1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BUỔI THẢO LUẬN THỨ tư bảo vệ QUYỀN sở hữu

33 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 294,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I. ĐÒI ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA (7)
    • 1.1. Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao? (7)
    • 1.2. Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao? (7)
    • 1.3. Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài? (8)
    • 1.4. Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh có (8)
    • 1.5. Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn có căn cứ pháp luật không? Vì sao? (9)
    • 1.6. Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời (9)
    • 1.7. Người như hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không? Vì sao? (10)
    • 1.8. Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong BLDS? (10)
    • 1.9. Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù? Vì sao? (11)
    • 1.10. Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài không? (12)
    • 1.11. Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? (12)
    • 1.12. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao (13)
    • 1.13. Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào bảo vệ ông Tài không?..............................................................................7 1.14. Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu (13)
  • PHẦN II. ĐÒI BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA (15)
    • 2.1. Đoạn nào của Quyết định giám đốc thẩm cho thấy quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình? (16)
    • 2.2. Theo quy định (trong BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015), chủ sở hữu bất động sản được bảo vệ như thế nào khi tài sản của họ được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình? (16)
    • 2.3. Để bảo vệ bà X, theo Toà án nhân dân tối cao, Toà án phải xác định trách nhiệm của bà N như thế nào đối với bà X? (17)
    • 2.4. Hướng của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định (17)
    • 2.5. Theo anh/chị, hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao (trong câu hỏi trên) có thuyết phục không? Vì sao? (18)
  • PHẦN III. LẤN CHIẾM TÀI SẢN LIỀN KỀ (19)
    • 3.1. Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy ông Tận đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của ông Trường, bà Thoa và phần lấn cụ thể là bao nhiêu? (20)
    • 3.2. Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy gia đình ông Hòa đã lấn sang đất (không gian, mặt đất, lòng đất) thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên? (21)
    • 3.3. BLDS có quy định nào điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc quyền sử dụng của người khác không? (21)
    • 3.4. Ở nước ngoài, việc lấn chiếm như trên được xử lý như thế nào? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết (24)
    • 3.5. Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối (25)
    • 3.7. Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy Tòa án không buộc ông Tận tháo dỡ nhà đã được xây dựng trên đất lấn chiếm (52,2 m2)? (26)
    • 3.9. Nếu ông Trường, bà Thoa biết và phản đối ông Tận xây dựng nhà trên thì ông Tận có phải tháo dỡ nhà để trả lại đất cho ông Trường, bà Thoa không? Vì sao?20 3.10. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến phần đất ông Tận lấn chiếm và xây nhà trên (26)
    • 3.11. Theo Tòa án, phần đất ông Tận xây dựng không phải hoàn trả cho ông Trường, bà Thoa được xử lý như thế nào? Đoạn nào của Quyết định số 23 cho câu trả lời? (27)
    • 3.12. Đã có quyết định nào của Hội đồng thẩm phán theo hướng giải quyết như Quyết định số 23 liên quan đến đất bị lấn chiếm và xây dựng nhà không? Nêu rõ Quyết định mà anh/chị biết (28)
    • 3.13. Anh/chị có suy nghĩ gì về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán (28)
    • 3.14. Đối với phần chiếm không gian 10,71 m 2 và căn nhà phụ có diện tích 18,57m 2 trên đất lấn chiếm, Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm có buộc tháo dỡ không? (29)
    • 3.15. Theo anh/chị thì nên xử lý phần lấn chiếm không gian 10,71 m 2 và căn nhà phụ trên như thế nào? (30)
    • 3.16. Suy nghĩ của anh/chị về xử lý việc lấn chiếm quyền sử dụng đất và không (31)
    • 3.17. Hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 23 có còn phù hợp với (31)

Nội dung

Quyết định của Tòa án công nhận quyền sở hữu trâu cho ông Tài,ông Thơ chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.. Quyết định hủy bản án dân sự phúcthẩm số 25/DSPT ngày 22/10/2004 của TAND Lào

ĐÒI ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA

Trâu là động sản hay bất động sản? Vì sao?

Trâu là động sản vì theo quy định tại Điều 107 của BLDS 2015 thì:

Bất động sản bao gồm đất đai, nhà và công trình xây dựng gắn liền với đất đai, cùng với các tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng theo quy định của pháp luật Các loại tài sản này xác định rõ phạm vi của bất động sản và là nền tảng cho các hoạt động liên quan đến bất động sản theo quy định pháp luật hiện hành.

2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”

Trâu có là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu không? Vì sao?

Trâu không phải là tài sản bắt buộc đăng ký quyền sở hữu theo quy định pháp luật Theo khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Dân sự 2015, quyền sở hữu đối với tài sản là động sản không cần đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác về đăng ký tài sản.

Đoạn nào của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài?

Đoạn của Quyết định cho thấy trâu có tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Tài là:

Dựa trên lời khai của ông Triệu Tiến Tài (BL 06-08), các nhân chứng gồm anh Phúc (BL 19), anh Chu (BL 20), anh Bảo (BL 22), cùng kết quả giám định con trâu tranh chấp (biên bản ngày 16-8-2004, xác minh của cơ quan chuyên môn ngày 17-8-2004, biên bản diễn giải ngày 20-8-2004 - BL 40-42) xác định rõ con trâu cái màu đen 4 năm 9 tháng tuổi mới sấn mũi lần đầu, cùng con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Triệu Tiến Tài Ông Thơ là người chiếm hữu và sử dụng tài sản trái pháp luật.

Thế nào là chiếm hữu tài sản và ai đang chiếm hữu trâu trong hoàn cảnh có

Theo quy định tại Điều 182 của BLDS năm 2005 về quyền chiếm hữu thì:

“Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản.” Điều 179 của BLDS năm 2015 về khái niệm chiếm hữu thì:

"1 Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.

2 Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.

Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể xác lập quyền sở hữu, trừ những trường hợp theo quy định của Bộ Luật Dân sự Ông Dòn đang trong quá trình chiếm hữu con trâu có tranh chấp, phù hợp với các điều khoản luật định về quyền sở hữu và bảo vệ tài sản.

Việc chiếm hữu như trong hoàn cảnh của ông Dòn có căn cứ pháp luật không? Vì sao?

Việc ông Dòn chiếm hữu tài sản là có căn cứ pháp luật Theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự 2005, khi giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản là bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình qua một giao dịch khác, thì giao dịch vẫn có hiệu lực đối với người thứ ba Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình trong các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu, trừ những trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này.

Thế nào là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

cơ sở pháp lý khi trả lời Điều 183 BLDS 2005 Chiếm hữu có căn cứ pháp luật

“Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau đây:

1 Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;

2 Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;

3 Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;

4 Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;

5 Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;

6 Các trường hợp khác do pháp luật quy định.” Điều 189 BLDS 2005 Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình

“Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại Điều 183 của Bộ luật này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

Người chiếm hữu tài sản ngay tình, không có căn cứ pháp luật nhưng không biết và không thể biết về việc chiếm hữu của mình là không hợp pháp Trong luật pháp Việt Nam, quyền của người chiếm hữu thiện ý được bảo vệ, miễn là họ không biết rằng việc chiếm hữu đó trái pháp luật Tuy nhiên, khi phát hiện ra rằng tài sản họ đang chiếm hữu không có căn cứ pháp lý, họ cần thực hiện các hành động phù hợp để đảm bảo quyền lợi của mình Điều quan trọng là hiểu rõ các quy định pháp luật liên quan đến quyền sở hữu và chiếm hữu tài sản để tránh rủi ro pháp lý không mong muốn.

Người như hoàn cảnh của ông Dòn có là người chiếm hữu ngay tình không? Vì sao?

_Ông Dòn là người chiếm hữu ngay tình vì:

Giao dịch này trải qua nhiều giai đoạn, bắt đầu từ ông Thơ bán cho ông Thi rồi sau đó ông Thi lại chuyển nhượng cho ông Dòn Tuy nhiên, việc ông Thơ chiếm hữu tài sản ngay từ đầu là không có căn cứ pháp luật, vì theo Điều 183 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về Chiếm hữu có căn cứ pháp luật, thì việc chiếm hữu hợp pháp phải dựa trên các quy định rõ ràng của pháp luật.

“Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong các trường hợp sau đây:

1 Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;

2 Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;

3 Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;

4 Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;

5 Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định;

Trường hợp của ông Thơ là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật, khiến các giao dịch giữa ông Thơ và ông Thi, cũng như giữa ông Thi và ông Dòn, đều không hợp pháp Tuy nhiên, do ông Dòn không biết và không thể biết con Trâu thuộc quyền sở hữu của ông Thơ, ông tin rằng các giao dịch của ông Thi và ông Thơ là hợp pháp Vì vậy, việc ông Dòn chiếm hữu tài sản này được xem là chiếm hữu ngay tình theo quy định tại Điều 183 Bộ luật Dân sự 2005.

Thế nào là hợp đồng có đền bù và không có đền bù theo quy định về đòi tài sản trong BLDS?

_Căn cứ theo Điều 257 BLDS 2005 quy định về Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình thì:

Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình khi người này có được tài sản thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt Trong trường hợp hợp đồng có đền bù, chủ sở hữu vẫn có quyền đòi lại động sản nếu tài sản bị lấy cắp, mất hoặc bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.

Hợp đồng có đền bù là loại hợp đồng trong đó mỗi bên sau khi đã thực hiện lợi ích cho bên kia sẽ nhận lại lợi ích tương ứng Đa số các hợp đồng dân sự thuộc dạng hợp đồng có đền bù, nhằm mục đích trao đổi các lợi ích vật chất giữa các bên Tính chất đền bù trong hợp đồng giúp đảm bảo quyền lợi công bằng và thúc đẩy việc thực hiện nghĩa vụ giữa các bên Hợp đồng có đền bù chủ yếu là hợp đồng song vụ, trong đó các bên cùng nhau thực hiện nghĩa vụ và nhận lại lợi ích phù hợp.

 Ví dụ: hợp đồng mua bán tài sản Điều 428 BLDS 2005, hợp đồng trao đổi tài sản tại điều 463 BLDS 2005, hợp đồng thuê tài sản tại Điều 480 BLDS 2005,

Hợp đồng không có đền bù là loại hợp đồng trong đó một bên nhận lợi ích từ bên kia mà không phải cung cấp lại lợi ích nào Loại hợp đồng này thường dựa trên tình cảm và tinh thần tương thân, tương ái giữa các chủ thể Mặc dù các bên đã hứa hẹn và thống nhất ý chí, việc chấp nhận đề nghị không mang tính ràng buộc pháp lý đối với bên đề nghị Đối với hợp đồng tặng cho tài sản, pháp luật quy định hợp đồng này có hiệu lực khi các bên đã thực tế trao đối tượng tặng hoặc hoàn thành thủ tục chuyển quyền sở hữu.

 Ví dụ: hợp đồng tặng cho tài sản tại Điều 465 và Điều 470 BLDS

2005, hợp đồng mượn tài sản tại Điều 512 BLDS 2005.

Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù hay không có đền bù? Vì sao?

_Ông Dòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù, vì:

Theo Quyết định số 123/2006/DS-GĐT ngày 30/05/2006 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, nhận thấy rằng lời khai của ông Tài xác định rõ các tình tiết quan trọng liên quan đến vụ án Tòa án đã xem xét các chứng cứ và nhận định rằng những thông tin do ông Tài cung cấp phù hợp với hồ sơ vụ án và thể hiện đúng bản chất sự việc Các căn cứ này góp phần làm rõ các yếu tố then chốt nhằm đưa ra quyết định công bằng và chính xác trong vụ án dân sự.

Thơ dắt trâu về nhà mổ thịt ghé và bán trâu mẹ cho ông Thi được 3.800.000đ, sau đso ông Thi đổi cho ông Dòn lấy con trâu cái sổi” Còn tại lời khai của ông Thơ thì:

“Ông đã mổ lấy thịt, bán trâu mẹ cho ông Thi với giá 3.800.000đ Sau ông Thi lại đổi cho ông Chiên (Dòn)” Từ 2 lời khai trên ta có thể thấy giữa ông Thi và ông Dòn, giá trị của con trâu bị tranh chấp đã trao đổi với con trâu cái sỏi Vì vậy, có thể nói ÔngDòn có được con trâu thông qua giao dịch có đền bù.

Trâu có tranh chấp có phải bị lấy cắp, bị mất hay bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài không?

_Trâu có tranh chấp bị chiếm hữu ngoài ý chí của ông Tài, vì:

Theo lời khai của ông Tài, gia đình ông có đàn trâu gồm 10 con, trong đó có 5 con đã xiên mũi và 5 con chưa xiên mũi, thường thả rông trên bãi ruộng mèo gần thôn Nậm Mười, xã Dần Thàng Trong số đó có một con trâu non 4 tuổi 5 tháng, sinh con vào tháng 2/2004, hiện có một con nghé đực khoảng 3 tháng tuổi mà hàng tháng ông vẫn theo dõi Vào chiều ngày 18/03/2004, ông Hà Văn Thơ dẫn một con trâu mẹ và một con nghé đi qua nhà ông Tài, ông Tài nhận ra là trâu, nghé của mình và đã trao đổi với ông Thơ Tuy nhiên, ông Thơ nói đó là trâu ông mua từ tháng 6/2002, do thả rông nên bị mất từ tháng 9/2003 và mới tìm lại được hiện tại.

Ông Tài vẫn giữ quyền sở hữu con Trâu, hàng tháng vẫn đến xem và chưa có ý định bán, cho, tặng hoặc trao đổi con trâu đó Ông khá bất ngờ khi thấy ông Thơ dắt trâu đi qua, nhận ra ngay đó là trâu của mình, nhưng không thành công trong việc xác minh chính xác do không thể lại gần để quan sát kỹ.

Theo Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao, ông Tài được đòi trâu từ ông Dòn không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Theo Toà án nhân dân tối cao, ông Tài không có quyền đòi lại con trâu từ ông Dòn trong vụ án tranh chấp Toà án sơ thẩm đã tiến hành điều tra, xác minh và thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định con trâu tranh chấp giữa ông Tài và ông Thơ Đồng thời, Toà án đã quyết định buộc ông Thơ phải hoàn trả giá trị con trâu và con nghé vì việc chiếm hữu tài sản của ông Thơ là không có căn cứ pháp luật.

Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao

Trâu là động sản không bắt buộc phải đăng ký, do đó quyền đòi lại theo quy định tại Điều 257 Bộ luật Dân sự 2005 áp dụng khi người chiếm hữu ngay tình có quyền sở hữu đối với động sản đó Trong trường hợp ông Tài và ông Dòn đang tranh chấp về con trâu, việc xác định họ là người chiếm hữu ngay tình chứng minh rằng họ đủ điều kiện để yêu cầu trả lại tài sản theo quy định của pháp luật Trâu thuộc dạng tài sản bị chiếm hữu ngoài ý muốn, và việc sở hữu của họ đã được chứng minh rõ ràng, phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về quyền đòi lại động sản không đăng ký.

Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình nếu người chiếm hữu ngay tình có được tài sản thông qua hợp đồng không đền bù với người không có quyền định đoạt Trong trường hợp hợp đồng có đền bù, chủ sở hữu vẫn có quyền đòi lại động sản nếu tài sản bị lấy cắp, mất hoặc bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu Ví dụ, ông Tài có quyền đòi lại trâu từ ông Dòn vì ông Dòn có được trâu qua hợp đồng có đền bù với ông Thi, tức là hợp đồng mua bán hợp pháp.

Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì pháp luật hiện hành có quy định nào bảo vệ ông Tài không? 7 1.14 Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu

có quy định nào bảo vệ ông Tài không?

Theo quy định tại khoản 2 điều 164, pháp luật hiện hành bảo vệ quyền lợi của ông Tài khi ông không thể đòi lại trâu từ ông Dòn Cụ thể, chủ sở hữu hoặc các chủ thể có quyền đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền bắt buộc người có hành vi gây thiệt hại phải bồi thường Điều này thể hiện rõ quyền của ông Tài trong việc bảo vệ tài sản của mình theo quy định của pháp luật.

1.14 Khi ông Tài không được đòi trâu từ ông Dòn thì Tòa án đã theo hướng ông Tài được quyền yêu cầu ai trả giá trị con trâu? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh và thu thập đầy đủ chứng cứ, xác định ông Tài có quyền yêu cầu ông Thơ trả lại giá trị con trâu sau khi ông Dòn không được đòi trâu từ ông Dòn Quyết định của Tòa khẳng định rằng việc hoàn trả lại giá trị con trâu và con nghé cho ông Tài có căn cứ pháp luật vững chắc.

1.15 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao

Hướng giải quyết của Tòa án chưa thực sự thuyết phục vì không đề cập đến việc ông Thơ khai mua một con trâu cái từ ông Phùng Văn Tài vào tháng 6/2002, trong khi bản án không nhắc đến vấn đề này Nếu lời khai của ông Thơ là đúng, ông có thể là người chiếm hữu ngay tình do không biết con trâu là của ông Triệu Tiến Tài, do đó cần xác minh xem ông Thơ có thực sự mua trâu từ ông Tài và có biết đó là của ông Tài không Nếu đúng như vậy, ông Thơ sẽ là người chiếm hữu ngay tình và không phải bồi thường thiệt hại, trong khi trách nhiệm thuộc về ông Phùng Văn Tài.

ĐÒI BẤT ĐỘNG SẢN TỪ NGƯỜI THỨ BA

Đoạn nào của Quyết định giám đốc thẩm cho thấy quyền sử dụng đất có tranh chấp thuộc bà X và đã được bà N chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?

Đoạn: “Sau đó, ngày 19/8/2010, bà N chuyển nhượng cho ông M diện tích

323,2m 2 , ngày 1/10/2010 ông M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông

M đã xây dựng nhà 4 tầng trên mảnh đất của mình Đến ngày 21/10/2011, bà N đã tặng cho con gái là chị Nguyễn Vi L Sau đó, chị L đã chuyển nhượng 173,1m² đất (thực tế đo được là 170,9m²) cho ông Lăng Đào Minh Đ và bà Trần Thu T2; cả hai đã nhận đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 24/7/2012 Diện tích đất còn lại của chị L sau chuyển nhượng là 744m² Các giao dịch tặng cho và chuyển nhượng này đã hoàn tất trước khi có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 410/2012/KN-DS ngày 24/9/2012 và Quyết định giám đốc thẩm số 55/2013/DS-GĐT ngày 30/01/2013 của Tòa án nhân dân tối cao, hủy bỏ toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 123/2009/DS-PT Theo quy định tại Khoản 2 Điều 138 và Điều 258 Bộ luật dân sự 2005, các giao dịch của ông M1, bà Q, chị L, ông Đ, bà T2 đều là các giao dịch của người thứ ba ngay tình và được pháp luật bảo vệ.

Theo quy định (trong BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015), chủ sở hữu bất động sản được bảo vệ như thế nào khi tài sản của họ được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình?

Điều 167 BLDS 2015: Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình

Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình nếu người chiếm hữu ngay tình có được tài sản này qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt Trong trường hợp hợp đồng có đền bù, chủ sở hữu vẫn có quyền lấy lại động sản nếu tài sản đó bị lấy cắp, mất mát hoặc bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu Theo Điều 168 Bộ luật Dân sự 2015, quyền đòi lại động sản yêu cầu việc đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình.

Chủ sở hữu muốn đòi lại động sản hoặc bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình Trường hợp này không áp dụng nếu có quy định khác tại khoản 2 Điều 133 của pháp luật Việc đăng ký quyền sở hữu đảm bảo quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu khi lấy lại tài sản Các quy định này giúp xác định rõ quyền sở hữu và bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu trong quá trình tranh chấp.

Để bảo vệ bà X, theo Toà án nhân dân tối cao, Toà án phải xác định trách nhiệm của bà N như thế nào đối với bà X?

Tòa án cấp phúc thẩm không công nhận diện tích đất của bà L, ông Đ, bà T theo các điều luật đã nêu, mà buộc bà N trả 914m² đất cho nguyên đơn, trong đó có 744m² bà L đứng tên và 170,9m² ông Đ, bà T đứng tên là không đúng Tòa án quy định bà N phải trả giá trị quyền sử dụng 914m² đất cho nguyên đơn, phù hợp với thực tế Giá trị đất 1.254.400.000 đồng do Tòa án cấp sơ thẩm đề xuất cho bà X là không có cơ sở pháp lý, gây thiệt hại quyền lợi của ông M Tòa án yêu cầu bà N phải trả đúng giá trị đất 914m², tương đương 1.254.400.000 đồng, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn.

Hướng của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên đã được quy định

Hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao được quy định rõ trong Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể tại Điều 167 và Điều 168 Theo Điều 167, chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình khi người chiếm hữu này đã có được động sản thông qua hợp đồng không đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản, hoặc trong trường hợp động sản bị lấy cắp, mất hoặc bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu Điều 168 quy định rằng, chủ sở hữu có thể đòi lại động sản từ người chiếm hữu ngay tình, đồng thời phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản, trừ những trường hợp được quy định rõ tại khoản 2 Điều này.

Theo anh/chị, hướng giải quyết của Toà án nhân dân tối cao (trong câu hỏi trên) có thuyết phục không? Vì sao?

Toà án nhân dân tối cao đã có hướng giải quyết thuyết phục trong vụ việc này, dựa trên việc bà T đồng ý chuyển nhượng quyền thừa kế nhà đất tranh chấp cho bà X và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Diện tích đất tranh chấp là 1.518,86m² (thực tế đo đạc là 1.466,1m²), thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 27, tại số 46 (cũ 2/15/0 đường T, thành phố B, tỉnh B) theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà cấp cho bà Nguyễn Thị X ngày 09/6/1989 Do đó, toà án xác định bà N phải trả cho bà X giá trị đất là 1.254.400.000 đồng, đây là mức giá hợp lý phù hợp với quy định pháp luật.

LẤN CHIẾM TÀI SẢN LIỀN KỀ

Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy ông Tận đã lấn sang đất thuộc quyền sử dụng của ông Trường, bà Thoa và phần lấn cụ thể là bao nhiêu?

Đoạn của quyết định số 23 cho thấy ông Hậu đã lấn sang đất thuộc quyền của ông Trê, bà Thi là:

Ông Hậu cho rằng diện tích đất trên do ông chuyển nhượng từ anh Trần Thanh Kiệt, tuy nhiên, theo giấy biên nhận ngày 29/03/1994 giữa ông Hậu và anh Kiệt không có xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và không nêu rõ vị trí cũng như tứ cận, mốc giới cụ thể Gia đình ông Trê đã quản lý và sử dụng đất tranh chấp từ trước khi việc chuyển nhượng diễn ra và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994 do bà Châu Kim Chi, vợ ông Trê, đứng tên Theo sơ đồ thể hiện trong giấy chứng nhận, thửa đất có mốc giới rõ ràng, phù hợp với sơ đồ đo vẽ ngày 28/03/2000 và công văn ngày 10/03/2006 của Phòng tài nguyên và môi trường huyện CN, khẳng định ranh đất cấp cho bà Thi có “ranh thẳng”, qua đó xác định ông Hậu đã lấn chiếm đất của ông Trê.

Trong quá trình xét xử, đã xác định rõ tổng diện tích đất và phần đất lấn chiếm của ông Hậu Cụ thể, ông Hậu đã lấn chiếm 132,8m² đất thuộc quyền sử dụng của ông Trê Đây là nội dung quan trọng thể hiện hành vi vi phạm quyền sử dụng đất của ông Hậu Việc xác định chính xác diện tích đất lấn chiếm giúp đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

Trong khuôn viên đất của ông Trê và bà Thi rộng 10,71m² là khu vực mái máng xối đúc bê tông chiếm dụng Ngoài ra, căn nhà chính rộng 52,2m² đã được Tòa án các cấp giao cho ông Hậu sử dụng hợp pháp, bên cạnh đó còn có một căn nhà phụ diện tích 18,57m² do ông Hậu xây dựng trên phần đất mà Tòa án buộc phải trả lại cho ông Trê và bà Thi.

Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy gia đình ông Hòa đã lấn sang đất (không gian, mặt đất, lòng đất) thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên?

Trong Quyết định số 617, các điều khoản nào cho thấy gia đình ông Hòa đã lấn sang đất thuộc quyền của gia đình ông Trụ, bà Nguyên, đặc biệt liên quan đến diện tích đất, không gian, mặt đất hoặc lòng đất?

Trong quá trình sửa chữa nhà, gia đình ông Hòa đã thi công 4 ô văng cửa sổ và tiến hành bê tông hóa, chôn một ống thoát nước ngoài tường nhà nằm trên phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên Tuy nhiên, dưới lòng đất của gia đình ông Hòa còn có ống nước do chính gia đình ông Hòa chôn cất, nhưng các cấp tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đều cho rằng ông Hòa không bắt buộc phải tháo dỡ các công trình này, điều này cho thấy còn tồn tại những tranh cãi về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong vụ việc.

BLDS có quy định nào điều chỉnh việc lấn chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc quyền sử dụng của người khác không?

Dựa theo các Điều 174, 176, 177, 178 của Bộ luật Dân sự 2015, có quy định về việc điều chỉnh quyền chiếm đất, lòng đất và không gian thuộc quyền sử dụng của người khác Trong đó, Điều 174 nhấn mạnh nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng, yêu cầu các bên phải tuân thủ các quy định pháp luật để đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu đất đai và không gian Các quy định này góp phần duy trì trật tự, an toàn và công bằng trong việc sử dụng đất đai và lòng đất, hạn chế các tranh chấp liên quan đến quyền chiếm hữu và sử dụng diện tích đất và không gian nằm dưới nền đất.

Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu hoặc các chủ thể có quyền liên quan phải tuân thủ các quy định pháp luật về xây dựng để đảm bảo an toàn cho công trình và không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách pháp luật quy định Ngoài ra, họ không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu cũng như người có quyền khác đối với các bất động sản liền kề và xung quanh Ranh giới giữa các bất động sản là yếu tố quan trọng cần được xác định rõ ràng để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

1 Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.

Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, bao gồm cả những ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh hoặc bờ ruộng, nhằm bảo vệ tính toàn vẹn của ranh giới chung Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng và duy trì các ranh giới này để đảm bảo trật tự, an toàn và quyền lợi của các bên liên quan Việc duy trì ranh giới đúng quy định góp phần hạn chế tranh chấp đất đai, bảo vệ tài sản và duy trì môi trường sinh thái bền vững.

2 Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và thực hiện các hoạt động trong phạm vi đất của mình theo ranh giới đã được xác định rõ ràng Nếu rễ cây hoặc cành cây vượt quá ranh giới, họ phải xén rễ, cắt, tỉa phần vượt quá, trừ khi có thỏa thuận khác Điều 176 quy định về mốc giới ngăn cách các bất động sản, đảm bảo quyền sử dụng đất đúng ranh giới pháp lý.

1 Chủ sở hữu bất động sản chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.

2 Các chủ sở hữu bất động sản liền kề có thể thỏa thuận với nhau về việc dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên ranh giới để làm mốc giới ngăn cách giữa các bất động sản; những vật mốc giới này là sở hữu chung của các chủ thể đó.

Khi mốc giới ngăn cách chỉ do một bên tạo ra trên ranh giới và được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý, thì mốc giới đó trở thành sở hữu chung Chi phí xây dựng mốc giới chung do bên tạo nên chịu trách nhiệm, trừ khi có thỏa thuận khác Trong trường hợp chủ sở hữu bất động sản liền kề không đồng ý và có lý do chính đáng, thì các vật thể như cột mốc, hàng rào, cây trồng, và tường ngăn đã xây dựng phải được dỡ bỏ theo quy định.

3 Đối với mốc giới là tường nhà chung, chủ sở hữu bất động sản liền kề không được trổ cửa sổ, lỗ thông khí hoặc đục tường để đặt kết cấu xây dựng, trừ trường hợp được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý.

Trong trường hợp nhà xây riêng biệt nhưng tường sát liền nhau, chủ sở hữu chỉ được đục tường, đặt kết cấu xây dựng đến giới hạn ngăn cách của mình để đảm bảo quyền sử dụng hợp pháp Về mốc giới chung, các bên có nghĩa vụ bảo vệ và hoa lợi thu được từ cây sẽ được chia đều trừ khi có thoả thuận khác Điều 177 quy định về việc đảm bảo an toàn trong trường hợp cây cối hoặc công trình có nguy cơ gây thiệt hại, nhấn mạnh trách nhiệm của các bên trong phòng ngừa và xử lý rủi ro.

1 Trường hợp cây cối, công trình xây dựng có nguy cơ sập đổ xuống bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu tài sản thực hiện ngay các biện pháp khắc phục, chặt cây, sửa chữa hoặc dỡ bỏ công trình xây dựng đó theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu không tự nguyện thực hiện thì chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho chặt cây, phá dỡ. Chi phí chặt cây, phá dỡ do chủ sở hữu cây cối, công trình xây dựng chịu.

2 Khi đào giếng, đào ao hoặc xây dựng công trình dưới mặt đất, chủ sở hữu công trình phải đào, xây cách mốc giới một khoảng cách do pháp luật về xây dựng quy định.

Khi xây dựng các công trình như nhà vệ sinh, kho chứa chất độc hại hoặc các công trình có khả năng gây ô nhiễm môi trường, chủ sở hữu phải xây dựng cách mốc giới một khoảng cách hợp lý Đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn, đồng thời không ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ sở hữu bất động sản lân cận.

3 Trường hợp gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì chủ sở hữu cây cối, công trình phải bồi thường. Điều 178 Trổ cửa nhìn sang bất động sản liền kề

1 Chủ sở hữu nhà chỉ được trổ cửa ra vào, cửa sổ quay sang nhà bên cạnh, nhà đối diện và đường đi chung theo quy định của pháp luật về xây dựng.

2 Mặt dưới mái che trên cửa ra vào, mặt dưới mái che cửa sổ quay ra đường đi chung phải cách mặt đất từ 2,5 mét trở lên.

Ở nước ngoài, việc lấn chiếm như trên được xử lý như thế nào? Nêu ít nhất một hệ thống pháp luật mà anh/chị biết

Dựa trên Bộ Luật dân sự của Pháp, việc lấn chiếm đất đai được quy định rõ ràng, trong đó Điều 671 cho phép trồng cây gần giới hạn bất động sản theo quy định cụ thể hoặc theo thông lệ, với khoảng cách tối thiểu từ 0.5 đến 2 mét tùy theo loại cây, và chủ sở hữu có quyền xây dựng giàn đứng trên tường nếu không phải là vách ngăn chung Điều 672 quy định rằng chủ bất động sản có thể yêu cầu cắt hoặc làm giảm chiều cao cây trồng gần hơn nếu không phù hợp luật hiện hành, và khi cây chết hoặc bị chặt, chủ sở hữu có quyền thay thế nhưng vẫn phải tuân thủ khoảng cách pháp luật Theo Điều 673, chủ bất động sản có quyền yêu cầu hàng xóm cắt bỏ cành cây vượt sang đất của mình, đồng thời hưởng lợi từ quả chảy xuống đất, còn rễ hoặc cành nhỏ là quyền yêu cầu cắt hoặc tự cắt mà không bị thời hiệu chấm dứt Cuối cùng, Điều 675 cấm mở cửa sổ hoặc lỗ cửa vào chung tường mà không có sự đồng ý của chủ đất bên kia, đảm bảo quyền lợi và quyền kiểm soát của chủ sở hữu đối với tường chung.

1 Art 671 (Act of 20 Aug 1881), Updated 04/04/2006 - Page 101/268 – French Civil Code.

2 Art 672 (Act of 20 Aug 1881) ,Updated 04/04/2006 - Page 101,102 /268- French Civil Code.

Theo Điều 681 của Bộ luật Dân sự Pháp, chủ sở hữu bất động sản có trách nhiệm lắp đặt mái nhà sao cho nước mưa chảy vào đất của mình hoặc vào đường công cộng, không được để nước mưa tràn vào đất của hàng xóm Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan và duy trì sự hòa hợp trong cộng đồng Các quy định này đã được quy định rõ ràng trong các điều khoản của Bộ luật Dân sự Pháp từ năm 1881 và tiếp tục được giữ nguyên qua các sửa đổi sau này Chủ sở hữu cần tuân thủ các quy định để tránh gây thiệt hại hoặc tranh chấp về quyền lợi sử dụng đất.

Đoạn nào của Quyết định số 617 cho thấy Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối

Quyết định số 617 của tòa án dân sự tối cao chỉ rõ rằng gia đình ông Hòa phải tháo dỡ phần lấn sang không gian và mặt đất của gia đình ông Trụ, bà Nguyên, nhằm đảm bảo quyền sở hữu hợp pháp và trật tự an toàn của khu vực đất đai Tòa án nhấn mạnh việc cưỡng chế này là cần thiết để duy trì quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan, đồng thời thúc đẩy quá trình giải quyết tranh chấp đất đai một cách công bằng và minh bạch Quyết định này thể hiện rõ sự cương quyết của tòa án trong việc xử lý các vi phạm về ranh giới đất đai, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật đất đai trong cộng đồng.

Trong quá trình sửa chữa nhà, gia đình ông Hòa đã xây dựng 4 ô văng cửa sổ, một máng bê tông và chôn ống thoát nước dưới đất ngoài phía tường nhà Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm xác định rằng các công trình của ông Hòa xâm phạm phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trụ, buộc gia đình ông Hòa phải tháo dỡ các công trình này là có căn cứ hợp pháp Tuy nhiên, việc Tòa án không buộc gia đình ông Hòa phải tháo dỡ ống nước chôn dưới lòng đất gần tường nhà là không đúng quy định pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình ông Trụ.

3.6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao

Toà dân sự của Tòa án nhân dân tối cao đưa ra giải pháp hợp lý dựa trên căn cứ tài liệu vụ án và quy định của khoản 2 Điều 265 Bộ luật Dân sự 2005 Thửa đất số 53 của ông Trụ nằm liền kề với thửa đất số 76 của gia đình ông Hòa, và trong quá trình sửa chữa nhà, ông Hòa đã xây dựng các cấu trúc lấn sang phần đất của gia đình ông Trụ Theo luật, người sử dụng đất có quyền sở hữu không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với quy hoạch xây dựng và không làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của người khác Vì vậy, tòa đã cáo buộc ông Hòa vi phạm quyền sử dụng đất và lấn sang đất liền kề khi tiến hành các công trình xây dựng.

Dựa trên quy định của Điều 681 của Bộ luật Dân sự Pháp lý, tài sản thuộc phần lấn sang không gian và lòng đất của gia đình ông Trụ, bà Nguyên cần được tháo dỡ để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của họ Tuy nhiên, việc giữ lại ống nước do gia đình ông Hòa chôn dưới lòng đất sát tường nhà ông Hòa mà Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm không yêu cầu tháo dỡ chưa đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của gia đình ông Trụ, bà Nguyên Các quyết định của tòa án cần xem xét kỹ lưỡng các quy định pháp luật liên quan để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

Việc yêu cầu xét xử lại vụ án của Tòa dân sự tại Tòa án nhân dân tối cao là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với quy định của pháp luật Điều này đảm bảo quyền công bằng, minh bạch trong quá trình xét xử và giúp đảm bảo các quyết định của tòa án đúng pháp luật Thủ tục xét xử lại thể hiện trách nhiệm của cơ quan tư pháp trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan Việc này góp phần tăng cường niềm tin của công chúng vào hệ thống pháp luật và hoạt động tố tụng của Tòa án nhân dân tối cao.

Đoạn nào của Quyết định số 23 cho thấy Tòa án không buộc ông Tận tháo dỡ nhà đã được xây dựng trên đất lấn chiếm (52,2 m2)?

Đoạn quyết định số 23/2006/DS-GĐT cho thấy Tòa án không buộc ông Tân tháo dỡ nhà đã được xây dựng trên đất chiếm:

Tòa án cấp Phúc thẩm buộc ông Hậu trả lại 132,8m2 đất trống đã lấn chiếm cho ông Trê và bà Thi, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên Đồng thời, phần đất ông Hậu lấn chiếm và đã xây dựng nhà (52,2m2) sẽ được giao cho ông Hậu sử dụng, nhưng phải thanh toán giá trị sử dụng đất cho ông Trê và bà Thi, đảm bảo công bằng và hợp lý Việc xử lý này phản ánh chính xác quyền lợi và trách nhiệm của các bên liên quan theo đúng quy định pháp luật.

3.8 Ông Trường, bà Thoa có biết và phản đối ông Tận xây dựng nhà trên không?

Quyết định số 23 có ghi như sau:

Vào ngày 29-3-1994, ông nhận chuyển nhượng một phần diện tích đất của anh Trần Thanh Kiệt thông qua giấy viết tay, không thực hiện ký xác nhận ranh giới Lúc đó, chủ đất (anh Kiệt) chỉ mới xác định ranh giới cho ông Sau khi hoàn tất việc chuyển nhượng, ông đã xây dựng nhà trên diện tích đất tranh chấp, và gia đình ông Trường không có ý kiến phản đối trong quá trình thi công.

Vì vậy ông Trường, bà Thoa không biết và không phản đối ông Tận xây dựng nhà trên.

Nếu ông Trường, bà Thoa biết và phản đối ông Tận xây dựng nhà trên thì ông Tận có phải tháo dỡ nhà để trả lại đất cho ông Trường, bà Thoa không? Vì sao?20 3.10 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến phần đất ông Tận lấn chiếm và xây nhà trên

Ông Tận không cần phải tháo dỡ nhà để trả lại đất cho ông Trường, bà

Thoa vì có thể có cách giải quyết khác như đền bù tiền bằng với giá trị của phần đất đã lấn chiếm.

Tại điểm b khoản 2 điều 225 BLDS 2015 có quy định rõ:

“b) Yêu cầu người sáp nhập tài sản thanh toán giá trị phần tài sản của mình và bồi thường thiệt hại nếu không nhận tài sản mới;”

Trong trường hợp quyền chiếm hữu bị xâm phạm, người chiếm hữu có quyền yêu cầu người vi phạm chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu và trả lại tài sản Ngoài ra, họ có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc đề nghị Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bắt buộc người vi phạm thực hiện các biện pháp khắc phục này.

Vì thế việc bồi thường ở đây là bù tiền hợp lý với giá trị của mảnh đất lấn chiếm sử dụng.

3.10 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến phần đất ông Tận lấn chiếm và xây nhà trên

Ủy quyền của Tòa án liên quan đến phần đất ông Tận lấn chiếm và xây nhà trên là hợp lý, khi buộc ông Tận trả lại 132,8 m² đất trống đã lấn chiếm cho ông Trường và bà Thoa Tòa cũng quyết định cho ông Tận sử dụng phần đất đã xây nhà (52,2 m²), đồng thời phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Trường mà không yêu cầu tháo dỡ nhà Tuy nhiên, tòa chưa làm rõ vấn đề liên quan đến hai máng đúc bê tông (chiếm phần 10,72 m²) và căn nhà 18,75 m² xây trên nền đất tranh chấp.

Theo Tòa án, phần đất ông Tận xây dựng không phải hoàn trả cho ông Trường, bà Thoa được xử lý như thế nào? Đoạn nào của Quyết định số 23 cho câu trả lời?

Theo quyết định số 23 của Tòa án, phần đất ông Tận xây dựng không phải hoàn trả cho ông Trường, bà Thoa, mà ông Tận cần thanh toán giá trị quyền sử dụng đất theo quy định.

Ông Tận phải trả cho ông Trường và bà Thoa số tiền tương đương 7,83 chỉ vàng 24K để bù đắp giá trị phần đất lấn chiếm đã xây nhà trên diện tích 52,2m2 Đồng thời, phần đất còn lại cùng căn nhà sẽ được giữ nguyên để ông Tận tiếp tục sử dụng.

Ông Nguyễn Văn Tận đang sử dụng 52,2 m² đất thuộc phần nhà đã xây dựng Ông cùng ông Trường và bà Thoa có trách nhiệm liên hệ với Ủy ban nhân dân có thẩm quyền để thực hiện chuyển quyền sử dụng phần đất này Việc chuyển đổi quyền sử dụng đất là bước quan trọng đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan Tuân thủ quy trình pháp lý giúp đảm bảo tính minh bạch và đúng quy định của pháp luật đất đai Việt Nam.

Đã có quyết định nào của Hội đồng thẩm phán theo hướng giải quyết như Quyết định số 23 liên quan đến đất bị lấn chiếm và xây dựng nhà không? Nêu rõ Quyết định mà anh/chị biết

rõ Quyết định mà anh/chị biết Đã có các quyết định theo hướng giải quyết như quyết định số 23 Cụ thể:

Quyết định số 02/2006/DS-GĐT ngày 21-2-2006 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao, trong phần Xét thấy: “Căn cứ vào văn tự đoạn mãi nhà ngày 30-12-

Dựa trên giấy phép xây dựng số 51/GPSXD ngày 8-2-1996 của Sở Xây dựng tỉnh Đăk Lăk, gia đình bà Khanh được phép xây nhà với chiều rộng mặt tiền 7,4m, tuy nhiên thực tế bà Khanh đã xây dựng với chiều rộng 7,63m, vượt quá giấy phép 23cm Căn nhà của bà Khanh còn xây móng đè lên 20cm móng của nhà ông Tùng, vi phạm quyền sử dụng đất của ông Tùng Theo nguyên tắc pháp luật, bà Khanh phải tháo dỡ phần công trình vi phạm để trả lại đất cho ông Tùng, nhưng do bà đã xây dựng sát tường nhà ông Tùng và gây thiệt hại lớn nếu tháo dỡ, Tòa án cấp phúc thẩm đã quyết định không buộc bà Khanh phải dỡ bỏ phần tường đè lên móng nhà ông Tùng, mà chỉ yêu cầu bà bồi thường bằng tiền, phù hợp với quy định pháp luật và thực tế diễn biến vụ việc.

Anh/chị có suy nghĩ gì về hướng giải quyết trên của Hội đồng thẩm phán

Trong phần xét thấy của Quyết định, biên nhận ngày 29/03/1994 giữa ông Hậu và anh Kiệt không xác định rõ vị trí, tứ cận, hoặc xác nhận từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền về diện tích đất mua từ anh Kiệt, khiến việc xác nhận quyền sử dụng đất chưa phù hợp với quy định pháp luật Ông Hậu cần trả lại 132,8 m2 đất đã lấn chiếm nhưng là đất trống cho ông Trê và bà Thi Phân diện tích đất ông Hậu xây dựng nhà (52.2m2) được giao cho ông Hậu sử dụng nhưng phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê và bà Thi, phù hợp với quy định pháp luật Tuy nhiên, mặt khác, phần diện tích đất bị ảnh hưởng bởi các cấu trúc như máng xối đúc bê tông (khoảng 10.71m2) và nhà phụ của ông Hậu (18.57m2) chưa được Tòa án các cấp xem xét giải quyết để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho ông Trê và bà Thi.

Theo quan điểm của em, hướng giải quyết của Hội đồng thẩm phán trongQuyết định số 23 là hợp lý.

Đối với phần chiếm không gian 10,71 m 2 và căn nhà phụ có diện tích 18,57m 2 trên đất lấn chiếm, Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm có buộc tháo dỡ không?

Trong Bản án sơ thẩm Tòa án quyết định:

Bác yêu cầu của ông Diệp Vũ Trê và bà Châu Kim Thi về việc kiện ông Nguyễn Văn Hậu lấn chiếm đất đai được giữ nguyên, không thay đổi hiện trạng sử dụng đất Theo đó, phân chia đất đước xác định lấy phân nửa con kinh sẽ trở về phía đất của vợ chồng ông Trê, và phần còn lại sẽ trở về phía đất của ông Nguyễn Văn Hậu Vợ chồng ông Trê và ông Hậu tiếp tục sử dụng đất theo đúng phần đã phân định, đảm bảo quyền lợi và quyền sử dụng đất hợp pháp của các bên.

Ông Nguyễn Văn Hậu buộc phải bồi thường thiệt hại cho ông Diệp Vũ Trê bằng một gốc me kiểng có uốn 5 tay đều thân cây, đường kính khoảng 5 phân, chiều cao từ 1 đến 1,5 mét Sự việc này liên quan đến tranh chấp về cây kiểng có giá trị và tính thẩm mỹ cao Việc đền bù phù hợp nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông Diệp Vũ Trê trong vụ việc tranh chấp tài sản cây kiểng.

65 cây bông bụi (loại bông bụi ĐL).”

Bản án của Tòa án sơ thẩm không đề cập đến phần đất không gian rộng 10,71m2 và căn nhà phụ có diện tích 18,57m2 nằm trên đất lấn chiếm Do đó, Tòa án không có quyết định buộc tháo dỡ các công trình này.

Theo Bản án phúc thẩm Tòa án quyết định:

Ông Nguyễn Văn Hậu buộc phải trả lại cho ông Diệp Văn Trê diện tích 185m² đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện cấp cho gia đình ông Trê Thỏa thuận này đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông Diệp Văn Trê dựa trên giấy chứng nhận đất đai hợp lệ Việc trả đất này phù hợp với quy định pháp luật đất đai và các quyết định đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận.

Ông Nguyễn Văn Hậu đã bị buộc phải bồi thường 610.000 đồng cho ông Diệp Vũ Trê do hành vi chặt phá cây kiểng Kể từ ngày ông Trê và bà Thi gửi đơn yêu cầu thi hành án, ông Hậu chưa thực hiện nghĩa vụ, do đó số tiền này còn phải chịu thêm lãi suất nợ quá hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Bản án phúc thẩm của Tòa án không đề cập tới phần đất không gian 10,71m2 và căn nhà phụ có diện tích 18,57m2 xây dựng trên đất lấn chiếm Do đó, Tòa án không có quyết định buộc tháo dỡ các công trình này.

Theo anh/chị thì nên xử lý phần lấn chiếm không gian 10,71 m 2 và căn nhà phụ trên như thế nào?

Dựa trên quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, phần diện tích đất 10,71 m² bị ông Hậu lấn chiếm là phần đất của ông Trê, vì vậy, nó phải được trả lại cho ông Trê để đảm bảo quyền sở hữu hợp pháp Để thực hiện quyền này, ông Hậu cần tháo dỡ hai máng xối đúc bê tông nhằm trả lại phần đất bị lấn chiếm cho ông Trê, đảm bảo rằng quyền sở hữu đất đai của ông Trê được giữ vững theo quy định pháp luật.

Theo Điều 259, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật chấm dứt hành vi đó khi thực hiện quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu của mình Trong trường hợp hành vi vi phạm không tự chấm dứt, họ có thể yêu cầu Toà án hoặc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật Điều này thể hiện rõ quyền yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở hợp pháp của người sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp đôi bên có thỏa thuận rõ ràng, ông Hậu có thể thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông Trê Điều này giúp các bên thực hiện nghĩa vụ một cách minh bạch và đúng quy định pháp luật về đất đai Đàm phán và thống nhất về giá trị và điều kiện thanh toán là yếu tố quan trọng để đảm bảo quyền lợi của cả hai bên trong giao dịch quyền sử dụng đất.

Đối với căn nhà phụ xây dựng trên đất của ông Trê, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông Trê, ông Hậu phải tháo dỡ căn nhà phụ và trả lại nguyên trạng đất cho ông Trê hoặc giao căn nhà phụ cho ông Trong trường hợp ông Hậu sử dụng đất, cần thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê và bà Thi, phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 267 của Bộ Luật Dân sự 2005.

Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng:

Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu phải tuân thủ các quy định pháp luật về xây dựng nhằm đảm bảo an toàn Công trình không được vượt quá độ cao và khoảng cách theo quy định pháp luật, đồng thời cần tránh xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh.

2 Khi có nguy cơ xảy ra sự cố đối với công trình xây dựng, ảnh hưởng đến bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ sở hữu công trình phải cho ngừng ngay việc xây dựng, sửa chữa hoặc dỡ bỏ theo yêu cầu của chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.”

Suy nghĩ của anh/chị về xử lý việc lấn chiếm quyền sử dụng đất và không

Việc lấn chiếm quyền sử dụng đất và không gian ở Việt Nam diễn ra khá phổ biến do quản lý yếu kém của cơ quan nhà nước về đất đai, thể hiện qua việc hồ sơ đất đai không đầy đủ, bị thất lạc và thông tin bị đứt đoạn Chính sách quản lý chưa chặt chẽ đã dẫn đến các hiện tượng tự ý chiếm đất của người khác, tranh chấp ranh giới và lấn chiếm không gian Tuy nhiên, nhà nước đã triển khai nhiều quy định mới như Điều 3 và Điều 14 Nghị định 91/2019/NĐ-CP để khắc phục những vấn đề này một cách hiệu quả.

Hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 23 có còn phù hợp với

Hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 23 còn phù hợp với BLDS 2015.

Điều 169 BLDS 2015 và Điều 259 BLDS 2005 quy định rằng, khi thực hiện quyền sở hữu hoặc các quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền yêu cầu người vi phạm phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm Do đó, việc yêu cầu tháo dỡ công trình vi phạm là căn cứ pháp lý hợp pháp và có cơ sở rõ ràng.

Hội đồng thẩm phán đã xem xét căn nhà có diện tích 18,57m², trong đó phần chiếm không gian là 10,71m², và đưa ra ý kiến về việc buộc ông Hậu tháo dỡ công trình hoặc thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê, bà Thi Hội đồng đồng thuận với quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm, trong đó yêu cầu ông Hậu trả phần đất lấn chiếm nhưng còn đất trống; đối với phần đất đã xây dựng nhà, ông Hậu phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho ông Trê và bà Thi, điều này phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Art 671 (Act of 20 Aug 1881), Updated 04/04/2006 - Page 101/268 – French Civil Code.

[2] Art 672 (Act of 20 Aug 1881) ,Updated 04/04/2006 - Page 101,102 /268- French Civil Code.

[3] Art 673 (Act of 20 Aug 1881; Act of 12 Feb 1921)- French Civil Code.

Ngày đăng: 08/11/2022, 15:25

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w