Mục tiêu của nghiên cứu này là đề xuất mô hình nghiên cứu nhằm giải thích mối quan hệ giữa việc sử dụng thông tin KTQT đến ERM và kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp DN ch
Trang 1Anh hưởng của việc sử dụng thông tin kê toán
Mô hình nghiên cull đề xuất1
TRẦN THỊ QGANH
LÊ MỘNG HGYEN' Tóm tắt
Ngày nay, các to chức phải đôi mặt với nhiều rủi ro từ các nguồn khác nhau, như: toàn cầu hóa, sự thay đổi môi trường kinh doanh, sự tiến bộ của khoa học, công nghệ Vì vậy, quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM) là một mối quan tâm cơ bản trong môi trường cạnh tranh toàn cầu hiện nay Kế toán quản trị (KTQT) sẽ đóng một vai trò không thể thiếu trong việc mở rộng, tăng cường thực hiện ERM Thông tin KTQT rất quan trọng trong việc thực hiện ERM Nó được thiết kế để đo lường và báo cáo rủi ro một cách hiệu quả Mục tiêu của nghiên cứu này
là đề xuất mô hình nghiên cứu nhằm giải thích mối quan hệ giữa việc sử dụng thông tin KTQT đến ERM và kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) chê' biến gỗ xuất khẩu Việt Nam.
Từ khóa: thông tin KTQT, quản trị rủi ro doanh nghiệp, kết quả hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp chê' biến gỗ xuất khẩu Việt Nam
Summary
Organizations are now facing many risks from different sources such as globalization, changing business environment, advancement of science and technology, etc Therefore, enterprise risk management (ERM) is a fundamental concern in today’s competitive global environment Management accounting will play an integral role in expanding and enhancing the implementation of ERM Management accounting information is critical to ERM implementation It is designed to measure and report risk effectively The aim of this study
is to propose a research model to explain the relationship between the use of management accounting information to ERM and business result of wood processing and export enterprises
\in Vietnam.
Keywords: management accounting information, enterprise risk management, business results, Vietnamese wood processing and export enterprises
IỚI THIỆU
ÈRM là cách tiếp cận quản trị tất cả
các rủi ro mà một công ty phải đối mặt
theo cách tích hợp và toàn diện Ngày
càng nhiều nhà nghiên cứu coi ERM
là n
nhói
Liebenberg, 2011) ERM đại diện cho
một mô hình hàng đầu, hỗ trợcác tổ chức
xác định, đánh giá vàquản lý rủiro ở cấp
lô hình cơ bản để DN quản trị các
n rủi ro mà họ phải đối mặt(Hoyt và
độ DN (Anton và Nucu, 2020) Mộtchiến lược quảntrị
rủi ro phù hợp có thể trở thành lợi thế cạnh tranh hỗtrợ các DN pháttriển Nhưvậy,việc quản trị rủiro tốtcó thể giúp DN có những điều chỉnh phù hợp với môi trường
kinh doanh ngày nay nhằmđạt được lợi thế trong cạnh
tranh và thành công
Thông tin KTQT đã được công nhận từ lâu là có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kếtquả hoạt động kinh doanh (Chenhall, 2006) Một số tác giả (Soin,
2005; Williamson, 2004) đã đề xuất rằng, thông tin
KTQT hỗ trợ cáchoạt động quản lý rủiro Trong thực
‘Thsl, "TS., Khoa Kinh tê & Kế toán, Trường Đại học Quy Nhơn
Ngày nhận bài: 06/3/2022; Ngày phản biện: 17/3/2022; Ngày duyệt đăng: 23/3/2022
1 Nghiên cứu này được thực hiện trong khuôn khổ đề tài Khoa học và Công nghệ cap cơ sở của Trường Đại học Quy Nhơn
vơi mã SỐT2021.735.38
Trang 2tế, KTQT sẽ đóng một vai trò không thể thiếu trong
việc mở rộng và tăng cường thực hiện ERM
Mặc dù ngày càng có nhiều tài liệu nghiên cứu
về mối quan hệ giữa thông tin KTQTvà kết quả hoạt
động kinhdoanh, cũng nhưERM vàkết quả hoạt động
kinhdoanh, tuy nhiên người ta biết rất ít về mốiquan
hệ giữa thông tin KTQT và ERM (Soin và Collier,
2013), Đây là một khoảng trông cần được lấpđầy bởi
các nghiên cứu trong tương lai
TỔNG QUAN NGHIÊN cứu
ERM là một quá trình được thực hiệnbởi ban giám
đốc, nhà quản lý và nhân viên của tổ chức, được áp
dụng trong từng bối cảnh cụ thể và trên quy mô toàn
DN, được thiết kế để xác định các sự kiện tiềm ẩn có
thểảnh hưởng đến DN và trong mức khẩu vị rủiro,để
cungcấp sự bảo đảm hợp lý về việc đạt đượcmục tiêu
của DN (COSO, 2004) Bằng chứng gần đây cho thây,
nhiều DN đãápdụng ERM (Beasley và cộng sự, 2005)
và nhiều DN lớn trên thê giới thát bại là do ERM của
họ yếu kém (Meulbroek, 2002) Điều này giải thích
vì sao các công trình nghiên cứu về ERM ngày càng
phongphú Sauquátrình tìm hiểu,chúngtôi nhận thấy
rằng, các nghiêncứu trên thế giới vềERMcóthể được
chia thành 4 nhóm chính là: Các nghiên cứu liên quan
đến việctriển khai ERM; Cácnghiên cứu về các nhân
tó' ảnhhưởng đến việc áp dụng ERM: Các nghiêncứu
về hiệu quả của việc áp dụng ERM; Các nghiên cứu
khác yề ERM
Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu trên thê giới tập
trung vào nghiên cứu môi quan hệ giữa ERM và kết
quả hoạt động kinh doanh.Nhiềunghiên cứucho rằng,
ERM có ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động
kinh doanh, như: Floria và Leoni (2017), Hanggraeni
và cộng sự (2019) Tuy nhiên, một sônghiên cứu khác
lại cho thây mốiquanhệ ngược chiều hoặc không tìm
thấymối quan hệ giữaERM và kết quả hoạt động kinh
doanh (McShane và cộng sự 2011; Li và cộng sư,
Tại Việt Nam,cácnghiên cứuvề ERM còn hạn chế
Đa sô'các nghiên cứu trước đây được thực hiện theo
hướng hoàn thiện quản trị rủi ro tại các DN (Nguyễn
Thị Xuân Linh, 2014) Một sô' nghiên cứu về ảnh
hưởngcủaERM đến giá trị DN, chẳng hạn như Trịnh
Thị Phan Lan (2015) đề xuâ't mô hình đo lường tác
động của ERMđến giá trị DN cho các DNViệt Nam;
Phan ThùyDươngvàĐặng Thu Hằng(2020) thực hiện
một nghiên cứu thực nghiệm về tác động của quản trị
rủi ro đến giá trị niêm yết của các DN xây dựng trên
địa bàn TP Hà Nội
Theo Rasid và cộng sự (2014), KTQT trở thành
một phần không thểthiếucủa quy trình quản lý, vì nó
liênquan đến việccung cấp và sử dụng thông tin cho
các nhà quản lý trong các tổ chức để ra quyết định,
lập kê'hoạch và kiểm soát Các công ty thường dựa
vào bộ phận KTQT để hỗ trợtriển khai các hệ thống
quản lý rủi ro chính thức (Winter, 2007) Soin (2005)
chorằng, KTQT hỗ trợquản lý rủiro, vì thông tin KTQT có thể được coi là một phần của hệ thôngthông tin quản lý rộng
hơn Chenhall và Morris (1986) lần đầu
tiên chính thức hóa4 đặc điểm chínhcủa thôngtin KTQT được sử dụng trong các
DN (phạm vi rộng, kịp thời, tổng hợp, tích hợp) Tuy nhiên, đa sô' các nghiên cứu tập trung vào đặc điểm thông tin
phạm vi rộng bởi vai trò quan trọng của
nó trong việc hỗtrợcho nhà quản trịthực hiệnchức năng hoạch định, kiểmsoát và
raquyếtđịnh (Mía và Chenhall, 1994) Tóm lại,quaquá trình tổng quan các
nghiên cứutrong và ngoài nước như trên,
nhóm tác giả nhận thây một sô'khoảng trôngnghiên cứunhưsau:
Thứ nhất, ảnh hưởng thực sự của ERM đô'i với kết quả hoạt động kinh doanh vẫn chưa chắc chắn, do các kết
quả nghiên cứu trước đây có kết luận khácnhau Điềunày tạo cơ sở để tiếp tục nghiên cứu thêmvâ'n đềnày trongtương
lai (McShane và cộng sự, 2011; Anton
và Nucu,2020)
Thứ hai, mô'i quan hệ giữa ERM và
kết quả hoạt động kinh doanh thường được tiến hành nghiên cứu ở các nước
phát triển (Hoyt và Liebenberg, 2011; Floriovà Leoni, 2017).Râ't ít nghiêncứu được thựchiện ở quốc gia đang phát triển
như Việt Nam (Teoh và cộn£ sự, 2017) Trong khi đó, Saeidi và cộng sự (2021)
cho rằng, các nước đang phát triển yêu
cầu một cách tiếp cận quản lý rủi ro mạnh mẽ hơnđể hoạtđộng tốt
Thứ ba, hầu hết các nghiên cứu đều nghiên cứu mô'i quan hệ giữa ERM và kết quả hoạt động kinh doanh ở khía cạnh tài chính/phi tài chính (Gordon và cộng sự, 2009; Florio và Leoni, 2017 ) Trong khi chỉcó mộtsô' nghiêncứu xem xét cả kết quảhoạt động tàichính và phi
tài chính (Saeidi và cộng sự, 2021) Cuô'i cùng, nhiều nhà nghiên cứu đề xuâ't thông tin KTQT hỗ trợ việc triển
khai ERM (Soin, 2005) Tuy nhiên, có khá ít các nghiên cứu thực nghiệm về
mô'i quan hệ này
PHÁT TRIỂN GIẢ THUYẾT VÀ ĐE XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN cứu
Việc đo lường ERM được các nhà
nghiên cứu tiếp cận theo nhiều hướng
khác nhau Chúng tôi tiếp cận quản trị
rủi ro theokhungcoso, nhưng tậptrung
vào quy trình quản lý rủi ro Điều này
Trang 3phù hợpvớimộtsố nghiên cứu trướcđây
(Altuntas và cộng sự, 2011) Theo đó,
quy trình quản trị rủi ro bao gồm: Xác
định rủi ro; Đánh giá rủi ro và Phản ứng
với rủi ro
Mốì quan hệ giữa việc sử dụng
thông tin KTQT phạm vi rộng và Xác
định rủi ro
Xác địnhrủi ro chính xác sẽ giúp việc
đánh giá phân tích tác động của rủi ro
hiệu quả hơn từ đó làm giảm thiểu tác
động của chúng (Zayed và cộng sự,
2008) KTQT cung cấp các thông tin vĩ
imô, vi mô, các thông tin quá khứ cũng
nhưthông tin định hướng tương lai giúp
các nhà quản lý có cơ sở để xác định
các rủi ro đúng đắn Hay nóicách khác,
thông tin KTQT có vai trò quan trọng
trong việc hỗ trợ xácđịnh rủiro Vìvậy,
chúng tôi đề xuất giả thuyết nghiên cứu
qầu tiên nhưsau:
Giả thuyết 1: Việc sử dụng thông tin
KTQT phạm vi rộng có ảnh hưởng cùng
chiều đến việc xác định rủi ro của các
DN chế biến gỗ xuất khẩu Việt Nam
Mốì quan hệ giữa việc sử dụng thông
tin KTQT phạm vi rộng và Đánh giá
rủi ro
Đánh giárủi ro là việc cácrủi ro được
phân tích, xem xét khả năng xảy ra và
tác động của chúng đốivới đơn vị để làm
cơ sở để nhà quản lýđưa ra cácbiệnpháp
đôi phó (COSO, 2004) Việcđánhgiá rủi
ro giúp nhàquản lý ước tính tác độngcó
thêĩ có của rủi ro đối với tổ chức, đồng
thời giúp họ xác định được các biện pháp
đối phó với các rủi ro này, cũng như thứ
tựLIU tiên các rủi ro cần đôi phó (Fraser
và cộng sự, 2021) KTQT cung cấp các
thông tin định hướng tương lai, thông tin
thị trường, các thông tin về kinh tếvĩ mô,
hay những thông tin phi tài chính khác
giúp côngtycó cơ sở để đo lường rủi ro
một cáchphùhợp Vì vậy,giả thuyết thứ
2 đươc chúng tôi đề xuất như sau:
Giả thuyết 2: Việc sử dụng thông tin
KTQTphạm virộngcó ảnh hưởng cùng
chiều đến việc đánh giá rủi ro của các
DN cnế biến gỗ xuấtkhẩuViệtNam
Môi quan hệ giữa việc sử dụng
thông tin KTQT phạm vi rộng và Phản
ứng voi rủi ro
Phạn ứng với rủi ro là việc nhà quản
lý lựa chọncácphản ứng thích hợp(tránh
né rủi ro, giảm rủi ro, chấp nhận rủi ro
hay chia sẻrủi ro) phùhợpvới khả năng
chấp nhận rủi ro và khẩu vị rủi ro của
đơn vị (Jcoso, 2014) KTQT sẽ cung cáp
Economy And Forecast Review
các thông tinlàm cơsở để ban quản lý đưa ra các biện
pháp đôi phó rủi ro một cách hợp lý Thông tin được
cung cấp bởi KTQT làm giảm sự không chắc chắn trong việc ra quyếtđịnh quản lý (Winter, 2007) Khả
năng chấp nhận rủi rovà mức độ chấpnhậnrủi ro được
hiểu rõ ràng với các cảnh báo được đưa ra nhằm đảm
bảo nhà quản lý đượcbiết khi các ngưỡngrủi ro bị vượt
quá (Prewet và Terry, 2018), từđó có biện pháp đối
phó rủi ro kịp thời Do đó, giả thuyết nghiên cứuthứ 3 được đề xuấtnhưsau:
Giả thuyết 3: Việc sử dụngthông tinKTQT phạm vi
rộng có ảnh hưởng cùng chiều đếnviệc đối phóvớirủi
ro của cácDNchếbiến gỗxuất khẩu Việt Nam
Mốì quan hệ giữa ERM và Kết quả hoạt động kinh doanh
ERM là một quy trình đánh giá và quản lý rủi ro
toàn DN được thiết kế để mang lại sự đảm bảo hợp
lý trong việc đạtđược mục tiêu của DN (Callahan và Soileau, 2017) Tonello (2007) cho rằng, việc triển
khai ERM hiệu quả sẽ dẫn đến kết quả là rủi ro sẽ giảm vàcác phương pháp để giảm thiểu hoặctránh rủi
ro đó, cũng như xác định, phân tích rủi ro tốt hơn Hoyt
và Libenberg (2011) thừa nhận rằng, ERM có thể cải thiện kết quả hoạtđộng kinhdoanh của côngty trong
các ngành công nghiệp khác nhau Các DN áp dụng quy trình quản trịrủi ro từ việc xác định rủiro, đánh giá rủiro,đốìphórủiro có hiệu quả sẽgiúptăngcường kết quả hoạt động kinh doanh ở khía cạnhtài chính và phi
tài chính(PingvàMuthuveloo, 2015) Do đó, chúng tôi
đề xuấtcácgiả thuyết sau:
Giả thuyết 4a: Việc xácđịnh rủi rogiúp tăng cường kếtquả hoạt động kinh doanh củacác DN chế biến gỗ
xuất khẩuViệt Nam
Giả thuyết 4b: Việc đánh giá rủi rogiúptăngcường kết quả hoạt động kinh doanh của các DNchế biến gỗ xuất khẩu ViệtNam
Giả thuyết 4c: Việc phản ứng với rủi ro giúp tăng cườngkết quả hoạt động kinh doanh của các DN chê biến gỗ xuấtkhẩu Việt Nam
Môì quan hệ giữa việc sử dụng thông tin KTQT phạm vi rộng và Kết quả hoạt động kinh doanh
Theo Atkinson và cộng sự (2012), các DN thành
công không chỉ theo dõi kết quả hoạt động kinhdoanh, khíacạnh tài chính, mà còn phải chú ý đến khíacạnh
phi tài chính,như: tỷlệ sản phẩm hỏng, thời gian giao
hàng, số lượng sản phẩm mới/sáng kiến, sự hài lòng củakhách hàng và nhânviên Thông tin KTQTphạm
virộngkhông chỉ cung cấpthông tin tài chính, mà còn
bao gồm cả thông tin phi tài chính;không chỉ cung cấp thông tin bên trong, mà còn bao gồmcả thông tin bên ngoài DN; không chỉ cung cấp thông tin quá khứ, mà
còn baogồm thôngtin định hướngtương lai (Chenhall
và Morris, 1986) Thông tin KTQT phạm vi rộng sẽ giúp các nhà quản lýđưa ra quyết định đúngđắn,từđó nâng caohiệu quả hoạt độngcủa tổchức.Do đó,chúng tôiđề xuất giả thuyết nghiên cứu cuối cùng như sau:
Giả thuyết 5: Việc sử dụng thông tin KTQT phạm
vi rộng cóảnh hưởng trực tiếp cùng chiều đến kết quả
111
Trang 4hoạt động kinh doanh của các DN chế biến gỗ xuất
khẩu Việt Nam
Dựa trên các vấn đề được trình bày
ở trên, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu nhưHình
KẾT LUẬN
ERM là cách tiếp cận từ trên xuống,
xem xét việc xác định, đánh giá và ứng phó với các rủi ro chiến lược, hoạt động
và tài chính Quy trình ERM được thiết
kê để xác định các sự kiện tiềm ẩn có thể ảnh hưởng đến côngty,quản lýrủiro phù hợp với khẩu vị rủi ro của công ty và đảm bảo đơn vị đạtđượccác mục tiêu của
mình Với ERM, các công ty có thể xác
định,đánhgiá và quản lýdanh mục rủiro
gặp phải tốt hơn KTQT đóng vaitrò quan
trọngtrong đo lường rủi ro cũng nhưgiúp
nhà quảnlý có cơ sở để đưa ra các biện
pháp đối phó với rủiromộtcáchhiệu quả,
từ đó nângcao hiệu quả kinh doanh.□
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn ThịXuân Linh (2014) Hoàn thiện hệ thổng kiểm soát rủi ro tại các DN chê'biến gỗ tỉnh Bình Định, Luận văn thạcsĩ, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ ChíMinh
2 Phan Thùy Dương vàĐặng Thu Hằng (2020) Tác động củaquản trịrủi ro đến giá trị niêm yết củacác DN xây dựng trên địabàn TP HàNội, Tạp chí Tái chính, kỳ 2, tháng2
3 Trịnh Thị Phan Lan (2015) Các bằng chứng thực nghiệm về tác động của quảntrịrủi rotới giá trị DN, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế & Kinh doanh, số 3, 1-9
4 Arena,M., Arnaboldi, M., and Azzone, G (2011) Is enterprise risk management real?.Journal
of Risk Research, 14(7), 779-797
5 Callahan, c., and Soileau, J (2017) Does enterprise risk managementenhance operating
performance?, Advances in accounting, 37, 122-139
6 Chenhall, R H (2006) Theorizing contingencies in management control systems research, Handbooks of management accounting research, 1, 163-205
7 COSO (Committee of Sponsoring Organizations of theTreadway Commission) (2004) COSO Enterprise Risk Management—Integrated Framework, New York: American Institute of Certifed Public Accountants
8 Florio, c., and Leoni, G (2017) Enterprise risk management and firm performance: The Italian case, The British Accounting Review, 49(1),56-74
9 Fraser, J R., Quail, R., andSimkins, B.(2021) Enterprise risk management: Today's leading research and best practices for tomorrow's executives,John Wiley & Sons
10 Hoyt,R.E., and Liebenberg, A.p (2011).The value of enterprise risk management.Journal
of risk and insurance,78(4),795-822
11 Li,Q., Wu, Y.,Marshall,A., Chipulu, M., and Ojiako,u (2014) Enterpriserisk management andfirm value within China’s insurance industry,Acta Commercii, 14(1), 1-10
12 Meulbroek, L K (2002) Integrated risk management for the firm: a senior manager’s guide,
SSRN 301331
13 Prewett, K., and Terry, A.(2018).COSO's updated enterprise risk managementframework-A quest for depthand clarity,Journal of Corporate Accounting & Finance, 29(3), 16-23
14 Silva, J R., Silva, A F D., andChan, B L (2019) Enterprise risk managementand firm value:evidence from Brazil, Emerging Markets Finance and Trade,55(3), 687-703
15 Tonello, M (2007) Emerging governance practices in enterprise risk management The ConferenceBoard ResearchReport
16 Winter, p (2007) Managerial risk accounting and control - a German perspective, retrieved www.ssrn.com