CÔNG NGHIỆP HỔ TRỢ NGÀNH cơ KHÍ/ Mechanical supporting industriesNHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC TRONG BỐI CẢNH MỚI VÀ ĐỂ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Hỗ TRỢ VIỆT NAM NGUYỄN Đ
Trang 1CÔNG NGHIỆP HỔ TRỢ NGÀNH cơ KHÍ/ Mechanical supporting industries
NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC TRONG BỐI CẢNH MỚI VÀ ĐỂ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Hỗ TRỢ VIỆT NAM
NGUYỄN ĐÌNH HẢI
Phó Chủ tịch VAMI
Phát triển công nghiệp hỗ trợ có ý nghĩa quan trọng quyết định đến
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
nâng cao năng suất lao động, giá trị gia
tăng, sức cạnh tranh của sản phẩm các
ngành công nghiệp và được xem là một
trong những chính sách ưu tiên hàng đầu
của Việt Nam nhằm đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Các chính sách tạo động lực cho phát
triển công nghiệp hỗ trợ:
Ngành công nghiệp hỗ trợ được định
nghĩa tại Nghị định số 111/2015/NĐ CP
ngày 03 tháng 11 năm 2015 của Chính
Phủ, là “các ngành công nghiệp sản xuất
nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng
để cung cấp cho sản xuất sản phẩm hoàn
chỉnh” Nghị định cũng nêu rõ các vấn đề
như khái niệm dự án sản xuất công nghiệp
hỗ trợ; Danh mục sản phẩm ưu tiên phát
triển; Các nội dung hoạt động; Chương
trình và các chính sách hỗ trợ, ưu đãi;
Phương án tổ chức thực hiện
Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày
18/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt chương trình phát triển công nghiệp
hỗ trự từ năm 2016 đến năm 2025 đã nêu
rõ: Mục tiêu của chương trình, đối tượng
của chương trình, nội dung chương trình
và phân công tổ chức thực hiện
Theo đó, giai đoạn 2016 - 2020 triển khai
kết nối tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
công nghiệp hỗ trợ trở thành nhà cung ứng
cho khách hàng trong và ngoài nước, hỗ trợ
doanh nghiệp từng bước sở hữu hệ thống
quản trị tiên tiến thích ứng, công tác quản
lý, nghiên cứu phát triển đáp ứng yêu cầu
của các chuỗi sản xuất toàn cầu v.v, thu hút
đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp
hỗ trợ Giai đoạn 2021 - 2025, tiếp tục thực
hiện các nhiệm vụ của giai đoạn 2016 -
2020 trên cơ sở rà soát và đánh giá kết quả
thực hiện Mục tiêu của chương trình là đến
năm 2020, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ đáp ứng khoảng 45% nhu cầu sản xuất nội địa; đến năm 2025, đáp ứng được 65% nhu cầu sản xuất nội địa
Ngày 06/8/2020, Chính phủ ban hành nghị quyết số 115/NQ-CP về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ Theo đó mục tiêu đến năm 2025, doanh nghiệp Việt Nam có khả năng sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ có tính cạnh tranh cao và sẽ thành lập 5 trung tâm hỗ trợ kỹ thuật trên toàn quốc để cung cấp các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ Trong đó, 3 trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp trong lĩnh vực cơ khí, điện tử và 2 trung tâm nghiên cứu, phát triển công nghiệp lĩnh vực dệt may, da giày nhằm hỗ trợ đổi mới sáng tạo, sản phẩm thử nghiệm, kiểm định chất lượng sản phẩm cho các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ
Doanh nghiệp có nhà máy sản xuất sản phẩm CNHT có tính cạnh tranh cao.
Đồng thời, Chính phủ đã có nhiều chính sách khuyến khích ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển, đặc biệt Nghị định 57/2021/ND-CP ngày 04/6/2021 đã sửa đổi, bổ sung một số điều khoản trong Nghị định và quyết định trước đó về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với
dự án sàn xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.v.v Ngoài ra các Bộ, Ngành đã phối hợp đẩy mạnh triển khai nhiều chương trình, dự án hợp tác quốc tế trong lĩnh
16 Tạp chí DOANH NGHIỆP cơ KHÍ & ĐỜI SỐNG 03/2022
Trang 2CÔNG NGHIỆP Hỏ TRỢ NGÀNH cơ KHÍ/ Mechanical supporting industries
vực công nghiệp hỗ trợ để mở rộng thị
trường và nâng cao trình độ các doanh
nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam Cụ thể
như dự án hợp tác với Samsung trong
chương trình phát triển nhà cung cấp;
Chương trình đào tạo chuyên gia tư vấn
Việt Nam trong lĩnh vực cải tiến sản xuất và
chất lượng; Chương trình tư vấn cải tiến
doanh nghiệp; Khai trương hệ thống cơ sở
dữ liệu các ngành công nghiệp chế biến,
chế tạo và công nghiệp hỗ trợ Việt Nam v.v
Hiện trạng công nghiệp hỗ trợ Việt nam:
Từ việc triển khai đồng bộ các giải
pháp hỗ trợ của chính phủ đã thúc đẩy
doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt
Nam có sự phát triển cả về số lượng và
chất lượng, năng lực sản xuất được cải
thiện và từng bước tham gia vào chuỗi
cung ứng toàn cầu
Theo số liệu thống kê, tính đến hết năm
2020 cả nước có khoảng 4.840 doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công
nghiệp hỗ trợ, cung cấp nguyên vật liệu,
phụ tùng, linh kiện cho các doanh nghiệp
sản xuất sản phẩm cuối cùng trong các
ngành ô tô, điện tử, cơ khí, dệt may, da
giày.v.v, chiếm 4,5% tổng số doanh nghiệp
ngành công nghiệp chế biến chế tạo, tạo
việc làm cho hơn 600 nghìn lao động,
chiếm 8% lao động toàn ngành chế biến
chế tạo Doanh thu sản xuất, kinh doanh
đạt hơn 900 nghìn tỷ đồng, đóng góp gần
11% tổng doanh thu toàn ngành chế biến
chế tạo Tỷ lệ nội địa hóa của một số
ngành công nghiệp tại Việt Nam đã được
cải thiện Cơ cấu sản phẩm có sự dịch
chuyển tích cực khi tỷ trọng sản phẩm
công nghệ cao và vừa của Việt Nam cũng
tăng đáng kể, tạo cơ sở hình thành một số
doanh nghiệp có quy mô lớn, có khả năng
cạnh tranh trên thị trường quốc tế Sản
phẩm chế biến, chế tạo trong tổng giá trị
xuất khẩu tăng từ 65% năm 2016 lên 85%
năm 2020; Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản
phẩm công nghệ cao tăng từ 44,3% năm
2016 lên 49,8% năm 2020
Tuy nhiên, ngành công nghiệp hỗ trợ
Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn bắt đầu, vẫn
còn nhiều vấn đề hạn chế, nếu không muốn
nói là yếu kém, chưa đáp ứng được yêu
cầu của ngành công nghiệp chế biến, chế
tạo (trong đó có ngành công nghiệp cơ khí)
Số lượng doanh nghiệp chuyên về công
Được hường nhiều ưu đãi vè thuế đối vói dự án công sản xuất sàn phẩm CNHT.
nghiệp hỗ trợ còn ít, trình độ ở mức khiêm tốn, thậm chí còn thấp và lạc hậu so với khu vực và nhiều quốc gia trên thế giới Trình độ sản xuất và công nghệ của các doanh nghiệp đã từng bước được cải thiện, nhưng các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trong nước chủ yếu vẫn là linh kiện và chi tiết đơn giản, hàm lượng công nghệ trung bình
và thấp, có giá trị nhỏ trong cơ cấu giá trị sản phẩm Các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ có hàm lượng công nghệ cao vẫn chủ yếu do các doanh nghiệp FDI cung cấp Khoảng cách giữa yêu cầu của các tập đoàn đa quốc gia
và năng lực đáp ứng của các doanh nghiệp nội địa còn rất lớn Bên cạnh đó, sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài còn lỏng lẻo, sản phẩm công nghiệp
hỗ trợ chưa phong phú về chủng loại, kiểu dáng và mẫu
mã, chất lượng sản phẩm còn thấp, giá thành cao v.v Đây chính là trờ lực lớn cho sự phát triển ổn định, bền vững của các ngành công nghiệp trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế
Hiện nay, một số ngành công nghiệp có thế mạnh của Việt Nam như điện tử, dệt may, da giày, lắp ráp ô tô, xe máy hầu như rất thiếu và chưa có công nghiệp hỗ trợ
đi kèm, nên phải phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, khiến sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh nội địa nhiều khi còn manh mún, bị động, chi phí giá thành cao số liệu thống kê gần đây cho thấy, khoảng 80% giá trị kim ngạch nhập khẩu của Viêt Nam dành cho nguyên liệu đầu vào, thiết bị và máy móc phục vụ sản xuất trong nước Đăc biệt, ngành cơ khí chế tạo là nền tảng, xương sống cho một nền công nghiệp phát triển cũng chưa có
sự chuyển biến tích cực như mục tiêu mong muốn đề ra, nếu không muốn nói là đã quá tụt hậu so với sự phát triển chung của thế giới Nguyên vật liệu đầu vào chủ yếu là nhập khẩu từ nước ngoài nên giá thành không
ổn định và rất rủi ro khi có những biến động về kinh tế chính trị trên thế giới Các công nghệ tạo phôi, nhiệt
Tạp chi DOANH NGHIỆP cơ KHÍ & ĐỜI SỐNG 03/2022 17
Trang 3CÔNG NGHIẸP HỎ TRỢ NGÀNH cơ KHÍ/ Mechanical supporting industries
luyện, gia công kim loại cung cấp đầu vào
cho ngành cơ khí đều đã lạc hậu, bởi thiết
bị máy móc phần lớn là vạn năng, qua
nhiều năm sử dụng đã lạc hậu về tính
năng kỹ thuật, độ chính xác kém, thiếu
phụ tùng thay thế, thiếu kinh phí để đầu tư
đổi mới, nâng cấp, sản phẩm tạo ra chưa
đáp ứng được yêu cầu phát triển của thị
trường Điều này dẫn tới giá trị gia tăng
thấp, năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp cơ khí bị hạn chế
Những khó khăn thách thức trong bối
cảnh mới:
Mặc dù sự phát triển của công nghiệp
hỗ trợ thời gian qua đã đạt được một số
thành tựu đáng khích lệ, song trong bối
cảnh hội nhập và kinh tế toàn cầu đang
gặp nhiều thách thức do đại dịch COVID-
19 đã và đang khiến tất cả các ngành kinh
tế, trong đó có các ngành công nghiệp của
Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn Như
vậy, để đạt được các nội dung của Nghị
quyết 115/NQ-CP, theo nhận định cho đến
thời điểm hiện nay, đây vẫn được coi là
mục tiêu có nhiều thách thức lớn đối với
ngành công nghiệp hỗ trợ nội địa
Theo nội dung báo cáo việc thực hiện
các Nghị quyết của Quốc hội về giám sát
chuyên đề nhiệm kỳ XIV lĩnh vực công
thương cho thấy, năng lực tự cung ứng
các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trong
nước còn nhiều bất cập Tỷ lệ nội địa hóa
của nhiều ngành công nghiệp trong nước
còn thấp, thậm chí với ngành điện tử tin
học, viễn thông, điện tử chuyên dụng và
các ngành công nghiệp công nghệ cao,
ngành công nghiệp cơ khí còn thấp hơn
nhiều, cụ thể lần lượt là 15% và 5% Bộ
Công thương cho biết, thực tế các sản
phẩm công nghiệp hỗ trợ trong nước chủ
yếu vẫn là linh kiện và chi tiết đơn giản,
với hàm lượng công nghệ trung bình và
thấp, có giá trị nhỏ trong cơ cấu giá trị sản
phẩm và gần như không có sản phẩm cho
công nghiệp chủ lực, đủ khả năng cạnh
tranh với sản phẩm nhập khẩu và thiếu sự
chủ động về các vật liệu cơ bản Việt Nam
chưa có các doanh nghiệp đứng đầu
chuỗi sản xuất tầm cỡ khu vực và quốc tế
đóng vai trò dẫn dắt phát triển và lan tỏa
trong ngành công nghiệp
Mặc khác, các doanh nghiệp công
nghiệp hỗ trợ Việt Nam chủ yếu là qui mô
nhỏ và siêu nhỏ, nên đa số có trình độ công nghệ, quản
lý thấp, nguồn nhân lực hạn chế v.v Bên cạnh đó sự thiếu liên kết giữa các doanh nghiệp cũng đang kìm hãm
sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ Ngoài ra, do phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện máy móc đầu vào nhập khẩu, nên khi dịch bệnh COVID-19 bùng phát trên phạm vi toàn cầu , các ngành công nghiệp đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc đảm bảo các các yếu tố đầu vào để duy trì sản xuất
Đề xuất ỷ kiến về giải pháp phát triển công nghiệp
hỗ trợ trong thời gian tới:
Thứ nhất: cần tổng rà soát, đánh giá lại thực tế về
hiệu quả đầu tư và sự phát triển các các ngành công nghiệp, trong đó có ngành công nghiệp hỗ trợ, đặc biệt
là khả năng cung ứng đầu vào cho các ngành công nghiệp chủ lực, trong đó có công nghiệp cơ khí Từ đó, hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ trong tình hình mới, điều chỉnh, sửa đổi những qui định còn vướng mắc trong quá trình áp dụng thực tiễn
Thứ hai: Xây dựng chiến lược và các giải pháp đồng
bộ, sử dụng các hàng rào kỹ thuật để bảo vệ hợp lý thị trường nội địa phù hợp với các cam kết và thông lệ quốc
tế để tạo đà cho doanh nghiệp các ngành công nghiệp nội địa từng bước ổn định phát triển, đặc biệt là công nghiệp hỗ trợ, từ đó các doanh nghiệp yên tâm hoạch định chiến lược dài hạn và đầu tư chiều sâu một cách bài bản, nâng cao khả năng nội địa hóa và mở rộng thị trường quốc tế
Thứ ba: Tiếp tục thực hiện chính sách ưu đãi về thuế,
lãi suất đối với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chế biến chế tạo Đồng thời khuyến khích các địa phương xây dựng chính sách, chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ riêng, đầu tư nguồn lực trên địa bàn
Thứ tư: Xây dựng, vận hành có hiệu quả các trung
tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ, trên cơ
sở nhu cầu, mục tiêu phát triển và nguồn lực sẵn có nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chế biến chế tạo, ưu tiên phát triển đồi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sàn phẩm và năng lực cạnh tranh để nhanh chóng đáp ứng nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế trong nước và tạo cơ hội tham gia sâu vào chuỗi sản xuất toàn cầu
Thứ năm: Tăng cường công tác thông tin, truyền
thông để cộng đồng doanh nghiệp, các trường đào tạo, viện nghiên cứu v.v, nắm bắt được chiến lược, qui hoạch tổng thể, định hướng phát triển các ngành công nghiệp
và công nghiệp hỗ trợ để từng doanh nghiệp, đơn vị chủ động hoạch định chiến lược, phương án đầu tư dài hạn, phát triển kinh doanh đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa, từng bước tham gia sâu, rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu ự
18 Tạp chí DOANH NGHIỆP cơ KHÍ & ĐỜI SỐNG 03/2022
Trang 4CÔNG NGHIỆP Hõ TRỢ NGÀNH cơ KHÍ/ Mechanical supporting industries
SOLUTIONS FOR DEVELOPMENT OF SUPPORTING
INDUSTRIES IN VIETNAM AMID DIFFICULTIES
AND CHALLENGES IN THE NEW CONTEXT
♦NGUYEN DINH HAIVAMI’s Vice Chairman
The development of supporting industries plays an important and
decisive role in economic restructuring,
improving labor productivity, added value,
and competitiveness of industrial
products and is considered as one of
Vietnam’s top priority policies to
accelerate the process of the national
industrialization and modernization
Policies to create impetus for the
development of supporting industries:
Supporting industries are defined in
Decree No 111/2015/ND-CP dated
November 3, 2015 of the Government as
“industries that produce raw materials,
materials, components and spare parts to
supply for the production of finished
products” The Decree also clarifies issues
such as the concept of supporting industry
production projects; List of products
prioritized for development; the content of
activities; Programs and support policies
and incentives; Implementation plan
Decision No 68/QD-TTg dated January
18, 2017 of the Prime Minister approving
the supporting industry development
program from 2016 to 2025 clearly stated:
Objectives of the program, objects of the
program, program content and assignment
of implementation organization
Accordingly, in the 2016-2020 period, to
connect and support supporting industry
enterprises to become product suppliers
of domestic and foreign customers; to
support enterprises to gradually own an
advanced management system, research
and development to meet the requirements
of global production chains, etc., to
promote and attract foreign investment in
supporting industries The tasks set for
2016-2020 period will be further performed
in the 2021 -2025 period on the basis of
review and evaluation of implementation results The target of the program is that by 2020, supporting industry products will meet about 45% of domestic production demand; by 2025, to meet 65% of domestic production demand
On August 6, 2020, the Government issued Resolution No 115/NQ-CP on solutions to promote the development of supporting industries Accordingly, by
2025, Vietnamese enterprises will have the ability to produce highly competitive supporting industrial products and will establish 5 technical support centers across the country to provide solutions to promote the development of supporting industries In which, 3 technical support centers for supporting industrial development in the fields of mechanical engineering and electronics and 2 technical centers for research and development in the fields of textiles, leather and footwear to support innovation, products testing and verifying product quality for supporting industry enterprises
At the same time, the Government has had many policies to encourage the development of supporting industries, especially Decree 57/2021/ND-CP dated June 4, 2021, on amending and supplementing a number
Tạp chí DOANH NGHIỆP cơ KHÍ & ĐỜI SỐNG 03/2022 19
Trang 5CÔNG NGHIỆP Hỏ TRỢ NGÀNH cơ KHÍ/ Mechanical supporting industries
parts, lack of funds to invest in innovation
and upgrading, therefore the products have
not met the development requirements
of the market This leads to low added
value and limited competitiveness of the
mechanical enterprises
Difficulties and challenges in the new
context:
Although the development of the
supporting industries have achieved some
encouraging achievements over the past
time, in the context of global economic
integration and challenges due to the
COVID-19 pandemic, all economic sectors,
including the industries of Vietnam, have
faced many difficulties Thus, to achieve
the contents of Resolution 115/NQ-CP is
still considered a goal with many great
challenges for the domestic supporting
industries
According to the report on the
implementation of the National Assembly’s
resolutions on thematic supervision for
the XIV term in the field of industry and
trade, the domestic self-supplying capacity
of supporting industry products is still
inadequate The localization rate of many
domestic industries is still low, even for the
information technology, telecommunications,
specialized electronics and high-tech
industries, the mechanical industry is much
lower, 15% and 5%, respectively According
to the Ministry of Industry and Trade,
domestic supporting industry products are
still mainly simple parts and components,
with medium and low technology content,
of small value in the product value structure
and there are almost no products for key
industries, which are able to compete with
imported products and lack of initiative in
basic materials Vietnam does not yet
have leading enterprises in the regional
and international production chains that
play a leading role in the development of
the industry
On the other hand, the Vietnamese
supporting industry enterprises are mainly
small and micro-scale, so most of them have
low level of technology and management,
limited human resources, etc Besides,
the lack of links between businesses is
also hindering the development of
supporting industries In addition, due to the great dependence on the supply of imported input materials and machinery components, when the COVID-19 pandemic broke out on a global scale, the industries encountered a lot of problems in securing the inputs to maintain production
Proposals and solutions for development of supporting industries in the years to come:
Firstly, it is necessary to review and re-evaluate the
investment efficiency and the development of industries, including supporting industries, especially the ability to supply inputs to key industries, such as the mechanical engineering industry Then, perfecting the policies for supporting industry development in the new situation, adjusting and amending regulations that are still entangled in the process of practical application
Secondly: To develop strategies and synchronous
solutions, use technical barriers to reasonably protect the domestic market in line with international commitments and practices to create momentum for domestic industrial enterprises to gradually and stably develop, especially the supporting industries, enabling them to plan long-term strategies and make in-depth investment methodically, improve the localization ability and international market expansion
Thirdly: to continue to implement preferential policies
on tax and interest rates for enterprises in supporting industries and processing and manufacturing industries
At the same time, localities are encouraged to develop their own policies and programs for the development of supporting industries, and to invest resources in the locality
Fourthly Build and effectively operate technical centers
to support the development of supporting industries, on the basis of needs, development goals and available resources to support supporting industry and manufacturing enterprises, prioritizing the development
of innovation, research and development, technology transfer, improving productivity, product quality and competitiveness to quickly meet development needs of domestic economic sectors and create opportunities to participate deeply in the global production chain
Fifthly: To strengthen information and communication
work for the business community, training schools, research institutes etc., to grasp strategies, master plans, development orientations of industries and supporting industries for the enterprises to actively plan strategies and long-term investment plans, develop business to meet the needs of the domestic market, gradually participate deeply and widely in the global supply chain, ự
Tạp chi DOANH NGHIẸP cơ KHÍ & ĐỜI SỐNG 03/2022 21