René Descartes từng viết rằng: “Je pense, donc je suis” (Tôi tư duy, nên tôi tồn tại), câu nói đã khẳng định vai trò của tư duy đối với sự tồn tại của con người. Con người từ chỗ là một loài động vật thích ứng với tự nhiên bằng bản năng tự nhiên đã phát triển trở thành sinh vật cao cấp nhất, được như vậy là do con người có thể nhận thức và cải tạo thế giới khách quan một cách có hiệu quả. Muốn nhận thức và cải tạo thế giới khách quan có hiệu quả, con người không thể dừng lại ở các quá trình cảm giác, tri giác mà phải chuyển qua một mức độ nhận thức cao hơn, đó là tư duy. Bởi vì, chỉ có tư duy trừu tượng mới giúp con người hiểu được các thuộc tính, các quan hệ bên trong, mới nắm được bản chất, quy luật phát triển của sự vật, hiện tượng.
Trang 1MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1
I NHẬN THỨC CHUNG VỀ TƯ DUY 1
1 Khái niệm tư duy 1
2 Các đặc điểm của tư duy 2
a Tính “có vấn đề” của tư duy 2
b Tính gián tiếp của tư duy 3
c Tính trừu tượng và khái quát hóa của tư duy 4
d Tư duy gắn liền với ngôn ngữ 5
e Tư duy liên hệ với hoạt động nhận thức cảm tính 6
II ỨNG DỤNG CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA TƯ DUY TRONG CUỘC SỐNG VÀ TRONG HỌC TẬP 6
KẾT LUẬN 9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
René Descartes từng viết rằng: “Je pense, donc je suis”1 (Tôi tư duy, nên tôi tồn tại), câu nói đã khẳng định vai trò của tư duy đối với sự tồn tại của con người Con người từ chỗ là một loài động vật thích ứng với tự nhiên bằng bản năng tự nhiên đã phát triển trở thành sinh vật cao cấp nhất, được như vậy là do con người có thể nhận thức và cải tạo thế giới khách quan một cách có hiệu quả Muốn nhận thức và cải tạo thế giới khách quan
có hiệu quả, con người không thể dừng lại ở các quá trình cảm giác, tri giác mà phải chuyển qua một mức độ nhận thức cao hơn, đó là tư duy Bởi
vì, chỉ có tư duy trừu tượng mới giúp con người hiểu được các thuộc tính, các quan hệ bên trong, mới nắm được bản chất, quy luật phát triển của sự
vật, hiện tượng Vì vậy, em đã chọn đề 8 “Tư duy: Khái niệm, đặc điểm
của tư duy và ứng dụng các đặc điểm của tư duy trong cuộc sống và trong học tập” để làm chủ đề chính cho bài tập lớn học kỳ của mình Do
kiến thức cùng sự hiểu biết còn hạn hẹp nên bài viết sẽ còn nhiều sai sót,
em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Khái niệm tư duy.
Bạn chuẩn bị tham gia một cuộc thi chạy mà cái đích bạn cần đến nằm
ở bờ hồ đối diện Có hai con đường để cho bạn đến đích, một là chạy men theo bờ hồ và một là chạy qua cây cầu bắc qua hồ chỉ bằng một thân cây Bạn sẽ phải lựa chọn một trong hai con đường đó Chạy men theo bờ hồ sẽ
1 René Descartes, Discours de la méthode, 1637.
Trang 3an toàn hơn nhưng thời gian sẽ lâu hơn, còn đi qua cầu có thể sẽ không mất nhiều thời gian nhưng bạn sẽ rất dễ rơi xuống hồ và cuộc thi với bạn
sẽ kết thúc Sự suy nghĩ để lựa chọn cách đến đích như vậy gọi là tư duy Vậy cụ thể tư duy là gì? Thực chất có nhiều quan điểm khác nhau về tư duy, song, theo quan điểm của môn Tâm lý học đại cương thì:
Tư duy là một quá trính nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật
và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết 2
Quá trình tư duy bao gồm nhiều giai đoạn, từ khi cá nhân gặp những tình huống có vấn đề và nhận thức được vấn đề, đến khi vấn đề đó được giải quyết Đó là các giai đoạn: xác định vấn đề và biểu đạt; xuất hiện các liên tưởng; sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết; kiểm tra giả thuyết; giải quyết nhiệm vụ tư duy
Tư duy phản ánh những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính chất quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan
2 Các đặc điểm của tư duy
Tư duy có các đặc điểm cơ bản: tính có vấn đề, tính gián tiếp, tính trừu tượng và tính khái quát hóa, tư duy gắn liền với ngôn ngữ, tư duy liên hệ với nhận thức cảm tính
a Tính “có vấn đề” của tư duy
Tư duy chỉ được nảy sinh trong tình huống “có vấn đề” Tình huống
“có vấn đề” là tình huống chưa có đáp số nhưng đáp số đã tiềm tàng bên trong, tình huống chứa điều kiện giúp ta tìm ra đáp số đó hay nói cách khác tình huống, hoàn cảnh này là một vấn đề mà những hiểu biết cũ, những phương pháp hoạt động cũ tuy còn cần thiết song không đủ sức giải
2 Giáo trình Tâm lý học đại cương, Đại học Luật Hà Nội, Đặng Thanh Nga chủ biên, Hà Nội, Công an nhân dân, 2007.
Trang 4quyết, muốn giải quyết vấn đề đó con người phải tim cách thức giải quyết mới, những biện pháp, công cụ trước đây không thể giải quyết vấn đề hiệu quả sẽ làm khởi nguồn cho các hoạt động tư duy của con người Con người sẽ không thể tư duy nếu như không có vấn đề nảy sinh trong cuộc sống
Ví dụ: Giả sử để giải một bài toán, trước hết học sinh phải nhận thức
được yêu cầu, nhiệm vụ của bài toán, sau đó nhớ lại các quy tắc, công thức, định lí có liên quan về mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm, phải chứng minh để giải được bài toán Khi đó tư duy xuất hiện
Tuy nhiên, không phải tình huống “có vấn đề” nào cũng kích thích được hoạt động tư duy Muốn kích thích quá trình tư duy phải thỏa mãn 3 điều kiện: tình huống có vấn đề phải được chủ thể nhận thức đầy đủ, có nhu cầu giải quyết, có tinh thần trách nhiệm và tri thức tri thức cần thiết liên quan đến vấn đề nghĩa là con người xác định được cái gì đã biết, đã cho và cái gì chưa biết, cần phải tìm và có nhu cầu tìm kiếm nó Vấn đề chỉ trở thành là tình huống “có vấn đề” khi chủ thể nhận thức được tình huống có vấn đề, nhận thức được mâu thuẫn chứa đựng trong vấn đề, chủ thể phải có nhu cầu giải quyết và phải có những tri thức liên quan đến vấn
đề Chỉ trên cơ sở đó tư duy mới xuất hiện
Ví dụ: Nếu đặt câu hỏi “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là gì?”
với học sinh lớp 5 thì sẽ không làm học sinh phải suy nghĩ, tư duy sẽ không xuất hiện
b Tính gián tiếp của tư duy.
Tư duy con người mang tính gián tiếp Điều đó thể hiện ở chỗ, trong quá trình tư duy, con người không thể trực tiếp tri giác nội dung mà phải
sử dụng các công cụ, phương tiện khác nhau để nhận thức sự vật, hiện tượng, thông qua sự vật, hiện tượng này để phản ánh sự vật, hiện tượng
Trang 5khác Sở dĩ có thể nhận thức được gián tiếp vì giữa các sự vật, hiện tượng
có mối liên hệ mang tính quy luật
Ví dụ: Muốn biết nhiệt độ của nước, chúng ta có thể dùng nhiệt kế để
đo nhiệt độ
Ngoài ra tính gián tiếp của tư duy còn thể hiện ở việc con người sử dụng ngôn ngữ để tư duy Đây là một loại phương tiện nhận thức đặc thù của con người Nhờ có ngôn ngữ mà con người sử dụng các kết quả nhận thức như các quy tắc, khái niệm, công thức, quy luật… và kinh nghiệm của bản thân vào quá trình tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát) để nhận thức được cái bên trong, bản chất của sự vật, hiện tượng
Ví dụ: Để giải một bài toán thì trước hết học sinh phải biết được yêu
cầu, nhiệm vụ của bài toán, nhớ lại các công thức, định lí…có liên quan để giải bài toán Ta thấy rõ rằng trong quá trình giải bài toán đó con người đã dùng ngôn ngữ mà thể hiện là các quy tắc, định lí… ngoài ra còn có cả kinh nghiệm của bản thân chủ thể thông qua nhiều lần giải toán trước đó Nhờ có tính gián tiếp của tư duy mà con người đã mở rộng không giới hạn khả năng nhận thức của con người, con người không chỉ phản ánh những gì diễn ra trong hiện tại mà còn phản ánh được cả quá khứ và tương lai
c Tính trừu tượng và khái quát hóa của tư duy.
Tư duy không chỉ hướng vào cái riêng mà còn hướng vào cái chung, cơ bản, mối liên hệ, quan hệ mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng Tư duy có khả năng trừu xuất khỏi sự vật, hiện tượng những thuộc tính, những dấu hiệu cá biệt, cụ thể, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất chung cho nhiều sự vật hiện tượng, trên cơ sở đó mà khái quát những sự vật hiện tượng riêng lẻ, nhưng có những thuộc tính chung thành một nhóm, một
Trang 6loại, một phạm trù Nói cách khác tư duy mang tính trừu tượng và khái quát
- Trừu tượng là dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính,
những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết cho tư duy
- Khái quát là dùng tri óc để hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau thành
một nhóm, một loại, một phạm trù theo những thuộc tính, liên hệ, quan
hệ chung nhất định
Tính trừu tượng và khái quát có mối liên hệ mật thiết với nhau nên không có trừu tượng thì không có cơ sở để tiến hành khái quát nhưng trừu tượng mà không khái quát thì con người không thể nhận thức được
sự vật, hiện tượng hiệu quả
Ví dụ: Nói về khái niệm “cái cốc”: Con người trừu xuất những thuộc
tính không quan trọng như chất liệu, màu sắc, kiểu dáng mà chỉ giữ lại những thuộc tính cần thiết như hình trụ, dùng để đựng nước uống Đó là
trừu tượng Khái quát gộp tất cả những đồ vật có những thuộc tính cơ bản
nói trên dù làm bằng nhôm, sứ, thủy tinh…có màu xanh hay vàng…tất cả điều xếp vào một nhóm “cái cốc”
d Tư duy gắn liền với ngôn ngữ.
Đây là một trong những đặc điểm khác biệt cơ bản giữa tâm lý người
và tâm lý động vật Tâm lý động vật bao giờ cũng dừng lại ở tư duy hành động trực quan, không có khả năng vượt ra khỏi phạm vi đó Chính do tư duy gắn chặt với ngôn ngữ đã làm cho tư duy con người mang tính gián tiếp, tính trừu tượng và khách quan
Mối liên hệ giữa tư duy và ngôn ngữ là mối liên hệ biện chứng.Tư duy không thể tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào khác ngoài ngôn ngữ Bất kỳ ý nghĩ, tư tưởng nào cũng đều nảy sinh, phát triển gắn liền với ngôn
Trang 7ngữ.Nếu không có ngôn ngữ, con người không thể có được tư duy, đồng thời các sản phẩm của tư duy cũng không được thể hiện ra để chủ thể và những người khác tiếp nhận Ngược lại, con người không tư duy thì ngôn ngữ không thể có nội dung, hoàn toàn vô nghĩa Do đó, ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng song song tồn tại, tuy nhiên, ngôn ngữ không phải là bộ phận của tư duy mà có một vai trò là phương tiện biểu đạt cho tư duy
Ví dụ: khi tiến hành lập trình PASCAL, người ta dùng ngôn ngữ để ghi
lại để có một chương trình lập trình hoàn chỉnh Nếu không có ngôn ngữ
để ghi lại thì cả chủ thể lẫn người học đều không thể tiếp nhận được trọn vẹn tri thức
e Tư duy liên hệ với hoạt động nhận thức cảm tính.
Tư duy bao giờ cũng liên hệ mật thiết với hoạt động nhận thức cảm tính, tức là cảm giác, tri giác, biểu tượng Hoạt động nhận thức cảm tính là cửa ngõ là kênh duy nhất, qua đó tư duy liên hệ với thế giới ngoài Tư duy thường bắt đầu từ nhận thức cảm tính, trên cơ sở nhận thức cảm tính mà nảy sinh tình huống “có vấn đề”
V
í dụ: Khi có một vụ tai nạn giao thông xảy ra mà ta thấy Thì trong
đầu ta sẽ đặt ra hàng loạt các câu hỏi như: Tại sao lại xảy ra tai nạn? Ai là người có lỗi ? Như vậy là từ những nhận thức cảm tính như: nhìn, nghe… Quá trình tư duy bắt đầu xuất hiện
Ngược lại, tư duy cũng ảnh hưởng đến nhận thức cảm tính, đó là làm cho khả năng cảm giác của con người tinh vi, nhạy cảm hơn và là cho tri giác của con người mang tính lựa chọn, tính ý nghĩa
SỐNG VÀ TRONG HỌC TẬP.
Trang 8Trong cuộc sống cũng như trong học tập, nếu không có tư duy thì bạn
sẽ mãi là kẻ không có bước tiến mới, những đột phá hay những cuộc dấn thân thú vị Tư duy cũng chính là cách để bạn khẳng định khả năng và vị thế của mình trong xã hội Tư duy là sự khác biệt, ưu thế tuyệt đối của loài người so với các sinh vật khác Do đó, bất kỳ ai sinh ra cũng có khả năng
tư duy, nhưng nếu không hành động thì khả năng đó sẽ mất dần theo thời gian Vì vậy, bạn đừng cứ ngồi ỳ chờ mọi việc sẽ tự được giải quyết hoặc
sẽ có người giải quyết giúp bạn mà hãy vận động trí óc của mình, hãy nghĩ làm thế nào để giải quyết công việc của bạn như thế nào nhanh nhất, đạt kết quả cao nhất Tư duy sẽ giúp chúng ta có thể làm được tất cả Trên cơ
sở các đặc điểm cơ bản của tư duy, ta có thể ứng dụng tư duy vào trong cuộc sống và trong học tập để đạt được kết quả mong muốn như sau:
Thứ nhất, phải đặt cá nhân vào tình huống “có vấn đề” để kích thích
tính tích cực của bản thân, độc lập sáng tạo khi giải quyết tình huống “có vấn đề” Như đã phân tích ở trên, không có tình huống nào trong cuộc sống mà không tiềm tàng những vấn đề, luôn luôn có những vấn đề cần chúng ta tư duy để giải đáp Chính vì vậy, ta phải luôn năng động, ham tìm hiểu khám phá những thứ mới mẻ, đưa mình vào những tình huống “có vấn đề” để có thể tư duy và khám phá ra nhiều kiến thức mới lạ, thú vị Còn trong học tập, tình huống “có vấn đề” có tác dụng thúc đẩy, là động lực cho tư duy, do đó để nâng cao khả năng học tập cho sinh viên, giảng viên phải thường xuyên đưa ra các câu hỏi phù hợp với bài học hoặc chính sinh viên cũng có thể tự đặt ra câu hỏi cho nhau rồi trả lời nhằm kích thích khả năng tư duy giúp nhớ bài và hiểu bài sâu sắc hơn Khi không ngừng học tập, trau dồi bản thân, sinh viên sẽ có cơ hội tiếp xúc thường xuyên với những vấn đề phức tạp, từ đó nâng cao kỹ năng giải quyết các vấn đề Muốn đạt kết quả cao, chúng ta phải liên tiếp làm nảy sinh tình huống có vấn đề và tích cực giải quyết chúng
Trang 9Thứ hai, phải tăng cường khả năng trừu tượng, khái quát Chỉ có tư
duy, con người mới phản ánh được những thuộc tính khách quan nhất của các sự vất, hiện tượng trong cuộc sống Nhờ có tư duy mà con người con ngừơi có thể giải quyết được những nhiệm vụ hiện tại và cả những nhiệm
vụ của tương lai, trong khi giải quyết vẫn có thể sắp xếp nó vào một nhóm, một loại, một phạm trù để có những quy tắc, những phương pháp giải quyết tương tự Trong quá trình học tập, để có thể hiểu bài sâu sắc thì một phương pháp hiệu quả, đó chính là so sánh, phân biệt và tìm ra mối quan
hệ giữa các phần, ở đây, chỉ có tư duy mới có khả năng giải quyết Nhờ vào đặc điểm trừu tượng và khái quát hóa, mà con người có thể tìm ra những thuộc tính bản chất chung của nhiều vấn đề riêng lẻ, từ đó khái quát lên thành quy luật Đây chính là phần kiến thức cốt lõi nhất mà sinh viên cần nắm trong mỗi bài học
Thứ ba, phải trau dồi vốn ngôn ngữ, vì ngôn ngữ là cái vỏ thể hiện của
tư duy và thông qua đó mới biểu đạt tư duy của bản thân cũng như lĩnh hội
tư duy của người khác Như vậy để rèn luyện khả năng tư duy nói riêng và khả năng nhận thức nói chung, chúng ta phải rèn luyện ngôn ngữ trong sáng, khúc chiết vì nó là công cụ, là phương tiện của tư duy Ngược lại, ngôn ngữ muốn trong sáng, khúc chiết thì tư duy phải rõ ràng, minh bạch, vì ngôn ngữ biểu đạt kết quả của tư duy
Thứ tư, phải thường xuyên quan sát tìm hiểu thực tế, rèn luyện cảm
giác, tính nhạy cảm, năng lực trí nhớ, nhằm nâng cao nhận thức cảm tính
để sau đó rút ra nhận thức một cách lý tính, có khoa học Chúng ta không thể tư duy nếu thiếu đi cảm giác và tri giác Dựa vào nhận thức cảm tính, bắt đầu từ những thuộc tính riêng lẻ, cơ bản của sự vật, hiện tượng là cơ sở cung cấp tài liệu cho tư duy Phải thông qua các giác quan của mình, con người mới có thể phản ánh một cách trực tiếp thế giới khách quan, từ đó mới có được nguồn nguyên liệu cho hoạt động nhận thức lý tính, trong đó
Trang 10có tư duy.Tư duy muốn đạt hiệu quả cao phải dựa trên kinh nghiệm đã có trên cơ sở trực quan sinh động Trong học tập, đối với sinh viên, muốn tư duy, muốn hiểu bài mới thì cần phải có cơ sở ban đầu, phải nắm vững kiến thức cũ Do đó, việc học bài cũ và đọc trước bài mới là việc làm cần thiết nếu không muốn nói là bắt buộc Vì việc học tập là một quá trình, các phần kiến thức có mối quan hệ với nhau, bổ trợ cho nhau chứ không hoàn toàn riêng rẽ, do đó, kiến thức của bài cũ chính là phần nguyên liệu của nhận thức cảm tính dành cho tư duy trong việc tiếp nhận kiến thức của phần bài mới
KẾT LUẬN
Như vậy, qua phần phân tích trên, ta có thể thấy rõ được tầm quan trọng của sự tư duy trong cuộc sống và trong học tập Để phát triển tư duy không còn con đường nào khác là thường xuyên tham gia vào các hoạt động nhận thức và thực tiễn Qua đó tư duy của con người sẽ không ngừng được nâng cao Bên cạnh đó, có những sai sót trong tư duy mà chúng ta cần tránh như: những sai sót thuộc về kết quả tư duy (phán đoán, suy lý không chính xác, sự hiểu biết về khái niệm không đầy đủ) hoặc về hình thức thao tác của tư duy (không biết tư duy trừu tượng, sai sót trong phân tích, tổng hợp vấn đề, thiếu mềm dẻo,…)