Thực tiễn - Kinh nghiệm Tạp chí Cộng sảnĐỔI MÓI MÔ HÌNH TÓ CHÚC SÀN XUẤT BÙI THỊ QUỲNH VÂN * * ủy viên Trung ương Đàng, Bí thư Tinh ủy Quảng Ngãi Mô hình tổ chức phát triển nông nghiệp
Trang 1Thực tiễn - Kinh nghiệm Tạp chí Cộng sản
ĐỔI MÓI MÔ HÌNH TÓ CHÚC SÀN XUẤT
BÙI THỊ QUỲNH VÂN *
* ủy viên Trung ương Đàng, Bí thư Tinh ủy Quảng Ngãi
Mô hình tổ chức phát triển nông nghiệp theo chuỗi giá trị ở tỉnh Quảng
Ngãi thu được những kết quả bước đầu, hình thành mối liên kết chặt chẽ
giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ, Thành công đó khẳng định tính đúng
đắn và hiệu quả trong việc xác định khâu phát triển đột phá của nông
nghiệp tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và cả nước nói chung Do đỏ, cần tiếp tục
nghiên cứu, phân tích mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp theo chuỗi
giá trị ở tình Quảng Ngãi.
Nhận thức về chuỗi giá trị nông nghiệp
Chuồi giá trị (CGT) được hiểu theo nghĩa
hẹp là một loạt các hoạt động thực hiện trong
một doanh nghiệp (DN) để sản xuất ra một
sản phấm nhất định; hiểu theo nghĩa rộng,
là một phức hợp những hoạt động do nhiều
người tham gia thực hiện (người sản xuất
sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người
cung cấp dịch vụ, ) để biến nguyên liệu thô
thành thành phẩm được bán lẻ Chuồi giá trị
gồm các nhân tố con người và hoạt động sản
xuất, cải tiến sản phẩm thông qua kết nối các
nhà sản xuất hàng hóa với các nhà chế biến
và thị trường
Chuỗi giả trị nông nghiệp, vì thế, là một
tập hợp những hoạt động do nhiều người
khác nhau tham gia thực hiện để sản xuất ra
sản phẩm nông nghiệp, sau đó bán cho người
tiêu dùng Mô hình CGT nông nghiệp giúp
các mắt xích phát triển rời rạc liên kết với
nhau để tăng giá trị, nâng cao sức cạnh tranh
cho nông sản, tạo ra hệ sinh thái sản xuất mới tại nông thôn với cơ hội mới cho mọi người Mô hình CGT nông nghiệp là tổng thể các hoạt động liên quan đến ngành nông nghiệp, bao gồm các hoạt động có quan hệ với nhau: “cung cấp đầu vào => tổ chức sản xuất => chế biến => tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp”
Vai trò của CGT nông nghiệp ở nước ta
Chuồi giá trị nông nghiệp đóng góp vai trò quan trọng trong việc thay đổi cách thức phát triển nền nông nghiệp theo hướng có kế hoạch, gắn với nhu cầu thị trường; quan tâm hơn tới chất lượng, mẫu mã bao bì, thương hiệu của nông sản, Mô hình CGT nông nghiệp tập hợp nhiều nông dân có quy mô sản xuất nhỏ thành quy mô lớn, sản xuất theo hướng hàng hóa, tăng khả năng cạnh tranh
và đàm phán trên thị trường, góp phần hình
74 Số 988 (tháng 4 năm 2022)
Trang 2Thực tiễn - Kinh nghiệm Tạp chí Cộng sàn
thành những vùng nguyên liệu ổn định, quy
mô sản lượng cao, chất lượng sản phẩm đồng
đều; thay đổi những điểm yếu của nông dân,
như tập quán sản xuất nhỏ lẻ, quy trình canh
tác tự do, khả năng hợp tác yếu, chậm thay
đổi quy trình - công nghệ sản xuất, ít cập
nhật thông tin thị trường
Thông qua mô hình CGT nông nghiệp,
hợp tác xã (HTX) và DN dễ áp dụng các quy
trình quản lý sản xuất để tạo ra sản phẩm
chất lượng cao, nâng cao năng lực điều hành
và tổ chức sản xuất theo hợp đồng đã ký kết
với DN, tăng khả năng hồ trợ tiêu thụ nông
sản, tăng lợi nhuận cho HTX, nông dân có
cơ hội tiếp cận với cơ giới hóa, hiện đại hóa,
giảm chi phí sản xuất và ngày công lao động
Các nhóm tác nhân trong CGT nhận được lợi
ích từ việc gia tăng giá trị tăng thêm trong
liên kết chuỗi
Lợi ích của việc tham gia CGT nông nghiệp
Đoi với nông dân, tham gia CGT sẽ giúp
họ sản xuất theo cầu thị trường trên cơ sở
đặt hàng và mức tiêu thụ Trong CGT, nông
dân cũng tăng quyền lực thương lượng với
đối tác như HTX, DN và được đối tác cung
cấp thông tin thị trường và ứng vốn sản
xuất Nông dân cũng thu được những kinh
nghiệm, tư vấn của DN để sản xuất những
sản phẩm phù họp hơn, với chi phí sản xuất
tốt hơn, góp phần nâng cao lợi nhuận Đối
với HTX, khi tham gia vào CGT thì vai trò
và khả năng đóng góp sẽ được nâng cao, có
thể thay thế một hoặc nhiều tác nhân trong
chuỗi và liên kết với DN, qua đó, tăng uy
tín với thành viên và nông dân Việc tiếp cận
với DN sẽ góp phần nâng cao năng lực quản
lý và khả năng phân tích thị trường của các
lãnh đạo và thành viên HTX Đối với DN,
tham gia CGT sẽ giúp DN có vùng nguyên
liệu ổn định tại các HTX hoặc nông hộ ở
vùng liên kết, qua đó, gia tăng khả năng cạnh
tranh Doanh nghiệp có điều kiện thu thập
thông tin về nhu cầu khách hàng và thông
tin thị trường để cung cấp cho HTX và thành viên biết để điều chỉnh sản xuất, có quy mô sản phẩm đủ lớn, chất lượng sản phẩm đồng nhất và cung cấp thường xuyên Thành viên hoặc các HTX cũng có thể biến thành khách hàng tiêu dùng các sản phẩm khác của DN trong chuỗi
Thực trạng phát triển chuỗi giá trị
nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ngai
Sổ lượng CGT nông nghiệp
Từ năm 2018, nhằm tạo ra sự thay đổi có tính đột phá trong nông nghiệp, trên cơ sở thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, tỉnh Quảng Ngãi
đã thực hiện hàng loạt các dự án hồ trợ phát triển sản xuất theo CGT Giai đoạn 2018 -
2020, tỉnh triển khai thực hiện 574 dự án liên kết sản xuất theo CGT gắn với tiêu thụ sản phẩm, với 22.901 hộ dân tham gia thực hiện Trong đó, nhóm dự án CGT trồng trọt
có 183 dự án (23 loại cây trồng), với quy mô 2.217,6ha đất canh tác và 14.052 hộ tham gia, bình quân 1.578m2/hộ; nhóm dự án CGT chăn nuôi có 380 dự án, với 1.840 hộ tham gia; nhóm dự án CGT chế biến có 8 dự án chế biến thủy sản; nhóm dự án CGT ngành,
nghề có 3 dự án sản xuất và tiêu thụ chổi đót
Có 64 đơn vị (trong tỉnh có 62 đơn vị, ngoài tỉnh có 2 đon vị) chủ trì tham gia 574 dự án CGT, gồm: 25 DN (23 chủ trì dự án trong tỉnh, 2 chủ trì dự án ngoài tỉnh) với số nông
hộ kết hợp lên đến 14.916 hộ gia đình; 37 HTX với 7.325 hộ liên kết; 2 tổ hợp tác với
91 hộ tham gia
Nhiều CGT của tỉnh Quảng Ngãi đã hình thành và phát triển đồng bộ từ sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm với sự tham gia của doanh nghiệp, HTX, tổ họp tác, người nông dân trong các ngành hàng nông, lâm, thủy sản, đặc biệt như chuỗi nấm, chuồi tỏi đen, chuồi bò, măng tây, Các CGT nông sản triển khai theo các hình thức liên kết khác
Trang 3Thực tiễn - Kinh nghiệm Tạp chí Công sàn
nhau, như liên kết tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ
đầu ra, liên kết góp vốn đầu tư sản xuất, là
những hình thức liên kết chặt chẽ, có sự chia
sẻ lợi ích và rủi ro giữa DN và người nông
dân Đồng thời, một số chuỗi cung ứng nông
sản ứng dụng thành công công nghệ mới,
như công nghệ thông tin trong quản lý chuồi
cung ứng, kết nối sản xuất và tiêu dùng, truy
xuất nguồn gốc nông sản
Đã và đang hình thành các CGT phát triển
theo 3 cấp độ: sản phẩm chủ lực quốc gia,
sản phẩm cấp tỉnh và sản phẩm địa phương
Chuồi giá trị các nhóm sản phẩm chủ lực
quốc gia khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ đã
và đang dần hoàn thiện Một số CGT nhận
được nhiều sự hồ trợ từ sản xuất, liên kết
trong sản xuất, tiêu thụ thông qua hợp đồng
thương mại đến xây dựng thương hiệu và hồ
trợ thúc đấy phát triển thị trường xuất khẩu
Hình thức liên kết trong mô hình CGT
nông nghiệp
Hiện nay ở Việt Nam nói chung và tỉnh
Quảng Ngãi nói riêng, đang tồn tại một số
hình thức liên kết:
Liên kết ngang giữa nông dân - nông
dân, HTX - HTX, DN - DN Hình thức này
giúp giảm chi phí, tăng giá bán sản phẩm,
tăng số lượng hàng bán Ví dụ, nông dân
tổ chức mua chung vật tư đầu vào có thể tạo
ra một số lợi ích: 1- Mua được với giá thấp
vì số lượng lớn và trực tiếp từ người cung
cấp; 2- Tổ chức mua theo tập thể sẽ giảm
được chi phí vận chuyển nếu phải mua xa;
3- Tiêu thụ qua tập thể “tổ - nhóm đồng
sở thích” có khả năng hợp đồng bán với số
lượng lớn, bảo đảm uy tín và giảm thiểu
rủi ro
Liên kết dọc giữa nông dân - HTX - DN
trong chuỗi sản xuất Hình thức này phát
sinh do yêu cầu thích ứng với thị trường hiện
đại dẫn đến việc hình thành các CGT nông
sản thực phẩm Liên kết dọc có một số mô
hình như:
1- Tiêu thụ trực tiếp giữa nông dân và người tiều dùng, tuy liên kết trong CGT không mạnh, số lượng giao dịch nhỏ tại các chợ, khu sản xuất của nông dân, khách hàng tiêu dùng là khách du lịch, nhưng với sự phát triển của công nghệ và phương thức bán hàng mới, như bán hàng trực tuyến (online),
mô hình này có thể phát triển đối với những nông sản dễ bảo quản và có thời gian bảo quản lâu
2- Doanh nghiệp liên kết trực tiếp với nông hộ thông qua mô hình liên kết tập trung hoặc mô hình nông dân làm gia công cho doanh nghiệp Với mô hình liên kết tập
trung, DN cung cấp đầu vào và hướng dẫn kỹ thuật cho các nông hộ, HTX và trang trại; sau
đó trang trại sẽ cung cấp sản phẩm cho DN
để chế biến và tiêu thụ Mô hình này được
áp dụng khá nhiều ở tỉnh Quảng Ngãi Việc thực hiện các cam kết sẽ quyết định tính bền vững và hiệu quả của mô hình này Thực tế cho thấy, nếu liên kết chỉ một chiều qua hợp đồng nông dân bán nông sản cho DN thì tỷ
lệ phá vỡ hợp đồng thường cao hơn (đặc biệt khi mức giá thị trường sau thu hoạch cao hơn mức giá ký kết thu mua với DN) Nhưng nếu hợp đồng bao gồm hỗ trợ đầu vào và tư vấn
kỹ thuật của DN cho nông dân để phát triển sản xuất thì tỷ lệ thực hiện cam kết về sản phẩm của nông dân trong việc thực hiện hợp đồng sẽ cao hơn Trên thực tế, mô hình này chỉ thích hợp với một số mặt hàng nông sản
mà chi phí đầu vào lớn, hoặc phải đạt tiêu chuẩn nhất định mà thị trường khó thay thế được Với mô hình nông dân gia công cho doanh nghiệp, những DN có tiềm lực về kinh
tế và đất đai đầu tư vào những sản phẩm nông nghiệp mang giá trị cao, thuê nông dân làm cho mình tại các trang trại của DN Doanh nghiệp cung cấp đầu vào và hướng dẫn kỳ thuật cho nông dân được thuê Mô hình CGT này gói gọn trong phạm vi DN nên các công đoạn trong CGT có tính xuyên suốt và ổn
76 Số 988 (tháng 4 năm 2022)
Trang 4Thực tiễn - Kinh nghiệm Tạp chí Cộng sàn
định hơn Người phát triển CGT là doanh
nhân vừa có kiến thức kinh tế thị trường, vừa
có kinh nghiệm quản lý và vốn nên khá thành
công Hiệu quả phát triển CGT theo mô hình
này khá cao, tuy nhiên, mô hình này chưa
nhận được nhiều ưu đãi so với mô hình kinh
tế tập thể dưới dạng HTX hoặc “nhóm đồng
sở thích”
3- Giữa nông dân và người mua, HTX
đóng vai trò trung gian Hợp tác xã đứng
ra ký hợp đồng tiêu thụ với DN rồi tổ chức
thu mua của xã viên để bán lại cho DN, hoặc
HTX chỉ đại diện ký hợp đồng, các thành viên
sẽ trực tiếp thực hiện cung cấp hàng cho DN
trên cơ sở hợp đồng đã ký Tuy nhiên, vấn đề
hiện nay là rất khó bảo đảm về chất lượng và
độ đồng đều của nông sản Bên cạnh đó, các
mối liên kết giữa các mắt xích trong CGT
dề bị đứt gãy và tình trạng cạnh tranh mua
nông sản giữa tư thương, “nậu vựa” và DN
vần còn xảy ra Hiện tượng người nông dân
phá vỡ hợp đồng đã ký kết với DN để bán
cho người mua khác giá cao hơn vẫn còn tồn
tại Việc xử phạt vi phạm hợp đồng đối với
nông hộ khó thực thi vì họ thường không có
tiền đền bù hợp đồng hoặc cố tình dây dưa,
kéo dài thời gian thực hiện Sự phát triển của
các CGT cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố,
như lãnh đạo HTX chỉ có nhiệm kỳ 5 năm
nên động lực làm việc hạn chế; sự nể nang,
mối quan hệ họ hàng, làng xã nên khó xử lý
triệt để khi có các vi phạm; số lượng thành
viên HTX lớn nên các quyết định thường
khó khăn,
4- Mô hình liên kết 4 nhà (Nhà nước, nhà
khoa học, nhà nông, DN) Doanh nghiệp và
hộ sản xuất là hai tác nhân chính, trong đó
DN giữ vai trò quan trọng kết nối thị trường
và xây dựng thương hiệu cho nông sản
Trước áp lực của hội nhập vào thị trường
khu vực và thế giới hiện nay, DN cần chủ
động đổi mới và chuẩn bị đủ yếu tố cần
thiết để cạnh tranh với hàng hóa của các
DN nước ngoài trên thị trường Nhà nước tạo điều kiện về cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý và hồ trợ cần thiết để liên kết được hình thành và phát triển Chính quyền địa phương chủ động phối hợp thực hiện chính sách và tạo thuận lợi cho các liên kết được chặt chẽ, theo dõi, kiểm tra và đánh giá hoạt động liên kết để có những kiến nghị hay biện pháp thích hợp tăng cường hiệu quả liên kết Nhà khoa học là người đưa những kiến thức thị trường, khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh tới với nông dân và doanh nghiệp; tư vấn cho Nhà nước các biện pháp tăng cường hiệu quả của mối liên kết
Kết quả của mô hình CGT tại tỉnh Quảng Ngãi
Việc áp dụng mô hình CGT nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ngãi đã đạt những thành công bước đầu:
Một là, tạo nhận thức mới trong cán bộ
và người dân về sự cần thiết phải sản xuất theo chuỗi, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, khắc phục dần tình trạng sản xuất tự phát theo phong trào, sản xuất không theo họp đồng
Hai là, một số sản phẩm bước đầu đã hình thành CGT gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, như một số sản phẩm của huyện Sơn Hà đã vào chuồi siêu thị BigC; măng tây của huyện Mộ Đức; nam của HTX nấm Đức Nhuận,
Ba là, một số dự án tuy chưa có sản phẩm
nhưng bước đầu đã tạo ra mô hình sản xuất được nông dân quan tâm học tập nhân rộng, như bưởi da xanh, hươu sao, bò, măng tây,
Bon là, nông dân tham gia chủ động trong
việc thực hiện các dự án, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng những tiến bộ
kỳ thuật trong sản xuất và tiếp tục duy trì sản xuất sau khi dự án kết thúc
Trong phát triển mô hình CGT nông nghiệp ở tỉnh Quảng Ngãi còn bộc lộ một số
Trang 5Thực tiễn - Kinh nghiệm Tạp chí Cộng sàn
hạn chế: 1- Trong phát triển CGT, xác định
chưa đúng trọng tâm, chưa tập trung vào
các loại cây, con chủ lực theo định hướng
phát triển của từng địa phương, từng vùng;
việc lựa chọn sản phẩm và CGT dàn trải dẫn
tới khó tập trung nguồn lực để phát triển
2- Các CGT còn thiếu tính liên kết vùng
trồng giữa các xã do còn hiện tượng phân tán
lợi ích Việc chọn hộ tham gia CGT có nhiều
bất cập; thường có quá nhiều hộ tham gia
một CGT nên số lượng sản phẩm hoặc diện
tích sản xuất không lớn hiệu quả thấp, không
tạo ra mô hình liên kết sản xuất bền vững
3- Việc tuyên truyền, vận động người dân
nhận thức về lợi ích khi thực hiện đúng cam
kết trong CGT nhằm duy trì các mối liên kết
còn hạn che Sự thấu hiểu, chia sẻ lợi ích
và năng lực thực hiện hợp đồng của các bên
tham gia chưa thực sự tốt, liên kết giữa “4
nhà” lại thiếu chặt chẽ và chưa mang tính
đồng bộ vẫn còn xảy ra tình trạng DN và
nông dân phá vỡ hợp đồng khi có sự biến
động về giá, thị trường tiêu thụ 4- Việc xây
dựng thương hiệu chưa được đầu tư tương
xứng khiến cho hiệu quả các hoạt động xúc
tiến thương mại chưa cao; các hoạt động
cung cấp thông tin và dự báo về thị trường
sản phẩm nông nghiệp chưa được đầy đủ
làm hạn chế khả năng tiếp cận thị trường
5- Quy mô sản xuất nhỏ, tỷ lệ nông sản sản
xuất theo các tiêu chuẩn chất lượng bền
vững còn thấp; mức độ áp dụng công nghệ
trong khâu sau thu hoạch và bảo quản chưa
cao, chưa có nhiều nhà máy hiện đại; thiếu
chế biến sâu, chế biến tinh, chế biến phụ
phẩm 6- Dịch vụ logistics phục vụ hoạt
động xuất khẩu của sản phẩm nông nghiệp
còn hạn chế Thực tế, DN nông nghiệp và
logistics vẫn chưa có được sự liên kết chặt
chẽ, giao dịch giữa hai bên phần lớn vẫn chỉ
thực hiện dưới hình thức cho thuê theo hợp
đồng mà chưa có sự liên kết để hồ trợ nhau
về giá, nâng cao chất lượng dịch vụ
Nguyên nhân khách quan của hạn chế là
sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi còn manh mún, quy mô nhỏ; sản phẩm nông nghiệp có giá trị không cao; khả năng đầu tư phát triển sản xuất của người dân còn hạn chế; thiếu DN mạnh, có tiềm lực đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trong tỉnh nên việc phát triển sản xuất theo CGT còn hạn chế Bên cạnh đó, thời tiết nắng nóng kéo dài, thiên tai, dịch bệnh, cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc phát triển mô hình CGT nông nghiệp của tỉnh
Tuy nhiên, tỉnh Quảng Ngãi xác định
nguyên nhân chủ quan đóng vai trò chủ yếu,
đó là:
- Sự cam kết của chính quyền trong các khâu, các bước của quá trình liên kết chuồi chưa thực sự mạnh mẽ, biểu hiện ở chồ còn chưa thực hiện hiệu quả Thông
tư số 43/2017/TT-BTC, ngày 12-5-2017, của Bộ Tài chính, “Quy định quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020” quy định
về góp vốn đối ứng của người tham gia
dự án phát triển CGT Trong các dự án có quy mô liên xã, cấp huyện chưa thực sự mạnh dạn làm chủ đầu tư nên thiếu tính liên kết vùng, hiệu quả thấp Một số nơi chưa thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các chủ trì dự án, hộ dân tham gia dự án thực hiện đúng các hợp đồng đã ký kết; việc kiểm tra, giám sát còn hạn chế
- Đa sổ các chủ trì dự án chỉ quan tâm đến khâu cung cấp đầu vào, chưa quan tâm đến khâu tiêu thụ sàn phẩm; năng lực tổ chức thu mua sản phẩm, cơ sở vật chất phục vụ cho việc thu mua nông sản cùa các chủ trì
dự án còn hạn chế Việc phân bổ kinh phí của các dự án phát triển cho các CGT tại các địa phương theo phương thức bình quân, chia đều nên chưa phát huy hiệu quả sử dụng nguồn vốn
78 Số 988 (tháng 4 năm 2022)
Trang 6Thực tiễn - Kinh nghiệm Tạp chí Cộng sản
- Với đặc thù sản phẩm nông nghiệp, hầu
hết trong các CGT cần có sự tham gia của
nhiều nhóm tác nhân, bởi một mặt, đa số sản
phẩm nông nghiệp gắn liền với đất đai nên
giá trị đầu tư ban đầu rất lớn nhưng rất ít nhà
đầu tư đủ nguồn lực mua lượng đất đai này
Đồng thời, có những nhà đầu tư đủ tiềm lực
có thể sẽ dùng quỳ đất này vào những việc
khác thay vì sản xuất nông nghiệp, do những
ngành khác có tỷ suất lợi nhuận cao hom;
mặt khác, tại những vùng điều kiện thời tiết,
khí hậu không thuận lợi như tỉnh Quảng
Ngãi, những nhà đầu tư lớn có thể “ngại” lựa
chọn đầu tư nông nghiệp Vì vậy, quỹ đất của
tỉnh cũng còn khá nhiều nhưng nằm rải rác
trong các nông hộ
- Một số văn bản quy định còn chồng
chéo gây khó khăn cho nông hộ, HTX và
DN khi tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi
Một số quy định về HTX còn bất cập, là
nguyên nhân cản trở sự quyết tâm phát triến
của lãnh đạo HTX, như quy định nhiệm kỳ
5 năm với lãnh đạo, về cấp quản lý, về các
hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cấp,
các hội,
Một số kinh nghiệm bước đầu
về cách thức tiếp cận vấn đề
Trước đây, cách tiếp cận mô hình CGT
trong thực tế tại tỉnh Quảng Ngãi thường xuất
phát từ chỉ đạo của chính quyền, thông qua
các chương trình mục tiêu phát triển nông
thôn, chứ chưa chú trọng phải bắt nguồn từ
chính yêu cầu của sản xuất, nông dân, HTX
và DN Vì vậy, mức độ hiệu quả của mô hình
thực thi trên thực tế còn hạn chế Việc cần
làm trước hết là tiếp cận vấn đề từ góc độ
chủ thể trực tiếp thực hiện và trực tiếp hưởng
thụ lợi ích trong phát triển CGT nông nghiệp,
như nông hộ, HTX, DN
Đối với người nóng dân, cần nhận thức
được mô hình CGT giúp nông dân tiếp cận
với thị trường một cách chủ động hơn, thay
đổi cách nhìn về sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, thay đổi tư duy về liên kết hợp tác Nông dân có cơ hội để khai thác hiệu quả hơn quỹ đất, sức lao động, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh và các thế mạnh của mình khi tham gia CGT Nông dân có cơ hội, tiếp cận nhiều hơn với cách thức kinh doanh của
DN, được DN và Nhà nước hồ trợ đào tạo về
kỳ thuật sản xuất, phương án kinh doanh, hạn chế được một số biến động thị trường và giá
cả Hoạt động sản xuất của nông dân, do đó,
có chiến lược và kế hoạch rõ ràng Thu nhập nông dân được cải thiện, nhiều người sẽ tìm được việc làm và phát triển trên chính quê hương của mình Tham gia CGT sẽ giúp họ sản xuất theo cầu thị trường trên cơ sở những đặt hàng và mức tiêu thụ, tăng quyền thương lượng với đối tác như HTX, DN Nông dân cũng học được những kinh nghiệm, tư vấn của DN để sản xuất những sản phẩm phù hợp hơn với chi phí sản xuất tốt hơn, nâng cao lợi nhuận và thu nhập
Đổi với HTX, có vai trò kết nối tổ chức sản xuất Chuồi giá trị là một mô hình giúp HTX phát triển, tạo cơ hội cho các thành viên tham gia nhiều hơn, giúp cho các thành viên nâng cao thu nhập; đồng thời, khẳng định, củng cố vai trò, uy tín của HTX trong phát triển kinh tế Hợp tác xã có the thay thế một hoặc nhiều tác nhân trong chuỗi, như thu gom, “nậu vựa”, trung gian phân phối, thu mua, liên kết với DN, Việc tiếp cận của HTX với DN sẽ góp phần nâng cao năng lực
tư duy kinh doanh, kỹ năng quản lý và khả năng phân tích thị trường của các lãnh đạo, thành viên HTX
về phía DN, tham gia CGT nông nghiệp
là cơ hội cho các DN đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, mở rộng cơ hội kinh doanh, phát triển sản xuất, tìm kiếm lợi nhuận, giúp DN phát triển được vùng nguyên liệu
ổn định tại HTX hoặc một số địa phương liên kết, gia tăng khả năng cạnh tranh và xây
Trang 7Thực tiễn -Kính nghiệm Tạp chí Cộng sân
dựng thương hiệu Doanh nghiệp có điều
kiện thu thập thông tin về nhu cầu khách
hàng và thông tin thị trường hoặc có thể tiếp
cận thành viên hay các HTX trong chuỗi
liên kết thành khách hàng tiêu dùng các sản
phẩm khác của DN
Nhà khoa học, tham gia CGT với vai
trò tư vấn, đưa những kiến thức của mình
áp dụng vào thực tiễn và trong quá trình
hồ trợ người dân sẽ đúc kết được nhiều giá
trị và tìm ra được nhiều vấn đề mới trong
nghiên cứu
Người tiêu dùng, tham gia CGT có thể có
được những sản phẩm bảo đảm hơn về chất
lượng, thời gian và có lợi hơn về giá cả
về phía Nhà nước, mô hình CGT giúp địa
phương và người dân, đặc biệt là nông dân,
thay đổi cách thức liên kết sản xuất, giúp giải
quyết việc làm, nâng cao thu thập và qua đó,
phát triển kinh tế - xã hội địa phương Khi
người dân tham gia CGT, chính quyền sẽ dễ
dàng hơn trong việc giám sát, hồ trợ và quản
lý; định hướng các hoạt động sản xuất, kinh
doanh theo hướng quy hoạch và có lợi về
mặt kinh tế - xã hội và môi trường
Những yếu to cần thiết đế mô hình CGT
thành công
Một là, yếu tố nhận thức, thê chế và chính
sách.
về nhận thức, cần có sự đồng thuận, nhất
trí cao trong nhận thức của các cấp chính
quyền cùng người nông dân trong việc phát
triển CGT nông nghiệp Do đó, cần có sự
tuyên truyền rộng rãi về quy trình thực hiện,
lợi ích của các CGT và quan trọng hơn, là
có những mô hình phát triển CGT thành
công trên thực tiễn; tuyên truyền về vai trò, ý
nghĩa và lợi ích của việc thực hiện đúng cam
kết hợp đồng
Các chính sách và cơ chế liên quan tới sự
phát triển của CGT nông nghiệp cần được
nghiên cứu kỳ lưỡng và gỡ các nút thắt; có
sự tham gia của các nhà khoa học, những
người trực tiếp thực thi và được hưởng lợi ích từ các chính sách để bảo đảm các chính sách có thế áp dụng hiệu quả trong thực tiễn, tránh hiện tượng chính sách, mục tiêu rất tốt nhưng khâu tổ chức thực hiện thì gặp một số vướng mắc dẫn đến tính hiệu quả chưa cao Các chính sách cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, tránh sự chồng chéo, gây khó khăn cho người dân, DN và HTX khi thực hiện Xác định các sắp xếp về thể chế nhằm cải thiện năng lực hoạt động của CGT, xóa
bỏ các lệch lạc trong trong phân phối, thúc đẩy giá trị gia tăng trong ngành
Hai là, yếu tố nhân lực.
Nhân lực trong CGT là yếu tố quan trọng, có tính chất quyết định tới hiệu quả
và sự thành công của CGT Trong CGT nông nghiệp, sản phẩm thường phụ thuộc vào kỹ thuật và cách thức chăm sóc, gieo trồng, thu hoạch, của nông dân; sau đó, thu mua, chế biến, đóng gói bao bì và tiêu thụ sản phẩm Các công đoạn cần có sự phối hợp nhịp nhàng, sáng tạo và nhất trí cao Neu nhân lực trong CGT hiểu được vai trò, trách nhiệm của mình trong các khâu, chuồi cũng như ý nghĩa hoạt động thì mồi cá nhân sẽ nỗ lực đóng góp hoàn thành nhiệm vụ Bên cạnh đó, trình độ nhân lực, phương pháp, cách thức sản xuất còn phụ thuộc vào hoạt động đào tạo và hiệu quả của các hoạt động của CGT Một số CGT yêu cầu nhân lực chất lượng cao, như làm việc trong các khâu nghiên cứu, thí nghiệm, vận hành chuồi cung ứng, quản
lý, điều độ, Những dự án đầu tư phát triển CGT nông nghiệp thì chủ trì dự án phải bảo đảm năng lực tổ chức thu mua sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết; chủ đầu tư dự án của Nhà nước trong phát triển CGT cần rà soát năng lực to chức thực hiện của chủ trì dự án, nếu không đủ năng lực thì phải thay thế bởi chủ trì khác Ưu tiên cho HTX làm chủ trì nhưng cần bảo đảm nguyên tắc đủ năng lực triển khai thực hiện dự án, nhất là khâu tiêu
80 Số 988 (tháng 4 năm 2022)
Trang 8Thực tiễn - Kinh nghiệm Tạp chí Công sản
thụ sản phẩm theo hợp đồng; chủ trì dự án
cần có đủ tư cách pháp nhân
Ngoài ra, để cho CGT phát triển, khâu sản
xuất, chế biến, kiến thức thị trường và sự am
hiểu những nguyên tắc kinh doanh cũng rất
cần thiết nhằm trang bị cho các thành viên,
thông qua hoạt động tuyên truyền, tư vấn đào
tạo để hoạt động của chuỗi được liên tục, hạn
chế việc phá vỡ các liên kết
Bên cạnh đó, với đặc thù của hoạt động
kinh doanh phải ứng phó với nhiều rủi ro,
biến động thị trường, từ thời tiết và yếu tố
khác nên rất cần những đội ngũ nhân lực tâm
huyết, kiên trì với mục tiêu phát triển chuỗi
cũng như sáng tạo ra cách thức, phương pháp
làm hay trong những tình huống thực tế của
CGT nhằm nâng cao năng lực cạnh
Ba là, yếu tố liên kêt.
Liên kết là yếu tố cần thiết đề CGT tồn tại
và phát triển bền vững Việc phá vỡ các liên
kết chuồi sẽ làm cho chuồi hoạt động không
hiệu quả Vì vậy, cần rà soát, điều chỉnh các
hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm đã ký
kết: 1 - Hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm phải đúng với mẫu quy định và bảo
đảm tính chặt chẽ 2- Bổ sung rõ các ràng
buộc trong hợp đồng về trách nhiệm của hai
bên trong tiêu thụ sản phẩm
Thông qua hợp đồng liên kết, DN có được
vùng nguyên liệu quy mô lớn và chất lượng,
chủ động trong kinh doanh nên có thể thỏa
thuận mua sản phẩm với giá có lợi hơn đối
với nông dân Nông dân sản xuất đúng sản
phẩm theo yêu cầu thị trường và yên tâm đầu
ra sản phẩm với mức giá đã được thỏa thuận
trong hợp đồng Hợp tác xã có vai trò là cầu
nối giữa DN và nông dân
Nhà nước cần làm cầu nối cho DN và tổ
chức nông dân địa phương với thị trường
hoặc các DN chế biến và tiêu thụ lớn thông
qua việc cung cấp thông tin thị trường, môi
giới thị trường, môi giới đầu tư Nhà nước
phối hợp với DN lớn, các viện nghiên cứu
hoặc hiệp hội để chuyển giao công nghệ hiện đại, phù hợp cho các DN nhỏ và vừa ở địa phương và nông dân; phát triển vườn ươm đổi mới sáng tạo nông nghiệp cho DN hoặc
tổ, nhóm nông dân địa phương Đổi mới công tác khuyến nông, tham gia với vai trò là tác nhân môi giới công nghệ
Bổn là, về động lực duy trì và phát triển.
Các bên tham gia CGT cần có ràng buộc
về pháp lý và động lực từ lợi ích để phát triển chuỗi; duy trì được mối quan hệ hài hòa lợi ích trên nguyên tắc “các bên cùng thắng” (win - win) thì chuồi mới có thể tồn tại và phát triển Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng vốn đối ứng để nâng cao vai trò của các tác nhân trong chuỗi, cần tuyên truyền
để người dân, DN hiểu được ý nghĩa của các chuồi liên kết, lợi ích các bên trong chuồi Việc xây dựng, lựa chọn mô hình cần có sự cân nhắc trên cơ sở những tính toán khoa học và phù hợp với thực tiễn ngành, nghề, tâm lý, văn hóa, tập quán người dân, bối cảnh Ngoài ra, cần phân tích đầy đủ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc lựa chọn phát triển các CGT
Năm là, yếu tổ vốn.
Vốn là yếu tố quan trọng để CGT tồn tại
và phát triển Cơ cấu vốn quyết định mô hình
và cách thức vận hành, vai trò, lợi ích của các tác nhân trong chuồi, vốn chính là tiền mặt, nhà xưởng, máy móc thiết bị, đất đai, giá trị các sáng chế, giải pháp hữu ích, đóng góp vào CGT Cơ cấu góp vốn và phân bổ vốn
sẽ quyết định mô hình hoạt động và tương tác cũng như các mối liên kết trong chuồi Một trong những nguyên nhân chính khiến nhiều CGT trên địa bàn tỉnh chưa thành công như mong đợi, một mặt, là do phần lớn CGT được phát triển thông qua hình thức HTX - nơi mà mồi thành viên thường có đóng góp rất nhỏ về vốn và sự ảnh hưởng tới quyết định sản xuất, kinh doanh trong chuỗi; mặt khác, vì lượng vốn góp nhỏ nên lợi nhuận
Trang 9Thực tiễn - Kinh nghiệm Tạp chí Cộng sản
thu về thấp, thành viên chưa nhiệt tình đóng
góp nhiều sức lực cho việc phát triển của
HTX cũng như CGT
Các CGT nếu có sự hồ trợ từ chính quyền,
từ ngân sách cần thực hiện vốn đối ứng có
tính chất nâng cao vai trò và trách nhiệm của
người dân, người thực hiện, vốn đối ứng
phải bằng tiền hoặc hiện vật được người dân
mua bằng tiền ở thời điểm tham gia dự án,
không dùng gia súc hiện có của hộ làm vốn
đối ứng Các nguồn vốn hồ trợ cần tránh tình
trạng phân bổ đồng đều trên đầu dự án mà
phải tính tới mức độ cần thiết của vốn đối với
từng dự án để có phương án phân bô vốn có
hiệu quả, giúp các CGT giải quyết được vấn
đề trọng yếu, cấp thiết Gắn các tổ chức đại
diện của nông dân tham gia CGT để giám sát
việc thực hiện việc sử dụng vốn (tổ hợp tác,
nhóm hộ, hợp tác xã)
Cơ chế cho vay vốn hoặc ưu đãi vay vốn
phát triển CGT cần được nghiên cứu kỳ
lường để người nông dân, HTX và DN có thể
tiếp cận được dề dàng Một thực tế cho thấy,
HTX rất khó vay vốn ngân hàng vì không
có tài sản thế chấp Đất đai và tài sản của
HTX không thể dùng để thế chấp vay vốn
ngân hàng vì nếu HTX không trả được nợ
thì ngân hàng cũng không thể thu hồi các tài
sản này Một số lãnh đạo HTX đã dùng “sổ
đỏ” của gia đình để vay vốn cho HTX, điều
này gây rủi ro rất lớn cho những người này
và gia đình của họ Bên cạnh đó, nhiều lãnh
đạo HTX muốn thực thi các chiến lược phát
triển sản xuất, kinh doanh cho HTX nhưng
do nhiệm kỳ lãnh đạo chỉ 5 năm nên cũng
không có nhiều động lực để họ cố gắng
Sáu là, yếu tổ sảng tạo và khoa học - công
nghệ trong phát triển.
Hội nhập kinh tế quốc tế tuy mang lại
nhiều cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu
cho nông sản của tỉnh Quảng Ngãi nói riêng,
Việt Nam nói chung nhưng cũng mang đến
không ít thách thức do khó đáp ứng quy tắc
nguồn gốc xuất xứ để bảo đảm quyền lợi được hưởng ưu đãi thuế quan Ngoài ra, hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm gia tăng cạnh tranh trong thị trường nội địa do hàng rào thuế dần được cắt giảm Áp lực cạnh tranh cũng sẽ làm một số mặt hàng nông sản trong các CGT của tỉnh không có thế mạnh có thể
bị thu hẹp sản xuất Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Ngãi còn là một địa phương chịu ảnh hưởng mạnh từ biến đổi khí hậu, thời tiết, do đó, những cách làm sáng tạo trong phát triển CGT nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ngãi là rất cần thiết để duy trì phát triển CGT cũng như nâng cao hiệu quả các chuỗi này về cả kinh
tế - xã hội và môi trường
Với đặc thù điều kiện khó khăn về khí hậu và thời tiết, việc áp dụng thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh CGT nông nghiệp là rất cần thiết để tạo ra bước phát triển vượt bậc của nông nghiệp tỉnh Quảng Ngãi, cần biến những khó khăn về điều kiện tự nhiên thành lợi thế phát triển khi đất đai, tài nguyên còn chưa bị khai thác cạn kiệt, đa phần còn ở dạng tiềm năng
Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ nông nghiệp, tập trung vào các khâu giống, quy trình sản xuất, chế biến, quản lý CGT Có chính sách đặc biệt ưu đãi cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao, xanh, sạch, hữu cơ Xây dựng, hoàn thiện và áp dụng hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật Tăng cường kiểm soát quản lý vùng trồng, vùng nuôi và vùng khai thác, đấy mạnh thực hiện đánh mã số vùng trồng Xây dựng hệ thống giám sát đánh giá vùng nuôi nhằm luôn bảo đảm các yêu cầu của thị trường, nhất là các tiêu chuấn ngày càng cao của các nước nhập khẩu Khoa học - công nghệ trong phát triển CGT nông nghiệp không chỉ
ở khâu sản xuất mà còn khâu tiêu thụ, quảng
bá và phát triển kênh phân phối □
82 Số 988 (tháng 4 năm 2022)