1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp của các công ty logistics được niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam tổng quan nghiên cứu

7 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Của Cấu Trúc Vốn Đến Giá Trị Doanh Nghiệp Của Các Công Ty Logistics Được Niêm Yết Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam - Tổng Quan Nghiên Cứu
Tác giả Lương Thị Thúy Diễm, Nguyễn Trà Ngọc Vy, Mai Thị Lệ Huyền
Trường học Trường Đại học Quy Nhơn
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Quy Nhơn
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 800,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra,theoDang&Do, 2021 bên cạnhsự khác nhau về điều kiện nền kinh tế giữa các khu vực và quốc giathì ngay trong một đất nước, nếu xem xét chung chocác công ty niêm yết bao gồm nhiều

Trang 1

Nghiên citti trao dổi

TÁC DỘNG CỦA CẤU TRÚC VÓN OÉN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP

CỦA CÁC CÔNG TY LOGISTICS Được NIÊM YẾT

trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Tổng quan nghiên cứu

cĨSLtTỉ.S Lương Thị Thúy Diễm*

Th.5 Nguyễn Trà Ngọc Vy *

Th.s Mai Thị Lệ Huyền *

Nhận: 04/03/2022 Biên tập: 05/03/2022

Duyệt đãng: 17/03/2022

Tóm tắt

Việc sừ dụng một cấu trúc vốn (CTV) thiên về nợ hay thiên về vốn chủ sở

hữu (VCSH) cũng như việc sử dụng nợ có kỳ hạn như thế nào là quyết

định vô cùng quan trọng, bởi nó có thể cải thiện hoặc làm giảm giá trị

doanh nghiệp (GTDN) Nghiên cứu này, nhằm trình bày các vấn đè cơ bản

nhất về CTV và GTDN cũng như tổng quan các nghiên cứu trước đây, về

tác động của CTV đến GTDN Qua đó, khẳng định tầm quan trọng của đặc

điểm ngành nghề trong mối quan hệ giữa CTV và GTDN Từ đó, làm nổi

bật lên sự cần thiết phải thực hiện một nghiên cứu điểu tra về tác động của

CTV đến GTDN, trong bối cảnh các cõng ty logistics được niêm yết trên thị

trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam.

Từ khóa: CTV, công ty logistics GTDN.

Abstract

Whether to use a debt- or equity-biased capital structure as well as how to

use debt maturity is extremely important because it can improve or de­

crease the firm value This study aims to present the most basic issues on

capital structure and firm value as well as to review previous studies on the

impact of capital structure on firm value Thereby, confirming the impor­

tance of industry characteristics in the relationship between capital struc­

ture and firm value, thereby highlighting the need to conduct an

investigative study on the impact of capital structure to firm value in the

context of logistics companies listed on the Vietnamese stock market.

Key words: capital structure, logistics companies, firm value.

1 Đặt vấn đề

CTVtò lâu đã được cho làcótác

động lớnđến GTDN, thôngquacác

lý thuyết nền Tuy nhiên, các lý thuyết

từ trước đến nay đã đưa ra nhữngkết

luận rất mâu thuẫn về mối quan hệ

giữaCTV và GTDN(Antwi & cộng

sự) Mộtđiêmquan trọng đáng chú ý

là, không có lý thuyết duy nhất nào có

thể giải thích đầy đủ ảnh hưởng của

CTV đến GTDN (LevàPhan,2017)

Bởi lẽ, mỗi một lý thuyết chỉ đúng

trong một phạm vi không gian, thời

gian nhấtđịnh vớimột số điềukiện

nhất định Bằng chứng là, các nghiên

cứuthựcnghiệm từ trước đến nay đã

choranhững kết quả rấtkhácnhau về

mối quan hệ giữa CTV và GTDN

Trong đó,nhiều tác giả tìmthấy tác độngtích cực của CTV đến GTDN, ngược lại nhiều tác giả lại kết luận rằng CTV có tác động tiêu cựcđến GTDN Mộtsố tác giảkếtluận,CTV

vừa tácđộng tích cực vừatác động tiêu cực đến GTDN Bên cạnh đó, một số tác giả còn tìm thấymối quan

hệ phi tuyến tính giữa CTV và

GTDN Các kết quả khác nhau kể trên,đòi hỏi cần tiếp tục thực hiệncác nghiên cứu khác đê cung cấp thêm

*Khoa Kinh tế & Kế toán

bàngchứngvề tác động của CTV đến

GTDN, nhất là trong bối cảnh của

một thịtrường mớinổinhư ViệtNam Ngoài ra,theo(Dang&Do, 2021)

bên cạnhsự khác nhau về điều kiện nền kinh tế giữa các khu vực và quốc giathì ngay trong một đất nước, nếu xem xét chung chocác công ty niêm yết bao gồm nhiều ngành kết hợp, sẽ dẫn đến việc khó khăn đế xác định mối quan hệgiữa CTV và GTDN,do

đặc điểm kinh doanh củatừngngành

là không đồng nhất với nhau.Cụ thể,

(Dang&Do,2021) timthấytác động củaCTV đối với GTDN là đáng kể, nhưng khác nhau giữa các ngành Trong đó, CTV có tác động tích cực

đến GTDN trong ngành thực phẩm và

đồ uống nhưng có ảnh hưởng tiêu cực đến lĩnh vực thương

mại bán buôn và xây dựng,

cũng như ngành bất động sản và có

ảnh hưởng không đáng kể

đếnGTDN,nếu xét chung tất cả các ngành

Rõràng, đặc điểmriêng củamỗi

ngành sẽquyết định đen mốiquanhệ giữa CTV vàGTDN Tại ViệtNam,

cáctác giả đã nghiên cứu tác động

của CTV đến GTDN trong: ngành chế biến thủy sản (Cuong & Canh,

2012; Cuong, 2014); ngành thực

phẩm và đồ uống (Nguyen & cộng

Trường Đại học Ọuy Nhơn

134 ^ạp chí ^Kétoán rS-^Kiem toán số tháng 3/2022

Trang 2

sự, 2020); ngành thực phẩm và đồ

uống, ngànhthương mại bán buôn,

ngànhxây dựng và ngành bấtđộng

sản(Dang & Do, 2021); ngành hóa

chất (Luu, 2021) Tuy nhiên, theo

tổng quan của tác giả, vẫn chưacó

nghiên cứu nàođiều tra vềmối quan

hệ giữa CTV và GTDN cho ngành

Logistics

2 Tổng quan về CTV và GTDN

CTV làmộtkhái niệm rấtquen

thuộc trong kếtoán - tài chính, phản

ánh sự kết hợp giữa nợ phải trả

(NPT) và VCSH trong tổng nguồn

vốnmà DN huy động, đểtàitrợ cho

các hoạt động sản xuất kinh doanh

CTV bao gồm hai bộ phận làNPT

và VCSH Trong đó, NPT là loại

nguồn vốn mà doanh nghiệp (DN)

đi vay hoặcchiếm dụng của các tổ

chức, cá nhân khác vàdo vậy DN

phải có trách nhiệm phải thanh toán

NPT bao gồm nợ ngắn hạn (làcác

khoản nợ DNphải thanh toán trong

vòng 01 năm hoặc 01 chu kỳ sản

xuất kinh doanh) và nợ dài hạn (là

các khoản nợ DN phải thanhtoán

với thời hạn trên 01 năm hoặc 01

chu kỳ sản xuất kinh doanh).Ngược

lại, VCSH lànguồn vốn của các chủ

sở hữu,các nhàđầutư đóng góp khi

ị mớithành lập DNvà đượcbổ sung

thêmtrongquá trình kinh doanh bao

gồm: vốn góp của chủ sở hữu, lợi

nhuận sau thuế chưa phân phối,

nguồn vốn chuyên dùng, nguồn

VCSH khác, nguồn kinh phí và quỹ

khác CTV thường được đo lường

thông qua một số chỉ tiêu sauđây:

- Hệ số nợ

Tổng NPT

Hệ sớ nợ = — - ; - —

Tông nguôn vòn

Chỉ tiêunày cho biếttổng NPT

chiếm tỷ trọng cao hay thấp trong tổng nguồn vốn Chỉ tiêu này cao cho

thấy, DN sử dụng nhiều nợ, rủi rovà

áp lực thanhtoán cao, tính tự chủ của

nguồn vốn thấpvàngược lại

- Hệ số tự tàitrợ

Hệ sô lự tài trợ - ——-—; —

Tong nguồn vốn (tổng tài sản)

Chỉ tiêu này cho biết, tổng VCSHchiếm tỷ trọng cao hay thấp, trong tổng nguồn vốn Chỉ tiêu này

cao cho thấy, DN ưutiên sừ dụng nguồn vốntựcó,ítrủi ro và áp lực thanh toán, do đó tính tự chủ của nguồn von cao và ngượclại

- Hệsố nợ phải trả trên VCSH

ỉỉệ số nợ phủi trã trên VCSỈI -

Tổng NPT Tồng VCSH

Chỉ tiêu này cho biết mức độ tài trợNPT, bằng nguồn vốntự có

củaDN

Trong các nghiên cứu về CTV nói chung và nghiên cứu về tác động của CTV đến GTDN nói riêng, CTV thường được đo

lường bằng hệ số nợ (tổng

NPT/tổng nguồn vốn) hay còncó

tên gọi khác là đòn bẩy tài chính

(ĐBTC).Do đó,trong nghiên cứu này, khái niệm CTV cũng đồng nghĩa vớiviệcmức độsử dụng nợ

trong DN

Từ trước đến nay, có nhiều khái

niệm khác nhau về GTDN Theo

(Võ Minh Long, 2017) mọi DN

đều có giátrị riêng của nó và nếu xem DN như làmộttàisảnđể đầu

tư, GTDN là lợi ích mang lại cho nhà đầu tư ở thời điếm hiện tại cũng như trong tươnglai

(Setiad- Nghiên ciiìi trao aól

harma & Machali, 2017) thì lại nhấn mạnh đến GTDN gắn liền với giá cổ phiếu, cụ thể GTDN là nhận thức của nhà đầu tư vềtỷ lệ

thành công của một công ty và

thường liên quan đến giácổ phiếu,

giácổ phiếu cao sẽ dẫn đến GTDN

cao Theo (Dang &cộngsự, 2019) thì GTDNlà những lợi íchhiệncó

vànhững lợiích tiềm năngmàmột

DN có thể tạo ra, được thể hiện

dưới dạng các giátrị màchúng ta

có thể tínhtoánvà xác định thông qua các phươngphápvàmôhình

địnhgiá phù hợp

Có nhiều phươngpháp để xác

định GTDN như phương pháp dòng

tiền chiết khấu; phương pháp dựa vàotàisản; dựatrênđịnhgiá tương

đối (P/E, P/B, p/s, P/CF,

P/EBITDA, MVA, ROA, ROE )

dựa vàochỉ so Tobin’s Qhaygiá trị

kinhtế gia tăng (EVA) Theo (La Rocca, 2010) trong số 36 nghiên cứu từ 1988đến2006 thì cókhoảng 33% các nghiêncứu đã sử dụng các

giátrị ROA, ROE để đại diện cho

GTDN và 67% nghiên cứu đã sử

dụng Chỉ số Tobin’s Q và các chỉ số khác như thu nhập trên mỗi cổ

phiếu (EPS), giátrị kinh tếgia tăng

(EVA), chỉ số giá trên thu nhập (P/E) để đạidiệncho GTDN

3 Tổng quan các nghiên cứu về tác động của CTV đến GTDN

nước ngoài

3.1.1 Nhóm nghiên cửu cho kết

quả CTV tác động tích cực đến GTDN

(Antwi và cộng sự, 2012) trong nghiên cứu CTV và GTDN, bằng

chứng thực nghiệm từGhana đã đưa

rakếtluận rằngtrongmộtnềnkinh

tế mới nổi như Ghana, nợ dài hạn đượccoi làyếu tố chính quyết định

i(ỊỊ) chi ^Kếtoán &<5Klểm toán số tháng 3/2022 135

Trang 3

Nghiên cull trao aổi

đến GTDN Cụ thể,nghiên cứuchì

rarằngnợ dài hạntăng sẽ làm tăng

GTDN Ngoài ra, VCSH như một

thànhphần của CTV cũng được tìm

thấylàcóliênquan và tácđộng tích

cực đến GTDN Sau những phát

hiện của nghiên cứu này, các nhà

hoạch định tài chính DN được

khuyên nên sử dụng nợ dài hạn

nhiều hon VCSH để tài trợ chohoạt

động, vì nợ dài hạn ânh hường

nhiềuhon đến GTDN

(Hermuningsih, 2013) đã tiến

hành kiêm tra ảnh hưởng của khả

năng sinhlợi, cơ hội tăngtrưởngvà

CTV lên GTDN của 150 công ty

niêm yếtở Indonesia, giai đoạn2006

- 2010 Ket quà cho thấy, khả năng

sinh lợi, cơ hội tảng trườngvà CTV

đều có ảnh hưởng tích cực đến

GTDN Ngoàira, CTV còn giữ vai

trò trung gian trong mối quan hệ

giữa cơ hội tăng trưởng vàGTDN

Tác độngtích cực trực tiếpcủaCTV

lên GTDN chothấy chính sách bổ

sung NPT là một tín hiệu tích cực

cho nhà đầu tư và ảnh hưởng đến

GTDN Đối với công ty, trách nhiệm

pháp lý đối với những khoản nợ có

thể giúp họ kiểmsoát được việc sử

dụng dòng tiền một cách tự do và

quá mức củaban lãnh đạo Và việc

cải thiện kiểm soát này có thê làm

tăng GTDN đượcphản ánh từviệc

tăng giácôphiếu

(Fasooq và Masood, 2016) đã

điều tra ánh hường của ĐBTC với

GTDN trường họp các công ty xi

măngở Pakistan, giai đoạn 2008 -

2012 Ket quả thực nghiệm mô tả

rằng,ĐBTC có tác động tích cực và

cóýnghĩathốngkê đến GTDN Phát

hiện này cóý nghĩa thiết thực đối với

các công ty xi măng của Pakistan

thông qua việcgiúp cáccông ty này

tăng GTDN, bằngcách kết họp họp

lý giữa VCSH và NPT trong CTV

(Ater, 2017)đãđiềutramối quan

hệ giữaCTV và GTDN của 36 công

typhi tàichính niêmyết trên TTCK

Nairobi - Kenyam,giai đoạn

2011-2015 Kếtquả nghiên cứu cho thấy, CTV có tác độngtích cực đến GTDN

Thông qua nghiên cứu này, tác giả cũng đưara kiến nghị rằng, các DN

nên so sánh giữa lợi ích biên vàchi

phí biên của các khoản nợ dài hạn

trước khi đưara quyết định sử dụng

các loại nguồnvốn, đểtài trợcho hoạt

động của DN

(Susanti và Restiana, 2018) với nghiên cứu điều tra những nhân tố nào ảnhhưởngđến GTDN của 108 công ty ở Indonesia, giai đoạn 2013

- 2016 Cụ thế, hai tác già điều tra ảnh hưởngcùa các biến độc lập bao gồm: quy mô công ty, tuổicông ty,

CTV, thành qua hoạt động và lợi nhuận đếnbiến phụ thuộc là GTDN

đại diện bởiPBV Kếtquảcho thấy,

quy mô côngty có ảnh hưởng tiêu

cực đến GTDNtrong khi tuổi DN có

ảnh hường tíchcực đến GTDN.Tiếp theo, CTV có ảnh hưởng tích cực

đến GTDN, cáccôngtysửdụng nợ cao mang lại GTDN lớn Còn lại,

thành quảtài chính ảnh hưởng tích

cực đến GTDN, trong khi lợinhuận

cótác động tiêucực đến GTDN

(Hirdinis, 2019) đã xác định ảnh

hưởng của CTV và quy mô DN đến

GTDN, vớisự điềutiếtcủalợinhuận trong các công ty tronglĩnhvựckhai khoángniêmyết trênIDX Ket quả

nghiên cứu chì ra: (1) CTV không

ảnh hưởngđến khảnăng sinhlợi; (2)

quy mô DN ảnhhưởng tích cực đến

khả năng sinh lợi; (3) CTV ảnh

hướngtích cực đến GTDN; (4) quy

mô ảnhhường tiêu cực đến GTDN,

(5) khả năng sinh lợi không ảnh hương đến GTDN; và (6)khả nàng

sinh lời không thể làm trunggiancho ảnh hưởng của CTV và quy mô DN

đếnGTDN

3 ỉ.2 Nhóm nghiên cứu cho két qua CTV tác động tiêu cực đên GTDN

(Ruan và cộng sự,2011) đã tiến hành điều tra mối quan hệ giữasở

hữu quản lý, CTV và GTDN cùa các

công ty điều hành dân sự ở Trung Quốc, giai đoạn 2002-2007 Nghiên cứu đưara4 giả thuyết, bao gồm: (1)

sở hữuquản lý có mối quanhệ phi

tuyến hìnhchừ “N” với GTDN; (2)

sởhữu quản lý có mối quan hệ phi tuyến hình chừ “N đảo ngược” với

CTV; (3) sở hữu quản lý tác động

đến CTV và đếnlượt CTVtác động đến GTDN; và(4) CTV có tác động trực tiếp ngược chiều đến GTDN Kết quả nghiên cứu cho thấy,cả bốn

giả thuyết đưa ra đều được chấp nhận Điều này có nghĩa là, trong bối

cảnh các công tyđiều hành dân sự

Trung Quốc, CTV có tác động tiêu

cực, trực tiếp lên GTDN; đồng thời

CTV cũng đóng vai trò trung gian

trong mốiquan hệ giữa sở hữuquàn

lý vàGTDN

(Loncan & Caldeira, 2014) nghiên cứu mối quan hệ của CTV, nắm giữ tiền mặt và GTDN ở các công ty niêmyết tạiBrazil Mụctiêu nghiên cứu là ướctính hồi quygiữa CTV và tỷ lệ nắm giữ tiền mặt, cũng

như giữa nắm giữ tiền mặt và các

khoản nợ ngắnhạn và dài hạn Kết qua nghiên cứu chì ra rằng, cả nợ ngắn hạn vàdàihạn đều có liên quan

tiêu cực đến nắm giữ tiền mặt và

mức độ nắm giữ tiền mặt cũng được

gắn với một ĐBTC thấp hơn Bên

cạnh đó, nghiên cứu còn có phát hiện

rằng, các DN hạn chế về tài chính nắmgiữ nhiều tiền mặt hơn Riêng đối với tác động của CTV lên

136 ^ập chí 'õ Ké toán (Ề^Ki.ểnt toán số tháng 3/2022

Trang 4

Nghiên CÚU trao dổi

GTDN, kết quả cho thấy rằng nợ

ngắnhạn, nợ dài hạn và các thiết che

tài chính đều có ảnhhưởng tiêu cực

GTDN Điềunày cho thấy, hành vi

không thíchrủirocủa các nhà đầu tư

liên quan đến các khoản nợ

(ChadhavàSharma, 2015) nghiên

cứu tác động của CTV đến ROA,

ROE và Tobin’sQ của 422 côngty

sản xuấtniêm yết ở Ấn Độ, từnăm

2003 - 2013.Kết quả cho thấy, ĐBTC

không ánh hưởng đến ROA và

Tobin’s Q nhưng có ảnh hưởng tiêu

cực đến ROE Cácbiến độc lập khác

như quy mô công ty,tuổicông ty, tính

hữu hình, tốc độ tăng trưởng doanh

thu,số vòng quaytài sản vàcấu trúc

' sở hữu cũnglànhững nhân tố có ảnh

hưởng đáng kể đến thành quả tài

chính cùa các DN sảnxuấttại Àn Độ

3.1.3 Nhóm nghiên cứu cho kết

quả CTV vừa tác động tích cực vừa

tác động tiêu cực đến GTDN

(Hoque & cộng sự, 2014) tiến

I hànhnghiên cứu tác động cùa CTV

Iđến GTDNcủa các công ty sản xuất,

được niêm yết trên Sở Giao dịch

Chứng khoán Dhaka (Bangladesh)

igiai đoạn 2008 - 2012 Nghiên cứu

ịchora những kết quảkhác nhau về

tác động cùa các biến độc lập đến

GTDN Cụ thể CTVvà NPT/VCSH

hữu tác động tiêu cực đến GTDN;

(rong khi đó cácbiến độc lậpcònlại

bao gồm NPT/Tàisản, tính hữuhình,

tỷ lệchi trả lãi vay,hệ số ĐBTC có

tác độngtích cực đến GTDN

(Aggarwal & Padhan, 2017) xem

xét ảnh hưởng của CTV và chất

lựợng công ty đến GTDN của các

công ty kháchsạnniêm yết trên Sàn

Giao dịch Chứngkhoán Bombay ở

Ẩn Độ, giai đoạn 2001 -2015 Kết

quả cho thấy, CTV tác động đến

GTDN theo các chiều hướngkhác

nịrau phụ thuộcvào cách đo lường

I

i

GTDN Cụ thể, CTV có tác động

tích cực đến EV vàP/Bnhưnglại có

tác động tiêu cực đến Mcap Chất lượng công ty, quy mô DN, tính thanh khoản và tốc độ tăng trưởng GDP có tác độngtích cực, trong khi

khá năng sinh lợi có tác động tiêu

cực lên cả 3 biến đo lườngGTDN

Cácbiến còn lại bao gồmtính hữu

hình củatài sàn, sự tăng trưởng và lạm phát cho ra nhiều kết quả hỗn

hợp khác nhau lên GTDN tùy theo cáchđo lườngbiến phụ thuộc

3.1.4 Nhóm nghiên cứu về mối

quan hệ phi tuyến giữa CTV và GTDN

(Chengvà cộng sự, 2010)điều tra mối quanhệgiữa CTV vàGTDN tại

Trung Quốc, trong giaiđoạn2001 -

2006 Kết quả cho thấy, tồn tại ba ngưỡng tác động của CTV đến

GTDN và mối tương quan ngược

hình chừ u giữaĐBTC và GTDN

Cụ thể,khi tỷlệ nợ nhỏ hơn 53,97%,

CTV tác động tích cực đến GTDN

Tiếp theo, CTVvẫn tácđộng tích cực

đến GTDN nhưng mức độ tácđộng

bắt đầu giảm khitỳlệ nợtừ 53,97 đến

70,48% Các hệ số âm và có xu hướng giảm dần,khitỷlệ nợtừ 70,48

đến 75,26% hoặc trên75,26%,ngụý

rằng, trong mứcnợ đó, tăng tài trợ bằng nợ sẽ làm giảm GTDN Nghiên cứunày đà chỉ ra rằng, việc tài trợ bằng nợcần phải có giới hạnbởi lẽ

tồn tại một mức nợ tối ưu mà nếu

vượt quá mức đó, nợ tàng lênkhông

còn làm tăng GTDN

(Berzkalne, 2015)đãđiềutramối quan hệ phi tuyến tính giữaCTV và GTDN các côngty niêm yếtở Baltic,

trong giai đoạn 2005 - 2013 Kết quả

cho thấy, thực sự có quan hệ phi tuyến tính giữaCTVvà GTDN Đối với các công tycógiátrị vốn hóathị trường nhỏ, sự gia tăng ĐBTC sẽ

làm gia tăng GTDN và GTDN đạt giá trị cao nhất nếu tỷ lệ nợ đạtmức

24,64% Do đó,các côngty nhỏ nên

sử dụng tỷ lệ nợ dưới 24,64%

Ngược lại, đối với mẫu là các công

ty có quy mô vừathì cho rakết luận

là nếu tăng tỷ lệ nợ sẽ làm giảm GTDN Tuynhiên, có mộtngưỡng

nợ được ghi nhận là 62,97% Nếu tỷ

lệ nợdưới 62,97% thì khi tỷ lệ nợ

tăng 01% sẽ làm GTDNgiảm 0,23

triệu Euro và nếu tỷ lệ nợ đạt tại

ngưỡngnày hoặc vượt quá ngưỡng này thì GTDN sẽ giảm 0,46 triệu

Euro Do đó,cáccông ty có quy mô vừađượckhuyên là nên áp dụng tỷ

lệ nợ dưới 62,97%

tác động của CTV đến GTDN ở

trong nước

3.2.1 Nhóm nghiên cứu cho kết quả CTV tác động tích cực đến

GTDN

(Võ Minh Long, 2017) nghiên cứu mốiquan hệ giữaCTV và GTDN

của 123 công ty niêm yết trên Sở

Giao dịch Chứng khoánThành phố

Hồ Chí Minh (HSX), trong giai đoạn

2008 - 2015.Một mô hỉnh nghiên cứu

đã đượcxây dựng bao gồm một biến phụ thuộc là GTDN, một biếnđộc lập

là CTV và8biến kiểm soát khác Kết

quả nghiêncứu cho thấy, cảtỷ số nợ,

tỷ số nợ ngắn hạn và tỷ số nợ dài hạn đềucó tác độngtích cựcđếnGTDN với độtincậycao Như vậy là, trong trường hợp của các công ty niêm yết

trên HSX, lợiíchcủa lá chắn thuế từ việc dùng nợ gồm cả nợ ngắn hạn và

nợ dài hạn vẫn cao hơn chi phíkiệt quệ tàichính

3.2.2 Nhóm nghiên cứu cho kết

quả CTV tác động tiêu cực đến GTDN

(Võ Minh Long, 2016) nghiên cứu tác động của CTV đến GTDN

^Ỉ(ỊỊ) chí & KỂtoán &(õ Kiểm toán số tháng 3/2022 137

Trang 5

Nghiên cứu trao flồỉ

của 272 côngty phi tài chính, trong

giai đoạn bắt đầu khủng hoảngkinh

tếthếgiới nói chung và Việt Namnói

riêng (từ năm 2008 đến 2014) Trong

nghiêncứu, GTDN đạidiệnbờiROA

vàEPSđượcgiả thiết làsẽ chịu ảnh

hưởng tiêu cực bởi CTV Ket quả

hoàn toàn đúng như dự kiến banđầu

của tác giả, CTVbao gồm tỷ sốnợ, tỷ

số nợ dài hạn và tỳ số nợ ngắn hạn

đều có tác độngtiêu cựcđến GTDN,

thông qua ROA vàEPS

(Vo & Ellis, 2017) đã tiến hành

điều ưa mối quan hệ giữa CTV và

GTDN (giátrịcổđông)của các công

ty niêm yếtưên Sở Giao dịch Chửng

khoán Thành phố Hồ Chí Minh, giai

đoạn2007-2013.Cụthể, GTDN được

đo lườngbằng lợi nhuận bất thường

tích lũycùa cổ phiếu.Biến độc lập bao

gồm (1) CTV; (2) PB (tỳ lệ giá thị

trường ưên giá trị sổsách); (3)PE (tỷ

lệgiả ưên thu nhập); (4) Beta (rủi ro

thịtrường của lợi nhuận cốphiếu);và

(5) Size (quy mô DN) Ketquả cho

thấy.CTV, PE và Beta có tácđộng tiêu

cực đến GTDN còn PB vàquy mô có

tác động tích cực đến GTDN Mối

quan hệ tiêu cực giữa CTV và GTDN

cho thấy, ưong các DN Việt Nam, chi

phí của việc vay nợ làlớnhon so với

lợi ích tưongứng Đồng thời, tác giả

cũngthấyrằng, chỉ có các côngty sử

dụng ĐBTCthấpmớicó khả năngtạo

ra giá trị cho các cổđông

(Dang &cộngsự, 2019) đo lường

tácđộng cùatốc độ tàng trường, quy

mô DN, CTVvà kha năng sinh lợi

đến GTDNcủa214công ty niêmyết

ưên TTCK Việt Nam, giai đoạn 2012

-2016 Trongnghiên cứu này, GTDN

được đolường trên cà khía cạnh tài

sản (EV) và khía cạnh hiệu suất

(Tobin’s Q) Kết quảcho thấy, CTV

là tác độngtiêucực đến GTDNđược

đolườngbằngcả EVvà Tobin’s Q

Tác giảcũngđưa ra khuyến nghị, các

DN Việt Nam cần thận trọng trong

việchuyđộngthêmNPT

(Nguyen và cộng sự, 2020) điều

ưa mối quan hệgiữa CTV và GTDN trường họp các côngty niêmyet frong

ngành công nghiệp thực phàm và đô

uống tại Việt Nam, giai đoạn 2014

-2018 Kết quả chỉ ra, CTV có tác động tiêu cực đèn GTDN Nghiên

cứukhuyến nghị ban quảnlý công ty nên xácđịnh chi phí vốn bình quân gia quyền tối ưu và thâm định kỹ lưỡng cácdự án đầu tư cũng nhưlập

kế hoạchphù họp chonguồn VCSH

mới, nếu các công ty có dự án đầu tư

tốt Trong số các phưong án tăngvốn

điều lệ, các công ty trong ngànhF&B

cóthể lựachọn lợi nhuận giữ lại đê

ưả nợ,giảm hoặc loại bỏ cổtứchoặc phát hành vốn côphần mới Một số công ty có vay nợquá mứckhông nên

đầu tưbằng nợ hoặc sử dụng khoản phảithu,để mua lạicổ phiếu

(Luu,2021)điều ưa tácđộng của CTV đến GTDN củacáccông ty hóa

chấtniêmyếttrên TTCK Việt Nam, giai đoạn 2012 - 2019 Mô hình

nghiên cứu đượcxây dựng bao gồm

01 biến phụ thuộc là GTDN và một

số biếnđộc lập bao gồm CTV, sức sinhlờicủa tài sân, số vòng quay tài

sản, tài sản cố định hữu hình, khả

năng thanh toán, quy mô DN, tuổi

DN vàtốc độ tăng trưởng doanhthu

Kếtquả cho thấy, CTV có tác động tiêu cực đến GTDN Điều này có

nghĩa là, các công ty ưong ngành

công nghiệp hóa chất sử dụng nợ cao

sẽ làm giảm GTDN củamình Do đó, tác giả khuyến nghị, cáccông ty hóa

chấtcần điều chình CTV theo hướng giảmdần hệsố nợ vàtăng dầnVCSH

3.2.3 Nhóm nghiên cứu cho kêt quả CTV vừa tác động tích cực vừa tác động tiêu cực đèn GTDN

(Thao, 2019)điều fra mối quan hệ giữaCTVvà GTDN của446côngty niêm yếttrên TTCK Việt Nam, giai đoạn 2011 - 2017 Mục đích của tác giả là, muốn điều tra xem liệu tác động củaCTV đến GTDN có sự khác biệtgiữa DN cógiátrịthấpvà DN có giá trị cao haykhông? Đẻ đạtđược mụcđíchnày, tác giả dùng cảphương

pháp bình phương bé nhất và phương

pháp hồi quy phân vị Ket quả cho

thấy,khi sửdụng phươngpháp bình phương bénhấtthì CTV có mốiquan

hệ tiêu cực với GTDN, còn khi sử

dụng phương pháp hồiquy phân vị thì

kết quảlại hoàn toàn khác biệt giữa

các công ty có GTDN thấp và các

côngtycóGTDNcao.Cụ thể, đối với

các công ty cóTobin’Q ở phânvị thấp

và vừa thì CTV có quan hệ tíchcực đến GTDN, hàm ý rằng các công ty

có GTDNthấpnênvay nợ nhiềuhơn,

để cải thiện GTDN Ngược lại, các công ty có Tobin’s Q ở phân vịcao thì

CTV được tìm thấy có tác động tiêu cực den GTDN,nghĩa là các công ty này nên phát hành cổphiếu thayvi đi vay nợ

(Dang & Do, 2021) nghiêncứu tác động của CTV vàGTDN của

435 côngty phi tài chínhniêmyết trên TTCK Việt Nam, giai đoạn

2012 -2019, trong 4 nhóm ngành: ngành thực phẩm và đồ uống,

ngànhthương mại bán buôn, ngành xây dựng và ngành bấtđộng sản

Mô hình nghiên cứu bao gồm 01 biến phụ thuộc là GTDN, 01 biến

độc lập là CTV và một số biến kiểm soát như: quy mô, khả năng sinh lợi, tốc độ tăng trường, tính hữu hình, tính thanh khoản và tỷlệ

lạm phát Kếtquả nghiêncứuchỉra rằng, CTVcó một kếtquả hồn hợp

lên GTDN, tùy thuộc vào nhóm

ngành Cụ thể, CTV có tác động

138 ^Tạp chí ' n Ké toán &^Kiếm toán số tháng 3/2022

Trang 6

_ Nghiên cihi trao aổỉ

tích cực đến GTDNđối vớicácDN

trong ngànhthực phẩm và đồ uống

Ngượclại,CTVlạicó tác động tiêu

cực đến GTDN trong các ngành

thươngmại bán buôn, xây dụngvà

bất động sản, tuynhiên khi xemxét

chung cho tất cả các ngành thì lại

thấy CTV không có mối quan hệ

đáng kê với GTDN.Thông quakết

quả hồn hợp này, tác giả hàm ý

rằng, bên cạnh các lý thuyết về

CTV thì các DN cần quan tâm đến

đặc điểm ngành nghề, trước khi

đưara các quyết định về CTV

3.2.4 Nhóm nghiên cứu về mối

quan hệ phi tuyến giữa CTV và

GTDN

(Cuong & Canh, 2012) đã tiến

hành điều tra xem liệu có tồn tạimột

ĐBTC tối ưu mà tại đócác DNchế

biến thủy sản khu vực Nam Trung Bộ,

trong giaiđoạn 2005 - 2010 có thể tối

đa hóaGTDN củamình hay không

Ket quà thực nghiệm chi rarằng, tồn

tạimối quan hệ phi tuyến giữa CTV

và GTDN mà cụ thể là hiệu ứnghai

ngưỡng.Cụ thể, CTV có mối quan hệ

cùngchiềuvớiGTDN,khi hệ số nợ

I nhỏ hơn 59,27%,lúc đóDN tăng tài

trợ nợ có thể cài thiện GTDN Tuy

nhiên, mối quan hệ này là ngược

chiều, khi tỷ số nợ từ 59,27% đến

94,60%hoặc caohơn94,60%,ngụ ý

‘rằngtrongkhoản nợ đó, việctăngtài

frợ bằng nợsẽ làmgiảm GTDN Tóm

ilại, để đảmbảo và nâng cao GTDN,

tỷ lệ nợ tối ưu nên nhỏ hơn hơn

59,27%

(Cuong, 2014) tiếp tục nghiên

tíru tác động theongưỡng của CTV

đến GTDN của các công ty chế

biến thủy sản ở khu vực Nam

Trung Bộ của ViệtNam, giaiđoạn

2005 - 2011, đểđiều tra xem liệu

có tồn tại mộtCTV tốiưu, mà tại

đó các DN này có thể tối đa hóa

GTDN của mìnhhay không Các

kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng,

tồn tại một hiệu ứng ba ngưỡng giữatỷlệ nợ và GTDNđại diện bởi

BVE và tồn tại hiệu ứng ngưỡng kép giữa tỷ số nợ và GTDN đại diện bởi ROE Nghĩa là,giữaCTV

và GTDNcómối quan hệ phi tuyến

ở dạng một hình Parapol lồi Qua

đó, tác giả khuyến nghị, để đảm bảo vànângcao GTDN, phạmvi của tỷ lệ nợ tối ưu phải nhỏ hơn 57,39%

Luận án Tiến sĩ của (Võ Minh

Long,2017) nghiên cứu tác động cùa

CTV đến GTDN của các DN cổ

phần niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh,

trong giai đoạn 2008 - 2015.Kết quà cho thấy, CTV vàCTV theokỳhạn nói riêng đều có tác động tích cực

đến GTDN Đặc biệt, đối với mối quan hệ phi tuyến giữa CTV và GTDN,kếtquả nghiên cứu đãchỉra

cóngưỡngtốiđa đối vớitỷsố nợ và

tỷ số nợ ngắn hạn nhưng chỉ có

ngưỡng tốithiểu, đối với tỷ số nợ dài hạn Cụ thể,khiDN tăng tỷ số nợ sẽ

tãngGTDNvà khi tỷ số nợ tăng đến mức 67,8624%thì sẽ có GTDN tối

đa, nhưng khi vượt quámức nàysẽ làm giảm GTDN.Tươngtựnhư vậy, khi DN tăng tỷ số nợ ngắn hạn sẽ tăng GTDN nhưng chỉnêntăng đến mức 45,4479%, vì ở mức đó sẽ có

GTDN tốiđa, khi vượt quá mức này

sẽ làmgiảm GTDN Ngược lại, khi

tỷsố nợ dàihạn nhòhơn 25,9789%

sẽ không nâng cao được GTDN, nhưng khi tỷ số này cao hơn 25,9789% sẽ cải thiện vànâng cao

được GTDN

(Khanh & cộng sự, 2020) điều tra tác động của quản trị DN và CTV

đến GTDN của các công ty niêmyết

trên thị trường chứng khoán Việt

Nam, giai đoạn 2008 - 2018 Nhìn

chung, CTV của các côngty niêm

yết trên thị trường chứng khoán giai đoạn này sử dụng trung bình 50,8% NPT, trongtồng nguồn vốn Kết quâ

nghiên cứu cho thấy, các yếu tố

thuộcvề QTDN có ảnh hưởng đáng

kể đến GTDN Nghiên cứu cũng đã kết luận rằng, CTV có mối quan hệ

phi tuyến với GTDN Tuy nhiên, các tác giả cũng ngụ ý rằng không có CTV tối ưu có thểáp dụng cho tất cả các DN Tùy thuộc vào đặc điểm của ngành nghề kinh doanh vàđặc điểm

của từng công ty mà giám đốc tài

chínhcó thể đưaraCTV hợp lý, để tốiđahóaGTDN

4 Nhận xét và khoảng trống nghiên cứu

Sau khi tổng quan một số tài liệu trong và ngoài nước, tác giảrút

ra được mộtsố kết luận sauđây:

Thứ nhất, tác động của CTV

đến GTDNđã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiêncứu.Tuynhiên,các nghiên

cứu thực nghiệm từ trướcđến nay cho thấy, tác động của CTV đến GTDN là hoàn toàn không thống nhấtvới nhau(có cả tác động tích

cực, tác động tiêu cực, tác động

hỗn hợp, mối quanhệ phi tuyến) Các kết quả hỗn hợp này được các

tácgiả trong vàngoài nước lýgiải

là,phụ thuộc vào: sự đo lường biến

phụ thuộc; sự đo lường biến độc lập (các loại nợ khác nhau); sự

khác biệt về ngữ cảnh (quốc gia) hay ngành nghề kinhdoanh

Thứ hai, giữa những kết quả hỗn họp, không thống nhất nhau nhưđãnói ở trên, tác giảnhậnthấy,

trong bổi cảnh các nước phát triển thì các nghiên cứu thường chỉ ra rằng CTV có ảnh hưởng tích cực đến GTDN Ngược lại, ở các nước

-ĩạp chi toán &(5 Kỉểm toán số tháng 3/2022 139

Trang 7

Nghiên CÚ11 trao flổl

đangphát triển vàthị trường mới

nổi màViệt Nam là một ví dụ điển

hình thì đa phần cácnghiên cứulại

tìm thấy rằng, CTV có tác động

tiêu cực đến GTDN Đây rất cóthể

là kếtquả của sự khác biệt về sự

phát triển của thị trường tài chính,

trong bốicảnh nhữngquốc gia với

điều kiện kinh tếkhác nhau

Thứba, nhiều nghiên cứuchỉ ra

tác động của CTV đếnGTDN phụ

thuộc vào đặc điểm ngành nghề

Đây làlý do, khiếncác tác giảtrên

thế giới và Việt Nam thường tập

trung nghiên cứu tác động của CTV

đến GTDN của một ngành cụthể

Tại Việt Nam, nghiên cứuvề tác

động của CTV đến GTDN đã được

điềutra ở mộtsố ngành nhưngành

chếbiến thủy sản, thực phẩm vàđồ

uống, thương mại bán buôn, xây

dựng,bất động sản,hóa chất

Thứ tư, các nghiên cứu trước

đây thường điều tra về mối quan hệ

tuyến tính giữa CTV và GTDN, tuy

nhiênhiện nay các nghiên cứu điều

tra về mối quan hệ phi tuyến giữa

CTV vàGTDN ngày càng nhiều

Điều này cho thấy, các nghiên cứu

tiếp theo cần hết sức lưu ý mối

quan hệ nàykhiđiều tra tác động

của CTV den GTDN

Từ những nhận xéttrên,tácgiả

nhận thấy vẫn còn một số khoảng

trống sau để tác giả tiếp tục nghiên

cứu về vấn đề này:

Một là, do các nghiên cứutrước

đây cho ra những kết quả hoàn

toàn khác nhau về tác động của

CTV đến GTDN chonênviệcthực

hiện các nghiên cứu tiếp theo về

tác động của CTV đến GTDN là

vẫn rất cần thiết, đặc biệt là trong

bối cảnh một thị trường mới nổi

như Việt Nam, vốn dĩ là “một

quốc gia mới nổi điển hình vì có

một khoảng cách rõ ràng so với

các nước phát triển khác” (Huynh

& cộng sự,2020)

Hai là, các tác giảViệt Nam đã nghiên cứu tác động củaCTV đến GTDN, trong nhiều ngành nghề

khácnhau Tuy nhiên,đến nay vẫn

chưa cónghiêncứunào điều travề

mối quanhệgiữaCTVvà GTDN

cho ngành logistics Đây là một khoảng trống nghiên cứu quan trọng, bởingànhnàycó những đặc

điểm rất đặc thùvề vốn cũng như

sự đóng góp ngày càngquan trọng

của ngành này vào nền kinh tế

quốc gia

Ba là, bên cạnh mối quan hệ tuyến tính, nhiều lý thuyết và nghiên cứu đã chi ra rằng giữa

CTV và GTDN còn tồn tại một mối quan hệ phi tuyến.Nghĩalà, ở

những mứcnợ khác nhau, CTV có thể tác động đến GTDN theo

những chiều hướngkhác nhau Do

đó, trong nghiên cứu này tác giảsẽ tiếp tục điều tra kết hợp cà mối

quan hệ tuyến tính và phi tuyến

tính Đây cũng chính là cơ sở,

để tác giả kết luận xem có CTV tối ưu cho các công ty Logistics hay không

5 Kết luận

Nhữngnămgầnđây, ngành Lo­

gistics Việt Nam đã cósự pháttriển

mạnh mẽ và có những đónggópto lớn chonền kinhtế TheoHiệp hội

Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), tốc độ phát triển của ngành logistics Việt Nam những năm gần đây đạtkhoảng

14-16%, với quy mô khoảng 40-42 tỷ USD/năm (Bộ Công thương, 2019) Riêng năm2018, ngành lo­

gistics Việt Nam tăng trưởng khoảng 12-14% (BộCông thương,

2018) Mặc dùcó nhiều tiềm năng phát triểnnhưngtheo các chuyên

gia, sự phát triển cùa ngành này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng Trong đó, chưa thu hútđược

đầu tư, quy mô vốn hạn chế là

nguyên nhân chính khiến các DN

trongnước khó cạnh tranh với các

DNnước ngoài (BộCôngthương,

2019) Theo thống kê của VLA,có

tới 90% DN logistics có vốn điều

lệ đăng ký dưới 10 tỷ đồng (Bộ

Công thương, 2018) Trongkhiđó,

đặc điểm củangành này làphải đầu

tư nhiều vốn vào công nghệ, hệ

thống kho bãi, phương tiện vận tải Chính vì thế, đa phần các công ty logistics ViệtNam cóhoạt động nhỏ lẻ, năng lực cạnh tranh

thấp, chưa cung cấp được nhiều dịchvụ logistics có giátrị gia tăng

cao Do đó, gia tăngGTDN của các

công ty logisticsđể họ có thể tiếp cận và thu hútđượcnguồnvốnđầu

tư, từ đó hiện đại hóa công nghệ,

cải thiện dịch vụ logistics, nâng

cao nănglực cạnh tranh lànhu cầubức thiết của mỗi DN logistics hiện nay Với tầm quan trọng không thể phủ nhận của CTV

trong việc cải thiện GTDN, thông

qua các kết quả nghiên cứuthực nghiệm trong nước và thế giới, việc thực hiện một nghiên cứu về tác động của CTV đến GTDN

trong các công ty logistics được

niêm yếttrên TTCK Việt Nam, là

điềuhết sức cần thiết □

Ghi chú: Nghiên cứu này được

thực hiện, trong khuôn khổ Đe tài

Khoa học Công nghệ cấp cơ sở

của Trường Đại học Quy Nhơn,

với mã số T2021 733.36.

Tiếp theo trang 155

140 0 /ạp chi <5Kétoán toán số tháng 3/2022

Ngày đăng: 08/11/2022, 15:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w