác của nhóm thamgia thảo luận nêu ra các câu hỏi, trả lời, bình luận, tìm kiếm những từ ngữ chínhxác, thích hợp, khái quát và rút ra những kết luận Vai trò của từng thành viênđược luân phiên thay đổi Vào những năm 1980 trở lại đây, việc nghiên cứu vềDHHT đã được tiếp tục đẩy mạnh ở các nước Tây Âu Các nghiên cứu này
Trang 6hướng vào xây dựng mô hình và chiến lược dạy học theo nhóm hợp tác mộtcách có hiệu quả Chúng ta có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểunhư Brown và Palincsar năm 1989, Rosenshine, Meister năm 1994, Slavin năm
1990 và Renkl năm 1995 Các Ông cho rằng DHHT tạo lập và cải thiện nhữngmối quan hệ xã hội giữa các thành viên, với những đặc thù xã hội và phẩm chất
cá nhân Raja Roy Singh, nhà giáo dục của Ấn Độ trong cuốn sách “Nền giáodục cho thế kỷ XXI: Những triển vọng của Châu Á - Thái Bình Dương”, tác giả
đã đề cập tới nhiều nội dung cho giáo dục thế kỷ XXI, song vấn đề cần tập trunghơn cả về giáo dục con người là hình thành cho họ năng lực sáng tạo, có kỹnăng hợp tác chung sống với người khác, biết gắn bó con người với xã hội trongthế giới toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu rộng Theo ôngmột trong những PPDH đạt tới mục tiêu trên, đó là mô hình DHHT, học tập từbạn bè, từ cộng đồng, từ lao động và các hoạt động xã hội Ông còn cho rằng
“Sự hoàn thiện của hoạt động học là sự chia sẻ, người ta càng học càng khátkhao được chia sẻ… Học để đạt tới sự chắc chắn là để chuẩn bị cho sự chia sẻ”
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tập thể luôn được xem là môi trường để thực hiệnmục tiêu giáo dục con người phát triển toàn diện C Mác khẳng định: “Chỉ có trong cộng đồng cánhân mới có được những phương tiện để phát triển toàn diện những năng khiếu của mình và do đó,chỉ có trong cộng đồng mới có tự do cá nhân” Bằng việc đánh giá cao vai trò của tập thể, các nhàkinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, giáo dục con người trong tập thể là một nguyên lý cơbản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Dựa trên quan điểm Mác - Lê Nin về giáo dục, nhiều nhàkhoa học ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây đã đi sâu nghiên cứu về DHHT và áp dụngthành công trong thực tiễn giáo dục Trước tiên có thể kể tới công trình nghiên cứu của Vưgôtsky.Theo Ông, mọi chức năng tâm lý cao cấp đều có nguồn gốc xã hội và xuất hiện trước hết ở cấp độliên cá nhân, trước khi được chuyển vào trong và tồn tại ở cấp độ nội cá nhân Ông cho rằng “Trong
sự phát triển của trẻ, mọi chức năng tâm lý cao cấp đều xuất hiện hai lần, lần thứ nhất như là mộthoạt động tập thể, một hoạt động xã hội, nghĩa là như một chức năng liên tâm lý; lần thứ hai như làmột hoạt động cá
TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat
Trang 7nhân, như là một chức năng tâm lý bên trong” Vưgôtsky đã đưa ra khái niệmxây dựng lý thuyết về vùng phát triển gần, theo đó dạy học chỉ có hiệu quả vềvùng phát triển khi tác động của nó nằm ở vùng phát triển gần của HS Phải làmsao kích thích và làm thức tỉnh quá trình chuyển vào trong và hoạt động bêntrong của đứa trẻ và những quá trình như vậy chỉ diễn ra trong phạm vi mốiquan hệ với người xung quanh và sự hợp tác với bạn bè Các quá trình hướngnội này sẽ tạo nên những kết quả bên trong của bản thân trẻ "Điều trẻ em cùngvới nhau hôm nay, chúng sẽ tự làm được vào ngày mai" Quan điểm củaVưgôtsky đã chỉ ra sự cần thiết của mối quan hệ tương tác giữa người học vớimôi trường, giữa người học với nhau Dạy học nêu vấn đề theo hình thức hợptác nhóm cũng được tiến hành nghiên cứu với qui mô lớn ở Ba Lan vào nhữngnăm 1950-1960 với các công trình nghiên cứu của Bozdanxky, Rot, Kupixevich,Palatopxky… các tác giả đều khẳng định: Dạy học nêu vấn đề theo hình thứchợp tác nhóm có hiệu quả hơn hẳn so với dạy học nêu vấn đề ở lớp hoặc theo cánhân Trong cuốn chuyên khảo “Dạy học nêu vần đề” Ôkôn, V đã tiến hànhtổng kết các hình thức và các giai đoạn dạy học theo nhóm, mặt khác cũng chỉ
rõ việc tổ chức DHHT nhóm sẽ được diễn ra như thế nào trong hoàn cảnh cụ thểtương ứng với mục đích môn học, tiết học và vào tài nghệ sư phạm của GV
Dạy học hợp tác không chỉ nhằm mục đích giúp học sinh lĩnh hội kiến thức,
mà còn đạt được mục đích cao hơn, đó là dạy cách sống cho HS Đặc điểm của dạyhọc hợp tác là nó tạo nên sự chấp nhận, tôn trọng, liên kết và tin tưởng lẫn nhaugiữa các đối tượng trong giáo dục Dạy học hợp tác khẳng định tầm quan trọng của
sự ủng hộ về mặt xã hội Trong học tập hợp tác, sức ép thành tích luôn đặt ra phùhợp và cân bằng với mức độ của sự ủng hộ về mặt xã hội, tức là thách thức và ủng
hộ được duy trì ở thế cân bằng Để đạt được thành tích trong học tập, các HS cầncùng nhau tìm kiếm và khai thác các thông tin Việc học tập hợp tác sẽ giúp HSlàm được điều đó Trong học tập hợp tác, khả năng thành công và ý nghĩa củathành công lớn hơn rất nhiều, bởi vì HS thực sự coi thành công như một phầnthưởng tinh thần bên trong hơn là phần thưởng bên ngoài cho thành tích đạt được
Người tham gia học tập hợp tác có khuynh hướng vươn
Trang 8lên theo động lực nội tại của mình, vì vậy sự xuất hiện cảm xúc, tình cảm tíchcực sẽ mạnh hơn các hình thức học cá nhân và học tranh đua Như vậy để manglại thành tích và sản phẩm tốt nhất thì việc làm cùng nhau nhằm đạt đến mụctiêu chung là một trong những nguyên lý quan trọng nhất của tâm lý học quản lý
và tâm lý học xã hội Học tập hợp tác sẽ khẳng định rõ điều đó khi có các mụctiêu học tập quang trọng, đòi hỏi sự thông thạo kiến thức, kỹ năng và khả năngghi nhớ dài hạn Đặc biệt khi nhiệm vụ học tập phức tạp, khi cần đến nhiều cáchsuy nghĩ khác nhau, khi cần tập hợp các cách lập luận cũng như khi cần pháttriển tư duy phê phán
“Dạy học hợp tác là một PPDH, trong đó, mỗi học sinh được học tập trongmột nhóm, có sự cộng tác giữa các thành viên trong nhóm, giữa các nhóm để đạtmục đích chung Trong PPDH hợp tác, vai trò của GV là người tổ chức, điềukhiển việc học của học sinh thông qua học tập hợp tác, bằng việc thiết kế cácgiờ học hợp tác, vai trò của người học sinh là người học tập trong sự hợp tác
Hợp tác vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của dạy học Hoạt động trong giờdạy học hợp tác bao gồm: hợp tác giữa các học sinh trong một nhóm, hợp tácgiữa các nhóm và hợp tác giữa học sinh và GV
- Hợp tác trong nhóm học sinh bao gồm:
d) Trình bày kết quả của nhóm
- Hợp tác giữa các nhóm gồm: HĐ ghép (và/hoặc) đồng nhất hoá các kết quả học tập Học tập lẫn nhau giữa các nhóm, tư duy tổng hợp, phê phán
- Hợp tác giữa học sinh và GV bao gồm hoạt động phân tích, tổng hợp, hợp thức hoá kiến thức, đánh giá và tự đánh giá
Quan điểm hợp tác được xây dựng dựa trên cơ sở của thuyết làm việcđồng đội, thuyết giải quyết mâu thuẫn, thuyết hợp tác tập thể và thuyết dạy họclẫn nhau:
Trang 9Thuyết làm việc đồng đội:
Khi các cá nhân làm việc cùng nhau hướng tới một mục tiêu chung thì sựphụ thuộc lẫn nhau sẽ thúc đẩy họ hoạt động tích cực hơn, từ đó sẽ giúp nhóm,giúp cá nhân trong nhóm đạt đến thành công
Thuyết giải quyết mâu thuẩn ( thuyết Piagie ):
Theo Piagie để thúc đẩy sự phát triển trí tuệ cho HS nên đưa HS vàonhững tình huống là xuất hiện những quan điểm mâu thuẫn với nhau, tổ chức
HS vào các nhóm để thảo luận, suy nghĩ trao đổi, lập luận, đối thoại có phêphán,… cho đến khi có sự nhất trí trong nhóm hoặc có câu trả lời chung thì điđến kết luận về bài học
Thuyết hợp tác tập thể ( thuyết Vygotski ):
Vygotski cho rằng quá trình chuyển vào trong và hoạt động bên trong củađứa trẻ chỉ xảy ra trong phạm vi mối quan hệ với những người xung quanh và sựhợp tác với bạn bè, các quá trình nội tại này sẽ tạo nên những kết quả bên trong củabản thân đứa trẻ Nhiệm vụ của người GV là phải làm sao để kích thích và làm thứctĩnh quá trình chuyển vào trong và hoạt động bên trong của HS với quan điểm: điềutrẻ làm cùng với nhau hôm nay, chúng sẽ tự làm được vào ngày mai
Lớp học là môi trường giao tiếp của Thầy và trò, trò và trò, tạo nên mốiquan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường đi tới những tri thức mới
Trong dạy học hợp tác vẫn có giao tiếp thầy và trò, nhưng nổi lên mối quan hệgiao tiếp giữa trò với trò Thông qua sự hợp tác tìm tòi nghiên cứu, thảo luận tậpthể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, được điều chỉnh, khẳng định hay bác
bỏ, các thành viên trong nhóm chia sẽ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệmhiểu biết bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức Bằng cách nói ra những điềuđang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu
ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫnnhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động Theo cách này, các em dễhiểu, dễ nhớ hơn vì được tham gia trao đổi, trình bày vấn đề nêu ra, cảm thấyhào hứng trong sự thành công chung của tập thể Các em học được ở bạn tri
Trang 10thức, kĩ năng, rèn được phong cách sống hòa nhập biết lắng nghe, biết phê phán,biết tham gia.
Học tập hợp tác không mâu thuẫn với học tập các thể Trong học tập hợptác mục tiêu hoạt động là chung cho toàn nhóm, nhưng mỗi cá nhân đều phải nỗlực, không thể ỷ lại vào người khác, toàn nhóm phải phối hợp, tương trợ để cuốicùng đạt mục tiêu chung
Dạy học nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó HS của một lớphọc được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tựlực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kếtquả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp
Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên gọi khác nhau như dạy họchợp tác, dạy học theo nhóm nhỏ Dạy học nhóm không phải một phương phápdạy học cụ thể mà là một hình thức xã hội, hay là hình thức hợp tác của dạy học
Cũng có tài liệu gọi đây là một hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo nhiệm vụcần giải quyết trong nhóm mà có những phương pháp làm việc khác nhau được
sử dụng Khi không phân biệt giữa hình thức và phương pháp dạy học cụ thể thìdạy học nhóm trong nhiều tài liệu cũng được gọi là phương pháp dạy học nhóm
Số lượng HS trong một nhóm thường khoảng 4 -6 HS Nhiệm vụ của cácnhóm có thể giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, là cácphần trong một chủ đề chung
Ở mức độ cao, có thể đề ra những nhiệm vụ cho các nhóm HS hoàn toàn độc lập
xử lí các lĩnh vực đề tài và trình bày kết quả của mình cho những HS khác ở dạng bài giảng
Năm 1983, D.Johnson và R.Johnson đã phát biểu: “Nơi nào thực sự ápdụng dạy học hợp tác, nơi đó HS học được nhiều hơn, nhà trường dường như tốthơn, HS thân thiện với nhau hơn, tự trọng hơn và học các kĩ năng xã hội có hiệuquả hơn” Theo tài liệu “Learning together and alone” (học cùng nhau và họcmột mình) của David W.Johnson và Roger T.Johnson, Nxb Prentice Hall, 1961:
trong mỗi lớp học, GV có thể xây dựng bài học sao cho HS làm việc một cách
Trang 11hợp tác trong các nhóm nhỏ, bảo đảm mọi thành viên nắm vững tài liệu đượcgiao; gắn với một cuộc đua tranh thắng thua xem ai nhất; làm việc một cách độclập với mục tiêu học tập riêng, với bước đi và nhịp điệu riêng nhằm đạt các tiêuchí được đặt ra từ trước ở mức độ xuất sắc.
Theo D.Johnson, R.Johnson và Holubec (1990): Học tập hợp tác là toàn
bộ những hoạt động học tập mà HS thực hiện cùng nhau trong các nhóm, tronghoặc ngoài phạm vi lớp học Có 5 đặc điểm quan trọng nhất mà mỗi giờ học hợptác phải đảm bảo được là:
Theo Francis Parker: “Các thúc đẩy mạnh mẽ việc học tập cũng như dạnghoạt động khác là tinh thần giúp đỡ lẫn nhau” Ở đây, dạy học hợp tác là mộtchiến lược dạy học nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, trong đó các thànhviên tham gia hoạt động và học tập cùng nhau trong những nhóm nhỏ và giữacác nhóm với nhau nhằm mục đích phát triển sự hiểu biết và rèn luyện phongcách sống cho HS
3 Cách kiểu thực hiện dạy học hợp tác
Hoạt động trong giờ dạy học hợp tác bao gồm ba kiểu hợp tác: hợp tácgiữa các HS trong cùng một nhóm; hợp tác giữa các nhóm khác nhau và hợp tácgiữa GV với HS
a) Hợp tác giữa các HS trong cùng một nhóm: bao gồm ba bước:
Bước 1: Cá nhân tự nghiên cứu (hoạt động tư duy độc lập);
Bước 2: Thảo luận trong nhóm (hoạt động tư duy hội thoại có phê phán);
Bước 3: Trình bày kết quả của nhóm (hoạt động tư duy tổng hợp)
Trang 12b) Hợp tác giữa các nhóm khác nhau: bao gồm hai bước:
Bước 1: Hoạt động ghép các kết quả học tập (đồng nhất hoá các kết quả học tập);
Bước 2: Phát động phong trào học tập lẫn nhau giữa các nhóm (sử dụng tư duy tổng hợp có phê phán)
c) Hợp tác giữa GV với HS: bao gồm bốn bước: Bước 1: Hoạt động phân tích;
Bước 2: Hoạt động tổng hợp;
Bước 3: Hợp thức hoá kiến thức;
Bước 4: Đánh giá và tự đánh giá
PPDH hợp tác là một nhân tố quan trọng trong quá trình dạy học nóichung và trong quá trình dạy học bộ môn toán nói riêng Chúng ta có thể khaithác và sử dụng hiệu quả PPDH hợp tác trong nhiều tình huống dạy học bộ môntoán vì dạy học hợp tác có những ý nghĩa to lớn như sau: khi HS tham gia vàocác nhóm học tập sẽ thúc đẩy quá trình học tập, không khí học tập và tạo nênhiệu quả cao trong học tập, tăng tính chủ động tư duy, sự sáng tạo và khả năngghi nhớ của HS trong quá trình học tập, tăng thêm hứng thú học tập đối vớingười học, giúp HS phát triển các kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, phát triển tưduy hội thoại, nâng cao lòng tự trọng, ý thức trách nhiệm và sự tin tưởng củangười học, giúp thúc đẩy những mối quan hệ cạnh tranh mang tính tích cựctrong học tập
4 Sơ đồ thiết kế qui trình dạy học hợp tác
Trang 131 Thành lập nhóm hợp tác 1 Nhập vào nhóm
2 Giao nhiệm vụ cho từng nhóm 2 Tiếp nhận nhiệm vụ từ GV
3 Hướng dẫn nhóm cách giải 3 Tiếp nhận vai trò của nhóm
4 Hướng dẫn nhóm cách phân nhân trong nhómchia nhiệm vụ
1 Xác định và cụ thể hóa nhiệm 1 Tìm hiểu vấn đề, đề xuất
4 Hướng dẫn HS ghi lại kết quả 4 Đánh giá kết quả
Học tập hợp tác nhóm Hợp tác với các bạn trong nhóm
1 Định hướng hoạt động của 1 Trình bày và bảo vệ kết quả
2 Kích thích hoạt động nhóm 2 Tỏ thái độ trước ý kiến của
4 Điều chỉnh hoạt động nhóm 3 Góp ý bổ sung vào kết quả
4 Ghi lại ý kiến của nhóm theocách hiểu của mình
5 Sửa chữa bổ sung kết quảnghiên cứu
Trang 143 Yêu cầu nhóm khác bổ sung 3 Ghi lại ý kiến của nhóm khác
4 Nhấn mạnh cách khác biệt để 4 Khai thác bổ sung điều chỉnh
1 Tóm tắt từng vấn đề 1 So sánh với kết luận của thầy
3 Đưa một số câu hỏi kiểm tra 3 Hoàn thiện kết quả
4 Nhận xét về hoạt động của HS, 4 Rút kinh nghiệm về cách họcnhóm về học tập hợp tác
5 Một số kĩ thuật cần được sử dụng trong phương pháp dạy học hợp tác
Kĩ thuật học tập hợp tác theo kiểu “các mảnh ghép“ có tác dụng thúc đẩyhọc tập, nâng cao động cơ học tập của HS Nó cho phép HS trong một nhómđược học tập và chia sẻ khối lượng nội dung kiến thức lớn hơn Kĩ thuật “cácmảnh ghép“ được Elliot Aronson và các sinh viên của ông khởi xướng Kĩ thuậtnày giúp:
HS nắm được nội dung học một cách hiệu quả
Phát triển các kỹ năng nghe, tham gia và thấu cảm Tạo nên sự tương thuộc giữa HS với nhau
Tạo nên sự tương tác giữa HS với nhau
HS được chia thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm gồm 5-6 người Nhiệm vụcủa mỗi nhóm là tìm hiểu về một khía cạnh của chủ đề môn học và trở thành
“chuyên gia” trong lĩnh vực đó Trong nhóm “chuyên gia” này, HS sẽ cùng nhaunghiên cứu và hợp tác để xây dựng một báo cáo hoặc một bài thuyết trình Mỗi
HS đều chịu trách nhiệm với tư cách cá nhân và sau đó trình bày cho nhau vềnội dung nghiên cứu Khi những HS này đã trở thành “chuyên gia”, các nhóm sẽđược chia lại Mỗi nhóm mới được tạo thành từ những “chuyên gia” của cácnhóm trước đó Nhiệm vụ của mỗi “chuyên gia” là dạy cho các thành viên khác
Trang 15trong nhóm mới nội dung mà mình đã nghiên cứu trước đó Sau khi tất cả
“chuyên gia” của nhóm đã trình bày xong, các thành viên trong nhóm đều đãlĩnh hội 5-6 vấn đề mới của bài học và đã sẵn sàng làm bài kiểm tra, viết luận,hoặc lập nhóm với một “chuyên gia” khác để thiết kế bài thuyết trình đa phươngtiện
5.2 Kĩ thuật “ khăn trải bàn”
Cách tiến hành kĩ thuật “khăn trải bàn”
Hoạt động theo nhóm (4 người /nhóm hay 6 người/nhóm)
Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa
Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,…)
Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề ) Mỗi
cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút
Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các câu trả lời
Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn
- Từ mỗi chủ đề nhỏ lại tìm ra những yếu tố/nội dung liên quan
Sự phân nhánh cứ tiếp tục và các yếu tố/nội dung luôn được kết nối vớinhau Sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về chủ đề lớn mộtcách đầy đủ và rõ ràng
5.4 Kĩ thuật Suy ngẫm-Làm việc theo cặp-Chia sẻ
Trang 16Suy ngẫm–Làm việc theo cặp–Chia sẻ là một chiến thuật thảo luận hợptác trong đó HS làm việc theo ba giai đoạn: HS trình bày nội dung và thảo luậncác ý tưởng trước khi chia sẻ với cả nhóm Chiến lược này sử dụng hai đặc điểmquan trọng của học tập hợp tác là “thời gian suy ngẫm” và “tương tác nganghàng” Mục đích của chiến lược này là giúp HS xử lý thông tin, phát triển kỹnăng giao tiếp và trau dồi tư duy.
Với phương pháp này, GV:
1 Đặt một câu hỏi mở hoặc nêu vấn đề
2 Cho HS 1-2 phút để suy nghĩ câu trả lời
3 Chia HS theo cặp để thảo luận câu trả lời và chia sẻ ý tưởng
4 Tạo cơ hội để HS chia sẻ câu trả lời của mình trước nhóm nhỏ hoặc trước lớp
Do HS có thời gian suy nghĩ về câu trả lời, sau đó được chia sẻ với bạn vàtiếp thu được những quan điểm khác từ bạn bè, các em sẽ có tâm thế sẵn sàng và
ít e ngại hơn khi chia sẻ với một nhóm lớn hơn Chiến thuật này cũng cho HSthời gian để thay đổi câu trả lời nếu cần và do đó làm giảm đi nỗi sợ hãi rằngmình trả lời sai
Ví dụ:
GV: Cô có một câu hỏi để các em suy nghĩ trước khi chúng ta bắt
đầu bài học mới về phân số Ở những nơi nào ta sử dụng phân
số trong cuộc sống hàng ngày? Cô muốn các em dùng phươngpháp Suy ngẫm – Làm việc theo cặp – Chia sẻ để trình bày ýtưởng của mình Hãy dành một vài phút suy nghĩ về câu trả lời
và khi cô ra hiệu, hãy quay sang bạn mình và trao đổi ý tưởng
Sau đó, các em sẽ chia sẻ ý kiến của mình trước lớp (GV đợihai phút để HS suy nghĩ về câu trả lời) Bây giờ hãy quay sangbạn mình và thảo luận những gì em vừa nghĩ đến
HS 1: Mình nghĩ rằng chúng ta dùng phân số khi chia thức ăn Ví dụ
như bánh pizza Nếu bạn có 8 miếng bánh pizza mà bạn muốnmỗi người có một phần đều nhau thì bạn phải chia các miếng
Trang 17này ra Thế còn bạn?
HS 2 Lúc đầu mình cũng nghĩ đến thức ăn, nhưng sau đó mình nghĩ
về tiền Ví dụ 4 đồng 25 xu tương đương với 1 đô la, và 5 đồng
10 xu tương đương với 1 đô la 50 xu
GV: Bây giờ các em đã có cơ hội cùng chia sẻ ý tưởng theo cặp rồi,
mỗi cặp hãy chọn ra một người sẽ chia sẻ ý kiến với cả lớp
HS 1 HS 1 và HS 2 vừa nói về thực phẩm có thể được coi như cáchoặc phân số, ví dụ như bánh pizza Tiền cũng thế Có một số đồng
HS 2 tiền nhỏ sẽ tương đương với một số tiền lớn hơn Chúng em
nghĩ đó là phân số
GV: Cả 2 ý tưởng này đều là ví dụ rất tốt về sử dụng phân số trong
cuộc sống hàng ngày Cảm ơn các em đã chia sẻ
Bước 1: Thiết kế nhiệm vụ học tập cụ thể cho HS việc thiết kế nhiệm vụ
học tập cho HS là rất quan trọng Nhiệm vụ học tập phải ngầm chứa đựng nhữnggợi ý cho HS, giúp HS từng bước tìm ra kiến thức Người GV cần dựa vào trình
độ xuất phát của HS, năng lực của mỗi HS trong nhóm để đề xuất nhiệm vụ học
tập cho HS Để đáp ứng mọi trình độ của HS trong nhóm, cần đưa ra nhiềunhiệm vụ nhỏ từ đơn giản đến phức tạp trong một phiếu học tập cho một nộidung thảo luận nhóm
Bước 2: Tổ chức nhóm học tập
Để tổ chức nhóm học tập tốt thì chúng ta nên đưa ra các nhiệm vụ chianhóm và hướng dẫn HS hoạt động nhóm
- Các nhiệm vụ chia nhóm: tùy theo nội dung dạy học và tính chất hợp tác mà
GV có thể chọn nhóm học tập thuần nhất hay không thuần nhất, số lượng HS trong một nhóm có thểdao động từ 2 đến 8 HS
- Hướng dẫn HS hoạt động nhóm: trước khi HS hoạt động nhóm, người GV nênhướng dẫn HS phân công vài trò trong nhóm bao gồm: nhóm trưởng,